THÔNG BÁO

  THỜI GIAN GẦN ĐÂY MỘT SỐ BẠN LỢI DỤNG  WEBSITE NÀY ĐỂ ĐƯA RA NHỮNG PHÁT NGÔN KHÔNG TỐT. CHO NÊN CHÚNG TÔI TẠM THỜI ĐÓNG WEBSITE LẠI ĐỂ NÂNG CẤP NHẰM HẠN CHẾ MỘT SỐ HÀNH VI KHÔNG TỐT LÀM ẢNH HƯỞNG ĐẾN DIỄN ĐÀN .CÁC BẠN CÓ THẮC MẮC XIN LIÊN HỆ : phanthanhhung90@gmail.com
MỞ ĐẦU VỀ PHONG CÁCH HỌC
I- VÀI NÉT VỀ THUẬT NGỮ PHONG CÁCH
Muốn tiến hành công việc nghiên cứu có kết quả, mỗi ngành khoa học cần xây dựng cho ḿnh những khái niệm cơ bản và giải thích những khái niệm này sao cho nhất quán nhằm tránh mâu thuẫn trong việc làm. V́ vậy , việc xác định đúng thuật ngữ của ngành học cũng như những khái niệm cơ bản của nó là một công việc trước tiên và cần thiết. Trên thế giới, các ngôn ngữ như : Anh, Pháp, Nga, Đức... đều lấy căn tố có nguồn gốc ở tiếng Latin : Stylus ( Stilus ) nghĩa là phong cách- kết hợp với một hậu tố có nghĩa là ngành học để tạo thành thuật ngữ phong cách học. Ví dụ : Tiếng Pháp : Styl - istique Tiếng Anh : Styl - istics Tiếng Đức : Styl - istik Tiếng Nga : CmuL - ucmuka . Ở Việt Nam trước đây, các nhà ngôn ngữ học thường dùng thuật ngữ Tu từ học . Điều này do ảnh hưởng của tu từ học truyền thống ( Hiện nay, một số nhà ngôn ngữ học Anh , Mỹ vẫn c̣n sử dụng thuật ngữ Rhetorics mà không dùng Stylistics ) . Về sau, do nhận thấy thuật ngữ phong cách học , một mặt có cách cấu tạo tương đồng với thuật ngữ của nhiều ngôn ngữ, mặt khác, có khả năng gợi lên sự liên tưởng đúng đến nội dung rất cơ bản của ngành khoa học này, nghiên cứu về phong cách ngôn ngữ, nên các nhà ngôn ngữ học Việt Nam hiện nay đă dùng thống nhất thuật ngữ phong cách học .
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ NHIỆM VỤ CỦA PHONG CÁCH HỌC:
1- Đối tượng :
Trên những nét chung nhất, phong cách học ( PCH ) được hiểu là khoa học nghiên cứu sự vận dụng ngôn ngữ, nói khác đi, nó là khoa học về quy luật nói viết có hiệu lực. Sử dụng ngôn ngữ có hiệu lực cao ở đây có nghĩa là: nói, viết đạt được tính chính xác cao, tính đúng đắn và tính thẩm mĩ trong mọi phạm vi hoạt động của giao tiếp xă hội. Nói cách khác, ngôn ngữ được sử dụng có hiệu quả cao là ngôn ngữ phải thực hiện được tất cả chức năng xă hội của nó. Do nhấn mạnh về mặt này hay mặt khác đối với việc vận dụng ngôn ngữ mà các nhà nghiên cứu đă có những quan điểm khác nhau về đối tượng nghiên cứu.
1.1- Quan điểm coi đối tượng là yếu tố biểu cảm của ngôn ngữ:
Người đề xướng quan điểm này là Charles Bally . Theo ông : Phong cách học nghiên cứu các sự kiện biểu đạt của ngôn ngữ trên quan điểm nội dung biểu cảm của chúng, nghĩa là sự biểu đạt các sự kiện t́nh cảm bằng ngôn ngữ và tác động của ngôn ngữ đối với t́nh cảm . Nhà từ điển học Tây Ban Nha, H .Casares cũng tán thành quan điểm này: Sự nghiên cứu và đánh giá các yếu tố đi kèm theo phần thông báo trung ḥa- logic thuần trí tuệ là đối tượng của phong cách học . Ông cho rằng : Phong cách học có nhiệm vụ tách ra các yếu tố phi quan niệm, đồng thời nghiên cứu các yếu tố phi quan niệm có trong biểu đạt . Nhận xét : Quan điểm của Charles Bally và những người ủng hộ quan điểm này là đúng nhưng chưa đủ. Trong việc vận dụng ngôn ngữ, các yếu tố biểu cảm đóng một vai tṛ hết sức quan trọng. Tài năng, sức hấp dẫn của người nói, người viết thể hiện một cách tập trung và rơ nét trong việc vận dụng và sáng tạo các yếu tố biểu cảm. Thế nhưng trong giao tiếp, không phải lúc nào các yếu tố biểu cảm cũng có thể có mặt. Ví dụ như trong giao tiếp hành chính và khoa học. Trong văn bản sau, người viết đă sử dụng những yếu tố biểu cảm nhưng lại không đạt được hiệu quả giao tiếp nếu không nói là đă vi phạm chuẩn mực phong cách : Thưa ông giám đốc kính mến. Hôm qua nói chuyện với anh X, phó pḥng tổ chức của xí nghiệp, tôi được biết, ông đang cần một nhân viên đánh máy giỏi. Đang t́m việc làm để kiếm sống, được tin ấy, tôi như chết đuối vớ được cọc, vội viết đơn này xin ông cho tôi được dự tuyển. Không phải mèo khen mèo dài đuôi, nhưng tôi phải khoe với ông rằng tôi đă từng là thủ khoa khoá XX Trường quốc gia hành chánh. Nói có sách, mách có chứng, tôi xin kèm theo đơn này văn bằng và chứng chỉ đánh máy loại ưu của tôi... ( Đơn xin việc) Cái quyết định tạo nên một lời nói có hiệu lực cao là ở chỗ lựa chọn các phương tiện ngôn ngữ phù hợp với thực tế giao tiếp. Chính v́ thế, quan điểm này không được các nhà ngôn ngữ học Việt Nam ủng hộ.
