THÔNG BÁO

  THỜI GIAN GẦN ĐÂY MỘT SỐ BẠN LỢI DỤNG  WEBSITE NÀY ĐỂ ĐƯA RA NHỮNG PHÁT NGÔN KHÔNG TỐT. CHO NÊN CHÚNG TÔI TẠM THỜI ĐÓNG WEBSITE LẠI ĐỂ NÂNG CẤP NHẰM HẠN CHẾ MỘT SỐ HÀNH VI KHÔNG TỐT LÀM ẢNH HƯỞNG ĐẾN DIỄN ĐÀN .CÁC BẠN CÓ THẮC MẮC XIN LIÊN HỆ : phanthanhhung90@gmail.com
CÁC ĐƠN VỊ TỪ VỰNG TIẾNG VIỆT XÉT VỀ MẶT CẤU TẠO
I. CÁC KHÁI NIỆM KHÁC NHAU VỀ ĐƠN VỊ CẤU TẠO TỪ TIẾNG VIỆT
 ( Xem bảng tổng kết các quan niệm khác nhau về hình vị tiếng Việt.) Tựu trung, có thể thấy có hai xu hướng xác định hình vị đối lập:
1 Hình vị trùng âm tiết.
Tiêu biểu gồm các tác giả như M.B.Emeneau, Nguyễn Tài Cẩn, Lưu Vân Lăng, Nguyễn Văn Tu ...Tuy nhiên, cách gọi tên không giống nhau. M.B.Emeneau, Lưu Vân Lăng dùng thuật ngữ morphem, Nguyễn Tài Cẩn dùng khái niệm tiếng, Nguyễn văn Tu dùng từ tố, Lê Văn Lý dùng ngữ vị.
2 Hình vị không hoàn toàn trùng âm tiết.
ở khuynh hướng này, nội hàm và ngoại diên của hình vị cũng được nhìn nhận khác nhau.
- Theo Ðỗ Hữu Châu: Hình vị là những đơn vị được tạo ra từ các âm vị, tự thân có nghĩa nhưng không được dùng trực tiếp để giao tiếp, tức không trực tiếp được dùng để kết hợp với nhau tạo thành câu... Hình vị (hay yếu tố cấu tạo từ) tiếng Việt là những hình thức ngữ âm cố định, bất biến, nhỏ nhất với dạng chuẩn tối thiểu là 1 âm tiết, tự thân có nghĩa (từ vựng hay ngữ pháp), có thể chịu tác động của phương thức cấu tạo để cấu tạo từ cho tiếng Việt. [ 5, 5 ]
- Theo Hồ Lê: Nguyên vị là đơn vị nhỏ nhất có ý nghĩa ngữ ngôn. Từ nguyên vị, không thể tách ra một đơn vị ngữ ngôn nào nhỏ hơn. Nói cách khác, nguyên vị không thể là kết quả của sự kết hợp của hai (hoặc nhiều) đơn vị ngôn ngữ. Từ nguyên vị chỉ có thể tìm thấy một đơn vị ngữ âm và chỉ một mà thôi, và đơn vị ngữ âm ấy chính là bản thân nguyên vị. Trong tiếng Việt, nguyên vị thường có hình thức một âm tiết.
Ví dụ: nhà, đi, đẹp, đẽ( trong đẹp đẽ), núc(trong bếp núc), ngoại, giao...
Nhưng bên cạnh đó, cũng có nguyên vị có hình thức cấu tạo nhiều âm tiết.
Ví dụ: ô tô, cà phê, ròng rọc, amiđan, axêtilen... [ 19, 75 ]
- Ðái Xuân Ninh cho rằng: Hình vị tiếng Việt là yếu tố nhỏ nhất về mặt tổ chức mà có ý nghĩa: ý nghĩa từ vựng hay ý nghĩa ngữ pháp. [ 22, 7 ].
Ðứng về mặt âm tiết, có thể chia hình vị tiếng Việt ra hai loại: loại đơn âm tiết ( ăn, uống, con, cái ), loại đa âm tiết ( cà phê, rađiô, ... thằn lằn, cà cuống,...) [ 22, 21 ]
II. CÁC QUAN NIỆM KHÁC NHAU VỀ TỪ TIẾNG VIỆT
 ( Xem bảng tổng kết các quan niệm khác nhau về từ tiếng Việt ) Nhìn chung có hai khuynh hướng :
1. Từ tiếng Việt trùng với âm tiết ( hay tiếng).
Tiêu biểu cho khuynh hướng này là M.B.Emenneu, Cao Xuân Hạo, Nguyễn Thiện Giáp.
