THÔNG BÁO

  THỜI GIAN GẦN ĐÂY MỘT SỐ BẠN LỢI DỤNG  WEBSITE NÀY ĐỂ ĐƯA RA NHỮNG PHÁT NGÔN KHÔNG TỐT. CHO NÊN CHÚNG TÔI TẠM THỜI ĐÓNG WEBSITE LẠI ĐỂ NÂNG CẤP NHẰM HẠN CHẾ MỘT SỐ HÀNH VI KHÔNG TỐT LÀM ẢNH HƯỞNG ĐẾN DIỄN ĐÀN .CÁC BẠN CÓ THẮC MẮC XIN LIÊN HỆ : phanthanhhung90@gmail.com
Chương 1. KHÁI QUÁT VỀ TÁC PHẨM VĂN HỌC
I.KHÁI NIỆM CHUNG
Tác phẩm văn học là công tŕnh nghệ thuật ngôn từ do một cá nhân hoặc một tập thể sáng tạo nhằm thể hiện những khái quát về cuộc sống, con người; biểu hiện tâm tư, t́nh cảm, thái độ ...của chủ thể trước thực tại bằng h́nh tượng nghệ thuật Tác phẩm văn học có thể tồn tại dưới h́nh thức truyền miệng (văn học dân gian, folklore văn học) hay dưới h́nh thức văn bản nghệ thuật được giữ ǵn qua văn tự (văn học viết, văn học bác học), có thể được viết bằng văn vần hay văn xuôi. Xét về dung lượng, tác phẩm văn học có thể rất đồ sộ như Chiến tranh và ḥa b́nh của L. Tônxtôi, Sông Đông êm đềm của Sôlôkhốp, Những người khốn khổ của V. Hugo hoặc cũng có thể chỉ là một bài thơ ngắn vài ba câu... Tác phẩm văn học bao giờ cũng là h́nh ảnh chủ quan của thế giới khách quan”
II. TÁC PHẨM VĂN HỌC LÀ CHỈNH THỂ CƠ BẢN NHẤT ĐỜI SỐNG VĂN HỌC.
1. Tầm quan trọng của tác phẩm trong đời sống văn học.
Đời sống văn học bao gồm nhiều chỉnh thể: tác phẩm, tác giả, trào lưu, nền văn học của một dân tộc. Trong những chỉnh thể đó, tác phẩm văn học là đơn vị cơ bản, trực tiếp của người sáng tác, nghiên cứu, phê b́nh, thưởng thức. Chính v́ vậy, có thể nói tác phẩm văn học có một tầm quan trọng đặc biệt trong đời sống văn học. Tầm quan trọng đó c̣n được biểu hiện trên các phương diện của việc nghiên cứu văn học Mọi bộ môn của khoa nghiên cứu văn học đều xuất phát từ sự t́m hiểu, phân tích, nghiên cứu tác phẩm. Từ sự phân tích tác phẩm, lịch sử văn học mới có thể đánh giá thành quả của từng tác giả, dựng lại chân thật bộ mặt văn học của một thời ḱ lịch sử, khái quát những qui luật phát triển của văn học dân tộc, khu vực... Phê b́nh văn học cũng luôn tiếp xúc trực tiếp với những tác phẩm cụ thể nhằm kịp thời khẳng định, biểu dương những t́m ṭi, khám phá, sáng tạo, ngăn chặn những biểu hiện lệch lạc về cả hai phương diện nội dung tư tưởng và h́nh thức nghệ thuật. Trên cơ sở nghiên cứu tác phẩm, lí luận văn học mới có thể khái quát một cách chính xác các vấn đề đặc trưng, bản chất, qui luật phát triển của văn học. Việc giảng dạy văn học, nhất là giảng văn, đ̣i hỏi thầy tṛ phải tiếp xúc trực tiếp với tác phẩm. Những nguyên tắc và phương pháp phân tích do lí luận đề xuất chỉ mới là chỗ dựa cần thiết cho việc giảng dạy chứ không thể thay thế cho việc t́m hiểu trực tiếp tác phẩm được. Như vậy, mọi vấn đề của văn học đều tập trung trước hết ở tác phẩm. Có thể coi tác phẩm như một chỉnh thể trung tâm của hoạt động văn học. Tính chỉnh thể của tác phẩm văn học được xem xét chủ yếu trong mối quan hệ giữa nội dung và h́nh thức.