1.2- Quan điểm coi đối tượng là các phong cách chức năng ngôn ngữ :
Một số nhà ngôn ngữ học Tiệp Khắc như : Havranek, Jedlicka, Dolejel... xuất phát từ sự xác định phạm trù chung nhất của phong cách học là phong cách ngôn ngữ, đă xem phong cách ngôn ngữ là đối tượng của phong cách học . Havranek viết : Nghiên cứu thể văn là công việc khoa học về thể văn (phong cách) hoặc phong cách học . C̣n Dolejel cho rằng : Phạm trù chung quan trọng nhất là phong cách học. * Nhận xét: Trong giao tiếp, PCCNNN là một trong những tiêu chuẩn để đánh giá tính chất đúng đắn, tính có hiệu lực cao của lời nói. Mỗi cá nhân trong quá tŕnh vận dụng ngôn ngữ, tự giác hay không tự giác đều phải theo một PCCNNN nhất định. Do vậy quan điểm của các nhà ngôn ngữ học trên là có cơ sở nhưng cũng chưa đủ. PCCNNN phải là một trong những nội dung quan trọng của phong cách học nhưng nếu xem đấy là nội dung duy nhất th́ có phần cực đoan v́ c̣n có vấn đề lựa chọn và vận dụng các phương tiện ngôn ngữ biểu cảm cũng như cả các phương tiện ngôn ngữ trung hoà. Ví dụ tuy giao tiếp được thực hiện ở một PCCNNN nào đó nhưng ta không thể rập khuôn theo một cách nói năng ( dù thống nhất và phù hợp với PC) nếu đối tượng, t́nh huống giao tiếp thay đổi. Mỗi PCCNNN cũng lại tồn tại dưới những biến thể. Ví dụ, PC khẩu ngữ có khẩu ngữ văn hoá và khẩu ngữ thông tục ứng với những hoàn cảnh, đối tượng và mục đích giao tiếp khác nhau.Do vậy quan điểm này cũng không được các nhà ngôn ngữ học Việt Nam ủng hộ. 1.3- Quan điểm coi đối tượng là quy luật lựa chọn các phương tiện ngôn ngữ :
Một số nhà ngôn ngữ học Pháp và Liên Xô như : Julies, Maroujeau, K.Moren, R.G.Piotroski... xem việc lựa chọn và sử dụng các phương tiện biểu đạt của ngôn ngữ là đối tượng của phong cách học. Moren viết :Phong cách học là ngành ngữ văn độc lập, nghiên cứu những nguyên tắc lựa chọn và sử dụng các phương tiện ngôn ngữ nhằm biểu đạt một nội dung nhất định trong những hoàn cảnh giao tiếp nhất định .” * Nhận xét: Trong ngôn ngữ cũng như trong lời nói, luôn luôn có khả năng tồn tại những biến thể cùng nghĩa. Do vậy, trong giao tiếp chúng ta đều phải làm công việc lựa chọn các biến thể cùng nghĩa: - Lựa chọn các biến thể cùng nghĩa để nói hoặc viết khi phát tin. - Lựa chọn những biến thể cùng nghĩa để hiểu khi nhận tin. Lựa chọn là một hoạt động thường xuyên trong giao tiếp. Nội dung của sự lựa chọn là: lựa chọn các yếu tố biểu cảm và không biểu cảm, lựa chọn các phương tiện ngôn ngữ và phương pháp diễn đạt phù hợp với phong cách. Sự lựa chọn cách nói, cách hiểu như trên thường diễn ra trong tiềm thức, một cách tự nhiên và đôi khi nếu không để ư, ta không nhận ra điều đó. Chỉ khi nào gặp phải trường hợp viết không ra ư, nói chẳng thành lời chúng ta mới thấy vấn đề nói, viết không phải dễ dàng và việc lựa chọn các phương tiện ngôn ngữ đễ diễn đạt thật quan trọng biết bao. Thao tác lựa chọn này ( và cả thao tác kết hợp) diễn ra một cách trừu tượng . Trong sáng tác văn chương, sự lựa chọn này rất quan trọng và bộc lộ rơ ràng hơn. Người nói càng thành thạo thao tác lựa chọn bao nhiêu, càng tập hợp được nhiều đơn vị ngôn ngữ tương đồng và dị biệt để lựa chọn th́ hiệu quả diễn đạt của họ càng cao bấy nhiêu. Chúng ta có thể thấy hiệu quả lựa chọn này qua Di chúc của chủ tịch Hồ Chí Minh. Trong bản thảo Bác viết: Tôi có ư định đến ngày đó tôi sẽ đi khắp hai miền Nam Bắc để thăm hỏi đồng bào cán bộ... Kế đó tôi sẽ thay mặt nhân dân ta đi thăm viếng và cảm ơn các nước anh em... Nhưng đến bản chính thức Bác chữa lại là : Tôi có ư định đến ngày đó tôi sẽ đi khắp hai miền Nam Bắc để chúc mừng đồng bào cán bộ... Kế đó tôi sẽ thay mặt nhân dân ta đi thăm và cảm ơn các nước anh em. So sánh giữa bản thảo và bản chính, chúng ta thấy Bác đă thay thăm hỏi bằng chúc mừng, thăm viếng bằng thăm. Từ thăm hỏi có hàm ư động viên, an ủi. Ví dụ : thăm hỏi gia đ́nh nạn nhân, thăm hỏi đồng bào bị lũ lụt... Trong khi đó, nhân dân ta đă làm nên chiến thắng lẫy lừng nên cần phải chúc mừng chứ không phải an ủi. Với từ thăm viếng th́ yếu tố viếng có nét nghĩa liên quan đến người chết như: viếng mộ ông bà; đi viếng nghĩa trang liệt sĩ. Trường hợp này, Bác đến các nước anh em để cảm ơn và thăm họ v́ các nước ấy đă giúp đỡ nhân dân ta trong công cuộc kháng chiến chống Mĩ. Từ thăm được Bác dùng ở bản chính là chính xác, diễn tả thật đúng ư nghĩa. Để thấy được tương đối cụ thể thao tác này diễn ra như thế nào trong đầu óc con người, chúng ta có thể đọc đoạn văn sau đây của Phêlich Pita Rođrighêt, một nhà thơ người Cuba: Toà nhà phủ chủ tịch đă lùi lại phiá sau khuất dần vào những màn lá cây um tùm. Ở một góc nhà bên kia hiện ra ao nước màu trắng bạc giữa những hàng dừa sum suê. Đó là sự khắc khổ ư? Không, từ này không phải, không định nghĩa đúng điều ta muốn nói. Bởi v́ sự khắc khổ có thể là một cái ǵ cường điệu và bao hàm một khái niệm không thể hiện điều mà chúng ta cảm thấy ở đây. Đó là sự giản dị, sự khiêm nhường, khiêm tốn ư? Những từ này cũng không thể hiện được đúng những điều chúng ta cảm thấy. Có lẽ phải nói đó là tinh thần chí công vô tư. Người chỉ sử dụng cho ḿnh những ǵ tối cần thiết, chứ không phải là bất cứ cái ǵ cần thiết. Chiếc gương, tủ quần áo, chiếc bàn, chiếc ghế, cái giá sách, những thứ cần cho công việc và nghỉ ngơi để lấy lại sức làm việc. Chỉ có thế thôi không ǵ hơn nữa. Ngôi nhà ở đó, trước mặt chúng tôi, giữa những hàng dừa. Bóng cây, những tia nắng run rẩy xuyên qua kẽ lá, tiếng hót và những âm thanh líu ríu của chim chóc từ trên tầng cây cao, cùng hoà vào nhau tạo nên một bầu không khí của thiên nhiên êm ả- êm ả chứ không phải im ĺm, tĩnh mịch hoặc siêu thực. Và bầu không khí êm ả này dễ khiến người ta đi vào suy tưởng. (Phạm Đ́nh Lợi dịch ) Ở Việt Nam, quan điểm này được các nhà ngôn ngữ học ủng hộ. Thực tế giao tiếp cho ta thấy khi vận dụng ngôn ngữ mỗi cá nhân đều bị chi phối bởi quy luật này. Người nói luôn phải suy nghĩ đến điều kiện và hậu quả cũng như kết quả của lời nói ḿnh. Kho tàng tục ngữ của ta có rất nhiều câu nói về kinh nghiệm nói, viết . Ví dụ như : - Lời nói chẳng mất tiền mua, Lựa lời mà nói cho vừa ḷng nhau. - Ăn có nhai, nói có nghĩ. - Bút sa gà chết. Một cá nhân trước khi nói, viết cần phải suy nghĩ và trả lời các câu hỏi sau: - Nói, viết cho ai nghe? - Nói, viết về cái ǵ? - Nói, viết để làm ǵ? - Nói, viết như thế nào? - Nói, viết lúc nào? Có như thế mới có thể đạt hiệu quả cao khi giao tiếp. Và để trả lời các câu hỏi trên, chúng ta phải lựa chọn ngôn từ cho phù hợp. Như thế, lựa chọn là hoạt động cơ bản nhất chi phối toàn bộ quá tŕnh vận dụng ngôn ngữ. V́ vậy, có thể định nghĩa đối tượng của phong cách học như sau: Phong cách học là một bộ phận của ngôn ngữ học nghiên cứu nguyên tắc, quy luật lựa chọn và hiệu quả lựa chọn, sử dụng toàn bộ các phương tiện ngôn ngữ nhằm biểu hiện một nội dung tư tưởng t́nh cảm nhất định trong những phong cách chức năng ngôn ngữ nhất định. [15, 29] 1.4- Các bước lựa chọn:
Lựa chọn để sử dụng các phương tiện ngôn ngữ đạt hiệu quả cao trong giao tiếp là một yêu cầu tất yếu khi nói, viết. K. Pautốpxki, nhà văn Nga nổi tiếng, có viết: Trong ba tính từ đặt bên cạnh danh từ, thế nào cũng có một tính từ chính xác hơn cả, hai tính từ c̣n lại chắc chắn sẽ thua kém hơn. Bởi thế rơ ràng là tính từ duy nhất đó cần được giữ lại, c̣n hai tính từ kia th́ phải gạch bỏ không thương tiếc. ( Một ḿnh với mùa thu- K. Pautốpxki). Các thao tác lựa chọn: - Xác định nội dung biểu đạt; - Xác định phong cách lời nói; - Liên hội những h́nh thức biểu đạt cùng nghĩa; - Thử nghiệm và lựa chọn những h́nh thức biểu đạt cùng nghĩa cần thiết; - Kiểm tra lại văn bản hay phát ngôn đă lựa chọn.
2- Nhiệm vụ :
Từ việc xác định đối tượng nghiên cứu, chúng ta có thể thấy hai nhiệm vụ chủ yếu của phong cách học là :
- Chỉ ra khả năng và hiệu lực biểu đạt của các phương tiện ngôn ngữ trong từng phong cách ngôn ngữ.
-Cách vận dụng các phương tiện ngôn ngữ để đạt hiệu quả cao trong giao tiếp, đúng phong cách ngôn ngữ. Việc chỉ ra khả năng và hiệu lực biểu đạt của các phương tiện ngôn ngữ trong từng PCCNNN là rất quan trọng. Các phương tiện ngôn ngữ bao giờ cũng tồn tại dưới dạng lớn hơn một, tức dưới dạng những biến thể. Ví dụ, âm vị có các âm tố thể hiện; ư nghĩa từ vựng có các từ cùng nghĩa thể hiện; ư nghĩa ngữ pháp có các dạng thức thể hiện. Đấy là chúng ta chưa kể đến vô vàn những cách nói cùng nghĩa xuất hiện rất linh động, đa dạng và phong phú trong thực tế giao tiếp. Mỗi dạng biến thể này đều có những đặc điểm tu từ riêng đ̣i hỏi cần phải nắm rơ, hiểu đúng. Có như thế mới vận dụng phù hợp trong từng phát ngôn cụ thể. PCH có liên quan mật thiết đến những vấn đề sau :
- Xây dựng chuẩn mực ngôn ngữ, trong đó có chuẩn mực phong cách;
- Trau dồi ngôn ngữ;
- Giữ ǵn sự trong sáng của tiếng nói dân tộc.
III- VÀI NÉT VỀ LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CỦA PHONG CÁCH HỌC TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM
1- Ở phương Tây:
1.1- Theo truyền thuyết, vào thế kỉ thứ V Tr.CN, ở đảo Sicie, hai nhà hùng biện là Corax và Tisias đă sáng tạo ra môn Tu từ học, nghiên cứu hoạt động ngôn từ với tư cách là diễn từ. Sau này, các nhà hùng biện Hi Lạp và La Mă dù có nhấn mạnh bộ phận này hay bộ phận khác của tu từ học, nhưng về đại thể vẫn giữ lại những nét chung tiêu biểu.