2. Nội dung và h́nh thức của tác phẩm văn học.
2.1. Nội dung của tác phẩm nghệ thuật.
Khái niệm nội dung có cơ sở vững chắc từ mối quan hệ mật thiết giữa văn học và hiện thực, nó bao hàm cả nhân tố khách quan của đời sống và nhân tố chủ quan của nhà văn, nó vừa là cuộc sống được ư thức, vừa là sự đánh giá- cảm xúc đối với cuộc sống đó. V́ vậy, người ta thường nói đến hai cấp độ của nội dung tác phẩm. Cấp độ thứ nhất là nội dung cụ thể (nội dung trực tiếp). Khái niệm này nhằm chỉ dung lượng trực cảm của tác phẩm. Đó là sự thể hiện một cách sinh động và khách quan một phạm vi hiện thực cụ thể của đời sống với sự diễn biến của các sự kiện, sự thể hiện các h́nh ảnh, h́nh tượng, sự hoạt động và quan hệ giữa các nhân vật, suy nghĩ và cảm xúc của các nhân vật...Xuyên qua nội dung cụ thể của tác phẩm, ở một cấp độ cao hơn, sâu hơn là nội dung tư tưởng (nội dung khái quát). Đó chính là sự khái quát những ǵ đă tŕnh bày trong nội dung cụ thể thành những vấn đề của đời sống và giải quyết những vấn đề ấy theo một khuynh hướng tư tưởng nhất định. Như vậy, có thể nói nội dung của tác phẩm là toàn bộ những hiện tượng thẩm mĩ độc đáo được phản ánh bằng h́nh tượng thông qua sự lựa chọn, đánh giá chủ quan của người nghệ sĩ, tức là tiếng nói riêng của nhà văn bao gồm những cảm xúc, tâm trạng, lí tưởng, khát vọng của tác giả về hiện thực dó. Khi nói đến nội dung của tác phẩm, Secnưxepki không chỉ nhấn mạnh việc "tái hiện các hiện tượng hiện thực mà con người quan tâm" mà c̣n nhấn mạnh đến việc "giải thích cuộc sống", "đề xuất sự phán xét đối với các hiện tượng được miêu tả". Ông viết: "Thể hiện sự phán xét đó trong tác phẩm là một ư nghĩa mới của tác phẩm nghệ thuật, nhờ đó nghệ thuật đứng vào hàng các hoạt động tư tưởng, đạo đức của con người". Có thể mượn những câu thơ mở đầu Truyện Kiều của Nguyễn Du để nói về nội dung tác phẩm văn học :
Trăm năm trong cơi người ta
Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau
Trải qua một cuộc bể dâu .
Những điều trông thấy mà đau đớn ḷng.
Chu Mạnh Trinh khi nhận xét về Truyện Kiều cũng cho rằng: "Nếu không phải có con mắt trông thấu cả sáu cơi, tấm ḷng nghĩ suốt cả ngh́n đời th́ tài nào có cái bút lực ấy". Có thể coi con mắt trông thấy cả sáu cơi, tấm ḷng nghĩ suốt cả ngh́n đời chính là vấn đề của nội dung th́ có thể coi cái bút lực ấy lại là một trong những vấn đề thuộc về h́nh thức tác phẩm.