1.2- Đến thế kỉ thứ IV- III Tr.CN, một số triết gia Hi Lạp và La Mă như : Platon (428-347), Democrite (460- 370), Aristote (384- 322)... đă h́nh thành nên một môn học được đặt tên là Rhêtorikê ( Mĩ từ pháp). Đến thế kỉ thứ I Tr.CN, Virgile, nhà thơ La Mă, đề xuất ư kiến về sự phân chia các PC diễn đạt. Nội dung của Mĩ từ pháp cổ đại gồm: - Các phép mĩ từ (Figura) dùng trong diễn đạt; - Phong cách diễn đạt; - Cơ cấu một bài văn. Mĩ từ pháp cổ đại đă có ảnh hưởng lớn đến ngôn từ hùng biện, đến nghệ thuật viết văn thời cổ đại và sau này truyền đi khắp châu Âu.
1.3- Đầu thế kỉ XX, khoa học ngôn ngữ trên thế giới bước vào một thời ḱ mới, mở đầu bằng hệ thống các luận điểm trong bài giảng của nhà ngôn ngữ học vĩ đại người Thụy Sĩ, Ferdinand de Saussure (1857 - 1913). Ông đă đào tạo nên nhiều nhà ngôn ngữ học tài giỏi mà hai trong số đó là : Charles Bally và Alber Sechehaye.
1.3.1- Năm 1908, Albert Sechehaye cho xuất bản quyển Phong cách học và ngôn ngữ học lí thuyết. Ông là người đầu tiên chỉ ra sự cần thiết phải xem PCH là một ngành độc lập của khoa học ngữ văn.
1.3.2- Năm 1909, quyển Khảo luận về phong cách học tiếng Pháp của Charles Bally ra đời; trong đó tác giả đề cập những vấn đề về đối tượng, nội dung, phương pháp nghiên cứu của PCH. Charles Bally được coi như là người đề xướng và khai sinh cho ngành PCH ở nước Pháp nói riêng và trên thế giới nói chung.
1.3.3- Năm 1919, Leo Spilzer mở rộng sự quan tâm đến những thuộc tính phong cách của văn bản, nhấn mạnh đến những luận điểm của Buffon Phong cách đó chính là con người và cho rằng sự kiện phong cách bao gồm cả phần tư duy và phần t́nh cảm. Khuynh hướng này được mệnh danh là phong cách mới.
1.4- Suốt nửa đầu thế kỉ, các nhà ngôn ngữ học trên thế giới quan tâm nhiều đến các vấn đề ngôn ngữ học đại cương, lí luận âm vị học, lí luận ngữ pháp mà ít quan tâm đến PCH. PCH chỉ thực sự phát triển mạnh mẽ vào nửa sau thế kỉ XX.
2- Ở phương Đông:
2.1- Vào thế kỉ thứ IV Tr .CN, Mặc Tử đă có những ư kiến bàn luận về sự biến hoá của lời nói trong các văn cảnh khác nhau bằng khái niệm Thiên hành. Đó thực chất là bàn luận về sự hành chức của các đơn vị ngôn ngữ trong thực tiễn nói năng. Thời Chiến Quốc, một số danh gia như Huệ Thi, Công Tôn Long cũng có những luận bàn về mối quan hệ giữa tên gọi và sự vật. Dù lập luận c̣n mang màu sắc ngụy biện nhưng họ đă dùng đến các biện pháp tu từ mà nay chúng ta định danh là : so sánh, tương phản, ngoa dụ...
2.2- Cuối thời Chiến Quốc, Tuân Tử, một đại biểu xuất sắc của phái Nho gia đă có những phát hiện mới khi bàn về tính ước lệ (quy ước) của tên gọi nói riêng và của ngôn ngữ nói chung: Ước lệ đă thành thói quen th́ bảo là đúng; khác với thói quen th́ bảo là không đúng. Điều này có liên quan đến khái niệm mà PCH dùng sau này, đó là khái niệm chuẩn mực.
3- Ở Việt Nam:
3.1-
Trong các quyển Vân đài loại ngữ, Kiến văn tiểu lục, Lê Quư Đôn cho biết các nhà trí thức Việt Nam như: Hoàng Đức Lương (thế kỉ XV), Phùng Khắc Khoan (thế kỉ XVI), Lê Hữu Kiều (thế kỉ XVIII)... đă có những ư kiến bàn luận về cách luyện văn, luyện câu, luyện chữ nghĩa trong văn chương.
3.2- Từ cuối thế kỉ XIX đến khoảng trước 1964, nhiều học giả đă nghiên cứu, khảo sát và khái quát những vấn đề về ngữ pháp, ngữ âm, từ vựng của tiếng Việt như: Trương Vĩnh Kư, Trần Trọng Kim, Bùi Kỷ, Phạm Duy Khiêm, Lê Văn Lư, Nguyễn Hiến Lê,...
3.3- Năm 1964, quyển Giáo tŕnh Việt ngữ ( tập III- phần Tu từ học ) của Đinh Trọng Lạc ra đời. Có thể xem giáo tŕnh này đánh dấu sự xuất hiện thực sự của khoa học về phong cách học ở Việt Nam. Từ đó đến nay, rất nhiều quyển giáo tŕnh mới về PCH được xuất bản. Tiêu biểu như : Phong cách học tiếng Việt (1982) của tập thể tác giả Cù Đ́nh Tú (chủ biên), Lê Anh Hiền, Nguyễn Nguyên Trứ; Phong cách học và đặc điểm tu từ tiếng Việt (1983) của Cù Đ́nh Tú; Phong cách học tiếng Việt (1993) của Đinh Trọng Lạc,...
IV- NHỮNG KHÁI NIỆM CƠ BẢN CỦA PHONG CÁCH HỌC
1- Đặc điểm tu từ :
Sự khác nhau giữa hệ thống tín hiệu ngôn ngữ và hệ thống tín hiệu khác là: cùng một đối tượng, một nội dung thông báo chúng ta có nhiều cách diễn đạt. Nói cách khác, có nhiều h́nh thức biểu đạt cùng nghĩa để cùng chỉ một đối tượng, một thông báo nào đó. Trước t́nh h́nh này, người phát ngôn hay người thụ ngôn đều cần phải cân nhắc, lựa chọn một h́nh thức biểu đạt nào đem lại hiệu quả tối ưu nhất. Điều này do: -Mỗi h́nh thức biểu đạt cùng nghĩa gắn với một cách thức nh́n nhận, một thái độ đánh giá t́nh cảm nhất định. -Mỗi h́nh thức biểu đạt cùng nghĩa cũng lại gắn với một phạm vi nói, viết một PCCNNN nhất định. Khái niệm đặc điểm tu từ được rút ra từ hiện tượng biểu đạt cùng nghĩa nói trên. Đặc điểm tu từ là phần nội dung biểu hiện bổ sung của tín hiệu ngôn ngữ khi tồn tại dưới h́nh thức biểu đạt cùng nghĩa. Phần này một mặt chỉ rơ thái độ đánh giá t́nh cảm của đối tượng được nói đến, một mặt chỉ rơ chức năng phong cách của tín hiệu ngôn ngữ. Có thể thấy rơ điều này khi so sánh đặc điểm tu từ của các từ xưng hô trong những câu thơ sau: Ḿnh về với Bác đường xuôi Thưa dùm Việt Bắc không nguôi nhớ Người Nhớ ông Cụ mắt sáng ngời
Aïo nâu túi vải đẹp tươi lạ thường ( Việt Bắc - Tố Hữu)
2- Màu sắc phong cách:
Ngôn ngữ là một hệ thống gồm nhiều nguyên tắc, quy luật và ước lệ mà những người cùng sống chung trong một cộng đồng ngôn ngữ đặt ra. Trong quá tŕnh hành chức, do thói quen sử dụng, mỗi đơn vị ngôn ngữ thường gắn với một hoặc vài phạm vi giao tiếp nào đó. Chính những phạm vi được h́nh thành do thói quen mang tính truyền thống này mà các phương tiện ngôn ngữ thu nhận cho ḿnh cái dấu ấn riêng của môi trường nói vốn quen thuộc với chúng. Dấu ấn về phạm vi sử dụng của các phương tiện ngôn ngữ được gọi là màu sắc phong cách. Vậy màu sắc phong cách của đơn vị ngôn ngữ là nội dung biểu hiện bổ sung chỉ rơ giá trị chức năng của đơn vị ngôn ngữ, gợi cho ta liên tưởng đến phong cách chức năng, đến môi trường, phạm vi mà đơn vị ngôn ngữ thường được sử dụng. Màu sắc phong cách của các phương tiện ngôn ngữ thể hiện ở tất cả các cấp độ như : Ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp. Căn cứ vào sự xuất hiện tự do hay hạn chế của các đơn vị ngôn ngữ khi xuất hiện trong các PCCNNN mà người ta chia ra làm hai loại: Đa phong cách và đơn phong cách. Đơn vị ngôn ngữ nào có khả năng xuất hiện trong tất cả các phong cách được gọi là đơn vị có màu sắc đa phong cách. Đơn vị ngôn ngữ nào chỉ xuất hiện ở một hoặc vài PCCNNN nhất định được gọi là đơn vị có màu sắc đơn PC. Ví dụ: - Các từ: cha mẹ, to lớn, sông núi, cây cỏ, ... có phạm vi sử dụng khá rộng răi, phù hợp với nhiều PCCN, nên có màu sắc đa phong cách. - Các từ: phụ mẫu, vĩ đại, giang sơn, thảo mộc,... thường chỉ xuất hiện trong giao tiếp mang tính nghi thức, nên có màu sắc đơn phong cách.
3- Sắc thái biểu cảm :
Trong quá tŕnh nhận thức, con người luôn luôn bày tỏ sự đánh giá, nhận xét của ḿnh về các đối tượng được đề cập. Sự đánh giá nhận xét này có thể được thể hiện bằng các phương tiện ngôn ngữ hoặc các phương tiện ngoài ngôn ngữ. Trong việc thể hiện thái độ đánh giá t́nh cảm của ḿnh bằng các phương tiện ngôn ngữ, không phải những đơn vị ngôn ngữ nào cũng mang sắc thái biểu cảm như khái niệm này. Nếu sự thể hiện t́nh cảm bằng những từ định danh t́nh cảm như : vui, buồn, yêu, ghét, đau đớn, phẫn nộ,... th́ nó không tạo ra sắc thái biểu cảm (expressive colouring) như khái niệm mà ta đề cập ở đây. Sắc thái biểu cảm là nội dung biểu hiện bổ sung chỉ rơ thái độ đánh giá t́nh cảm của người nói đối với đối tượng được đề cập, được nhận thức trong các đơn vị ngôn ngữ. Ví dụ: Chiều tối Chim mỏi về rừng t́m chốn ngủ Cḥm mây trôi nhẹ giữa tầng không Cô em xóm núi xay ngô tối Xay hết ḷ than đă rực hồng ( Quyện điểu quy lâm tầm túc thụ Cô vân mạn mạn độ thiên không Sơn thôn thiếu nữ ma bao túc Bao túc ma hoàn lô dĩ hồng) ( Mộ - Hồ Chí Minh ) Bài thơ Chiều tối không chỉ miêu tả cảnh chiều tà nơi sơn cước với cánh chim bay, làn mây trôi và khung cảnh lao động của con người. Sắc thái biểu cảm thể hiện ở tấm ḷng yêu thương rộng lớn luôn nâng niu trân trọng mọi sự sống trên đời, tâm hồn lạc quan luôn hướng về tương lai và ánh sáng của chủ thể trữ t́nh. Và, bức tranh thiên nhiên, đời sống không chỉ là cảnh thực mà trở thành bức tranh tâm cảnh của nhà thơ. Điều này có nghĩa là những thái độ đánh giá t́nh cảm dương tính ( tích cực) hay âm tính ( tiêu cực) bằng các đơn vị ngôn ngữ không phải xuất hiện với tư cách nội dung cơ sở mà với tư cách nội dung biểu hiện bổ sung của một sự biểu đạt cùng nghĩa.