2.2.2. H́nh thức của tác phẩm nghệ thuật
Là một hệ thống các phương tiện và phương thức thể hiện nội dung. Nó được hợp thành bởi nhiều yếu tố: nghệ thuật sử dụng các chất liệu, phương tiện nghệ thuật, các qui định của loại thể, những biện pháp kết cấu, cách xây dựng nhân vật, thể hiện h́nh tượng...Tất cả đều nhằm mục đích biểu hiện trực tiếp và sinh động nội dung của tác phẩm, tạo thành một dạng tồn tại nhất định của nội dung ấy, qua đó xây dựng tác phẩm thành một chỉnh thể nghệ thuật thống nhất. Biêlinxki cho rằng: Dù một bài thơ có chứa chất những tư tưởng đẹp đến mấy đi nữa... nhưng nếu trong nó không có tính thơ th́ nó cũng chỉ là một dụng ư đẹp đă được thực hiện tồi. Rêpin cũng nói: Ư tưởng anh đẹp đẽ như vậy nhưng anh vẽ tồi th́ anh chỉ làm cho người ta ghê sợ và coi rẽ ư tưởng của anh mà thôi. Như vậy, h́nh thức là một yếu tố rất quan trọng của tác phẩm nghệ thuật. Ông Phạm văn Đồng nhấn mạnh tầm quan trọng của h́nh thức nghệ thuật : Giá trị h́nh thức rất quan trọng. Bởi v́ không có giá trị nghệ thuật th́ không thể có tác phẩm nghệ thuật được ! Nó là con số không ! Chúng ta đều phải hiểu như vậy...Tư tưởng, nội dung tư tưởng phải đúng và nói về mặt yêu cầu th́ nó phải một trăm phần trăm nhưng giá trị nghệ thuật cũng cần thiết, đ̣i hỏi cũng phải trăm phần trăm chứ không phải là năm mươi và năm mươi cộng lại. Bởi v́ một tác phẩm không có giá trị nghệ thuật là không có nghĩa ǵ hết. Nó không phải là một sản phẩm. Cũng như có thể có những đồng chí có tư tưởng tốt lắm, nghĩa là như Lênin nói, khi chết có thể lên thiên đường, nhưng không làm được việc ! Chính những tác phẩm đúng về tư tưởng nhưng không có giá trị nghệ thuật cũng giống như những con người ấy
2.2.3. Mối quan hệ giữa nội dung và h́nh thức
Nội dung và h́nh thức vốn là một phạm trù triết học có liên quan đến mọi hiện tượng trong đời sống. H́nh thức tất yếu phải là h́nh thức của một nội dung nhất định và nội dung bao giờ cũng là nội dung được thể hiện qua một h́nh thức. Không thể có cái này mà không có cái kia hoặc ngược lại. Tác phẩm nghệ thuật là một hiện tượng xă hội, cho nên trong những tác phẩm nghệ thuật có giá trị, nội dung và h́nh thức luôn luôn thống nhất khắng khít với nhau. Nói về một tác phẩm có giá trị, Biêlinxki cho rằng: Trong tác phẩm nghệ thuật, tư tưởng và h́nh thức phải ḥa hợp với nhau một cách hữu cơ như tâm hồn và thể xác, nếu hủy diệt h́nh thức th́ cũng có nghĩa là hủy diệt tư tưởng và ngược lại cũng vậy. Ở một chỗ khác, ông viết Khi h́nh thức là biểu hiện của nội dung th́ nó gắn chặt với nội dung tới mức là nếu tách nó ra khỏi nội dung, có nghĩa là hủy diệt bản thân nội dung và ngược lại, tách nội dung khỏi h́nh thức, có nghĩa là tiêu diệt h́nh thức. Sự thống nhất giữa nội dung và h́nh thức được biểu hiên ở 2 mặt: nội dung quyết định h́nh thức và h́nh thức phù hợp nội dung. Trong mối tương quan giữa nội dung và h́nh thức, nội dung bao giờ cũng đóng vai tṛ chủ đạo. Nó là cái có trước, thông qua ư thức năng động và tích cực của chủ quan nghệ sĩ, cố gắng t́m một h́nh thức phù hợp nhất để bộc lộ một cách đầy đủ, hấp dẫn nhất bản chất của nó.