4- Phong cách chức năng ngôn ngữ:
Phong cách chức năng ngôn ngữ (PCCNNN) là một trong những vấn đề trung tâm và là một phạm trù cơ bản nhất của phong cách học. PCCNNN là một dạng tồn tại của ngôn ngữ dân tộc được định h́nh thành những dạng nhất định bởi quy luật lựa chọn và sử dụng các phương tiện biểu hiện do các nhân tố ngoài ngôn ngữ chi phối và quy định [15, 45]. Đinh Trọng Lạc có định nghĩa như sau: ...phong cách chức năng ngôn ngữ là những khuôn mẫu ( Stereotype) trong hoạt động lời nói , h́nh thành từ những thói quen sử dụng ngôn ngữ có tính chất truyền thống, tính chất chuẩn mực, trong việc xây dựng các lớp văn bản ( phát ngôn ) tiêu biểu.[8,18]. Hồ Lê lại có định nghĩa khác: Phong cách ngôn ngữ là tổng thể của tất cả những biểu hiện về phong độ, phong thái, tính cách mang tính đặc trưng trong quá tŕnh tiến hành các quan hệ ngôn giao và trong quá tŕnh tạo ra các đơn vị ngôn giao.[11, 448]. Dù có những cách diễn đạt khác nhau song ta thấy, suy cho cùng, các PCCNNN đều được h́nh thành từ sự tổng hợp hai nhấn tố: Nhân tố ngôn ngữ và nhân tố ngoài ngôn ngữ; trong đó chính nhân tố ngoài ngôn ngữ là nhân tố quyết định.
4.1- Các nhân tố tạo nên phong cách chức năng ngôn ngữ :
Phong cách chức năng ngôn ngữ được tạo nên bởi hai nhân tố: nhân tố ngôn ngữ và nhân tố ngoài ngôn ngữ.
4.1.1- Nhân tố ngôn ngữ :
Bao gồm các phương tiện ngôn ngữ như: ngữ âm, từ vựng, cú pháp. Các yếu tố này giữ vai tṛ là phương tiện biểu hiện, tức làm rơ diện mạo, cụ thể hóa diện mạo của PCCNNN. Chính nhờ các phương tiện này mà chúng ta có thể khảo sát các đặc trưng diễn đạt và đặc điểm ngôn ngữ của từng phong cách.
4.1.2- Nhân tố ngoài ngôn ngữ :
Có rất nhiều các nhân tố chi phối việc lựa chọn các phương tiện ngôn ngữ khi giao tiếp. Ví dụ như hoàn cảnh của người nói ( viết) và người đọc (nghe); hoàn cảnh xă hội; nói điều ǵ cho thích hợp; nói để làm ǵ và nhằm mục đích ǵ; tổ chức nội dung và cách thức nói năng như thế nào cho thích hợp; thời điểm giao tiếp...Nói cách khác, khi nói năng , chúng ta phải xử lí hàng loạt các vấn đề như: Phát ngôn cho ai? T́nh huống phát ngôn như thế nào? Phát ngôn về cái ǵ? Phát ngôn để làm ǵ? Phát ngôn như thế nào? Tuy nhiên, chúng ta thấy có ba nhân tố quan trọng nhất chi phối việc chúng ta lựa chọn các phương tiện ngôn ngữ khi giao tiếp và cũng chính từ ba nhân tố này (tất nhiên cùng cả những nhân tố có liên quan khác) đă góp phần h́nh thành nên các PCCNNN. Đó là: Đối tượng giao tiếp, hoàn cảnh giao tiếp và mục đích giao tiếp. * Đối tượng giao tiếp : Đối tượng tham gia giao tiếp là nhân tố quan trọng nhất có tác dụng quyết định đến việc lựa chọn các phương tiện ngôn ngữ trong giao tiếp. Mỗi người trong giao tiếp bao giờ cũng xuất hiện với một tư cách, một cương vị nhất định mà mối quan hệ gia đ́nh và xă hội đă quy định. Nói cho ai nghe ? Viết cho ai đọc ? Người nghe là ai ? Tâm tư t́nh cảm thế nào, quan hệ với chúng ta ra sao? Tŕnh độ học vấn, nghề nghiệp ?... Tất cả những điều đó ta cần phải t́m hiểu, xác định rơ trước khi nói viết. Có như thế mới đạt hiệu quả cao trong giao tiếp. * Hoàn cảnh giao tiếp : Giao tiếp xă hội hiện nay thường được xuất hiện và tồn tại ở hai dạng : giao tiếp theo nghi thức và giao tiếp không theo nghi thức. Hoàn cảnh theo nghi thức là hoàn cảnh xă hội trong đó diễn ra hành vi giao tiếp bằng lời nói mang tính chất đúng đắn, nghiêm túc, hoàn chỉnh. Hoàn cảnh không theo nghi thức là hoàn cảnh xă hội trong đó diễn ra hành vi giao tiếp mang tính chất tự nhiên, thoải mái, đôi khi tùy tiện. Do hoàn cảnh giao tiếp khác nhau nên có những phương tiện ngôn ngữ phù hợp cho mỗi dạng. Giao tiếp có hoàn cảnh không theo nghi thức th́ việc vận dụng các phương tiện ngôn ngữ không cần gọt giũa lắm, ít chú ư hay có ư thức hướng tới chuẩn mực, thường tự do thoải mái trong phát âm, ít khi chuẩn bị trước. Giao tiếp thuộc hoàn cảnh theo nghi thức th́ việc sử dụng các phương tiện ngôn ngữ có những yêu cầu và đ̣i hỏi ngược lại. * Mục đích giao tiếp: Mục đích là cái vạch ra làm đích nhằm đạt cho được trong hoạt động có ư thức của con người. Mọi hành vi lời nói đều hướng tới một mục đích thực tiễn nhất định, song mặt khác, mọi hành vi lời nói đều cần phải chọn một h́nh thức diễn đạt thích hợp. Cùng một nội dung , nhưng nếu xuất phát từ những mục đích giao tiếp khác nhau như ; thông báo, trao đổi, tác động, chứïng minh, sai khiến hay thẩm miî... sẽ dẫn đến cách dùng từ, đặt câu và phương pháp diễn đạt khác nhau. 4.2- Phong cách ngôn ngữ và lời nói cá nhân:
Trong nói năng, dù muốn hay không, mọi người đều nói, viết theo một phong cách ngôn ngữ nhất định . Tuy nhiên, việc vận dụng đó c̣n tuỳ thuộc vào năng lực ngôn ngữ của mỗi người, không phải ai cũng sử dụng phù hợp, đúng đắn, sâu sắc và tinh tế như nhau. Lời nói cá nhân là kết quả của việc thực hiện phong cách ngôn ngữ của mỗi cá nhân ở trong thực tế. Lời nói cá nhân vừa bao hàm cái chung, phong cách ngôn ngữ, vừa chứa đựng cái riêng, do cá nhân sử dụng. PCCNNN là cái chung, cái trừu tượng tồn tại trong ư thức của mỗi người, c̣n lời nói cá nhân là cái riêng, cái cụ thể tồn tại trong những phát ngôn cụ thể. Mối quan hệ giữa PCCNNN và lời nói cá nhân là mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng, cái có tính logic và cái có tính lịch sử. PCCNNN không chỉ quy định lời nói cá nhân mà ngược lại nó c̣n được lời nói cá nhân nuôi dưỡng. Mỗi biến đổi của PCCNNN đều bắt đầu từ lời nói cá nhân. Xét cho cùng, mối quan hệ giữa PCCNNN và lời nói cá nhân được xây dựng và xác định trên cơ sở của mối quan hệ biện chứng giữa ngôn ngữ và lời nói.
V- CHUẨN MỰC NGÔN NGỮ VÀ CHUẨN MỰC PHONG CÁCH:
1- Chuẩn mực ngôn ngữ:
Chuẩn mực ngôn ngữ là hệ thống các phương tiện biểu hiện tốt nhất, hợp lí nhất và được mọi người thừa nhận, cùng sử dụng để giao tiếp với nhau trong một thời kỳ nhất định. Chuẩn mực ngôn ngữ được thể hiện trong các phạm vi: Phát âm, chữ viết, dùng từ và đặt câu. Ví dụ: * Về cách phát âm: Chuẩn mực Không chuẩn mực - Hà Nam Ninh - Hà Lam Linh - Cá rô - Cá gô - Con trâu trắng nằm trong - Con tâu tắng nằm tong bụi te. bụi tre. Chuẩn mực ngôn ngữ phụ thuộc vào lịch sử, nó thể hiện những quy luật lịch sử của sự phát triển của ngôn ngữ cũng như những khuynh hướng phát triển tiêu biểu của thời đại. Do đó, chuẩn mực ngôn ngữ là tập hợp những phương tiện ngôn ngữ phù hợp với yêu cầu của xă hội, rút ra từ sự lựa chọn trong các yếu tố ngôn ngữ. Để lựa chọn tốt, t́m những yếu tố ngôn ngữ nhằm sử dụng phù hợp tất phải có sự so sánh. Cho nên , chuẩn mang tính chất so sánh. V́ thế, không có biến thể, không có sự lựa chọn biến thể th́ không có sự so sánh và chuẩn. Giải quyết vấn đề biến thể là công việc của chuẩn mực ngôn ngữ. Chức năng của chuẩn chính là sự quy định và điều chỉnh cách sử dụng các biến thể ngôn ngữ. Chuẩn mực ngôn ngữ chỉ trả lời câu hỏi Dùng có đúng với ngôn ngữ văn hóa hay không ?. Chuẩn mực ngôn ngữ chỉ giải quyết vấn đề nên sử dụng các phương tiện ngôn ngữ nào cho phù hợp với cái chung. Việc sử dụng ngôn ngữ như thế nào để đạt hiệu quả cao th́ chuẩn mực ngôn ngữ không bàn đến.
2- Chuẩn mực phong cách:
Chuẩn mực phong cách là toàn bộ cách chỉ dẫn
 thể hiện tíïnh quy luật bắt buộc ở một thời ḱ nhất định của một ngôn ngữ sao cho phù hợp với phong cách của hoạt động lời nói và với các kiểu và thể loại văn bản. Chuẩn mực phong cách gắn với phạm vi đặc trưng của hoạt động lời nói, với một kiểu, một thể loại văn bản cụ thể. Cho nên , chuẩn mực phong cách chỉ trả lời câu hỏi Dùng có phù hợp với ngữ cảnh hay hoà́n cảnh này không ? . Ví dụ: - Trong nói năng thân mật hàng ngày, dùng các từ như : Cây số, kí, cân, lạng, thước... là phù hợp nhưng trong phong cách khoa học chúng ta phải dùng: Kilomet, kilogam, mét,... Chuẩn mực phong cách không thủ tiêu mà lợi dụng các biến thể, quy định phạm vi sử dụng cho từng biến thể để tận dụng khả năng diễn đạt của ngôn ngữ nhằm đáp ứng các yêu cầu diễn đạt ngày càng đa dạng, phức tạp, tinh tế của trí tuệ và t́nh cảm của con người.
VI- CÁC DẠNG CỦA LỜI NÓI:
1- Phong cách chức năng ngôn ngữ và dạng của lời nói :
Các PCCNNN được phân biệt trên cơ sở các nhân tố ngoài ngôn ngữ (Đối tượng, hoàn cảnh, mục đích giao tiếp ) tức là trên cơ sở của sự lựa chọn có mục đích của những phương tiện ngôn ngữ thích hợp nhất với những điều kiện giao tiếp nhất định. Các dạng của lời nói ( dạng nói và dạng viết ) được phân biệt bởi chính những phương tiện vật chất của giao tiếp ( ngữ âm hay chữ viết ) và bởi chính những điều kiện của hoạt động lời nói . PCCNNN và dạng của lời nói là những khái niệm khác nhau nhưng gắn bó chặt chẽ với nhau, đan chéo vào nhau. Ngày nay, dạng nói và dạng viết đều có thể tồn tại trong tất cả các phong cách chức năng ngôn ngữ. Tuy nhiên ở những phong cách khác nhau sự thể hiện giữa hai dạng này không đồng đều. Ví dụ, trong phong cách khẩu ngữ, dạng nói là chủ yếu nhưng ở phong cách hành chính, dạng viết lại chiếm ưu thế. 2- Sự khác nhau giữa dạng nói và dạng viết về phương diện vật chất:TOP
2.1- Dạng nói dùng âm thanh, ngữ điệu làm phương tiện biểu hiện.
Trong dạng này, sự thay đổi về ư nghĩa và về cảm xúc phụ thuộc nhiều vào ngữ điệu. Ngữ điệu thường đi liền với vẻ mặt, cử chỉ, dáng điệu của người nói nên tính chất gợi cảm lại càng tăng. Chính ngữ điệu làm cho từ ngữ có sắc thái đa dạng, có khi đối lập hẳn nhau về nghĩa. Điều cần chú ư, trong cùng dạng nói, nhưng dạng nói ở mỗi phong cách chức năng ngôn ngữ lại khác nhau, có sự thể hiện không giống nhau.
2.2- Dạng viết dùng kí tự làm phương tiện biểu hiện.
Ở dạng này, sự thể hiện của ngữ điệu không cụ thể. Điều cần chú ư, mọi h́nh thức nói đều có thể cố định hoá bằng chữ viết và mọi văn bản viết đều có thể chuyển sang dạng nói. Khi ở dạng nào, chúng sẽ bị chi phối bởi phương tiện biểu hiện ngôn ngữ.
3- Sự khác nhau giữa dạng nói và dạng viết về điều kiện của hoạt động giao tiếp:
Dạng nói hướng vào sự tri giác và sự phản ứng không chậm trễ của cá nhân. Dạng viết không hướng vào sự tri giác và sự phản ứng như vậy. Dạng nói thường xuyên sử dụng những phương tiện đi kèm ngôn ngữ: nét mặt, cử chỉ, dáng điệu. Dạng viết không có khả năng sử dụng những phương tiện đi kèm ngôn ngữ này. Dạng nói đ̣i hỏi phát ngôn phải được tri giác nhanh chóng v́ dạng nói dùng ngữ âm làm phương tiện biểu hiện, mà đặc điểm của nó là lời nói gió bay cần phải nghe hiểu kịp thời. C̣n dạng viết th́ có đặc điểm là dùng văn tự làm phương tiện biểu hiện, cho nên để hiểu một văn bản ta có thể đọc đi, đọc lại nhiều lần.
4- Sự khác nhau giữa dạng nói và dạng viết về đặc điểm ngôn ngữ :
Đặc điểm ngôn ngữ nổi bật của dạng nói là yếu tố dư và h́nh thức tỉnh lược. Yếu tố dư do giao tiếp ở dạng nói thường liên tục, khẩn trương, để cho người nghe kịp theo dơi, kịp tiếp thu, người ta thường lặp đi lặp lại một phương tiện ngôn ngữ nào đó. H́nh thức tỉnh lược thường được sử dụng để khỏi mất thời gian và do có sự hiện diện của hoàn cảnh và đối tượng giao tiếp. Đặc điểm ngôn ngữ nổi bật của dạng viết là từ ngữ chính xác, kết cấu ngữ pháp, ngữ nghĩa chặt chẽ, hoàn chỉnh.
VII- PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH SỰ BIỂU ĐẠT CỦA PHONG CÁCH HỌC:
Phương pháp phân tích thích hợp để chỉ ra tính có hiệu lực, tức mức độ hiệu lực của sự biểu đạt là liên hội- so sánh giữa sự biểu đạt đă được lựa chọn với những sự biểu đạt cùng nghĩa không được tuyển chọn. Tŕnh tự phân tích như sau:
- Xác định nội dung cơ sở của sự biểu đạt.
- T́m các sự kiện biểu đạt cùng nghĩa, liên hội, so sánh với sự biểu đạt đă được lựa chọn để rút ra nét khác biệt, cái riêng của sự biểu đạt được lựa chọn.
 - Kết luận về mức độ hiệu lực của sự biểu đạt. Tŕnh tự thứ nhất để phân tích sự biểu đạt của phong cách học có thể lược bỏ nếu nội dung cơ sở quá rơ ràng. Mục đích của tŕnh tự thứ hai là rút ra được đặc điểm tu từ của h́nh thức biểu đạt cùng nghĩa được lựa chọn. Phương pháp liên hội- so sánh nói trên đ̣i hỏi người sử dụng phải có một vốn tổng hợp, ngoài phong cách học, nhưng thiếu nó không thể thực hiện được: - Sự nhạy cảm đối với ngôn ngữ; - Vốn ngôn ngữ; - Vốn văn hóa, kinh nghiệm và vốn sống cần thiết. ---***--- Bài tập thực hành: 1- Có ba quan điểm khác nhau về đối tượng của phong cách học: - Quan điểm coi đối tượng là yếu tố biểu cảm của ngôn ngữ ; - Quan điểm coi đối tượng là các phong cách chức năng ngôn ngữ; - Quan điểm coi đối tượng là quy luật lựa chọn các phương tiện ngôn ngữ. Quan điểm nào là hợp lí hơn cả? Hăy chứng minh. 2- Phân tích đặc điểm tu từ của bài thơ sau : O du kích nhỏ giương cao súng Thằng Mỹ lênh khênh bước cúi đầu
Ra thế to gan hơn béo bụng Anh hùng đâu cứ phải mày râu " ( Tấm ảnh -Tố Hữu ) 3-Hăy chứng minh trong giao tiếp, các nhân tố ngoài ngôn ngữ chi phối việc lựa chọn các phương tiện ngôn ngữ. 4- Thế nào là chuẩn mực ngôn ngữ ? Thế nào là chuẩn mực phong cách? Cho ví dụ. 5- Vận dụng phương pháp phân tích sự biểu đạt của phong cách học để phân tích ba bài ca dao sau : a- Anh nói ( th́ ) em cũng nghe anh ( Nhưng ) bát cơm đă trót chan canh mất rồi Nuốt vào đắng lắm anh ơi ! Nhổ ra th́ để tội trời ai mang ?
b- Tưởng nước giếng sâu, nối sợi dây dài Ai ngờ nước giếng cạn, tiếc hoài sợi dây . c- Thân em như trái bần trôi Sóng dập gió dồi biết tấp vào đâu? 6- Trong bản thảo Di chúc, chủ tịch Hồ Chí Minh viết: ... Năm nay tôi vừa tṛn 79 tuổi, tuy sức khoẻ có kém so với vài năm trước đây. Điều đó cũng b́nh thường thôi... V́ vậy, tôi để sẵn mấy lời này pḥng khi tôi phải đi gặp cụ Các Mác, cụ Lê nin và các vị cách mạng tiền bối khác. Trong bản Di chúc chính thức, chủ tịch Hồ Chí Minh đă thay các từ: b́nh thường, phải bằng các từ: không có ǵ là lạ, sẽ. Sự thay đổi trên có tạo nên một nội dung biểu đạt mới? Hăy lí giải.