- Emeneau định nghĩa: Từ bao giờ cũng tự do về mặt âm vị học, nghĩa là có thể miêu tả bằng những danh từ của sự phân phối các âm vị và bằng những thanh điệu. [ 8, 17 ]
 - Cao Xuân Hạo: Chúng ta hiểu tính đa dạng về tên gọi mà các tác giả khác nhau đã đề nghị cho đơn vị khác thường đó của các ngôn ngữ đơn lập là: tiết vị (syllabophoneme), hình tiết (morphosyllabeme), từ tiết (wordsyllabe), đơn tiết (monosyllabe) hoặc đơn giản là từ (word). Thực ra, nó chính là âm, hình vị hoặc từ và tất cả là đồng thời. Nếu chúng ta so sánh với các ngôn ngữ Châu Âu về cơ cấu xoay quanh ba trục được tạo thành bởi các đơn vị cơ bản là âm vị, hình vị và từ, thì cơ cấu của tiếng Việt hầu như là sự kết hợp ba trục đó thành một trục duy nhất, âm tiết. [ 8, 18]
- Nguyễn Thiện Giáp: Từ của tiếng Việt là một chỉnh thể nhỏ nhất có ý nghĩa dùng để tạo câu nói; nó có hình thức của một âm tiết, một khối viết liền . [ 8, 168 ] 2. Từ tiếng Việt không hoàn toàn trùng âm tiết:
- Trương Văn Chình, Nguyễn Hiến Lê: Từ là âm có nghĩa, dùng trong ngôn ngữ để diễn đạt một ý đơn giản nhất, nghĩa là ý không thể phân tích ra được. [ 8, 18 ] Thí dụ: bàn, ghế, thợ thuyền, gia đình , ....
- Nguyễn Văn Tu: Từ là đơn vị nhỏ nhất và độc lập, có hình thức vật chất (vỏ âm thanh là hình thức) và có nghĩa, có tính chất biện chứng và lịch sử. [8, 20] - Nguyễn Kim Thản: Từ là đơn vị cơ bản của ngôn ngữ có thể tách khỏi đơn vị khác của lời nói để vận dụng một cách độc lập và là một khối hoàn chỉnh về ngữ âm, ý nghĩa (từ vựng, ngữ pháp) và chức năng ngữ pháp.[ 8, 20 và 21 ]
- Hồ Lê: Từ là đơn vị ngữ ngôn có chức năng định danh phi liên kết hiện thực, hoặc chức năng mô phỏng tiếng động, có khả năng kết hợp tự do, có tính vững chắc về cấu tạo và tính nhất thể về ý nghĩa. [ 19, 104 ]
- Ðái Xuân Ninh: Từ là đơn vị cơ bản của cấu trúc ngôn ngữ ở giữa hình vị và cụm từ. Nó được cấu tạo bằng một hay nhiều đơn vị ở hàng ngay sau nó tức là hình vị và lập thành một khối hoàn chỉnh. [ 22, 24]
- Lưu Vân Lăng: ... Những đơn vị dùng tách biệt nhỏ nhất mới là từ. Có thể nói từ là đơn vị tách biệt nhỏ nhất. Nói cách khác, từ là ngữ đoạn (tĩnh) nhỏ nhất . [ 18, 213]. Từ có thể gồm nhiều tiếng không tự do hoặc chỉ một tiếng tự do hay nhiều tiếng tự do kết hợp lại không theo quan hệ thuần cú pháp tiếng Việt. [18, 214]. - Ðỗ Hữu Châu: Từ của tiếng Việt là một hoặc một số âm tiết cố định, bất biến, có một ý nghĩa nhất định, nằm trong một phương thức (hoặc kiểu cấu tạo) nhất định, tuân theo những kiểu đặc điểm ngữ pháp nhất định, lớn nhất trong từ vựng và nhỏ nhất để tạo câu.[ 4, 14 ] ........ Kết hợp các quan niệm về hình vị và từ có thể chia ra làm 3 nhóm ý kiến:
1.Từ Trùng âm tiết
2.Không hoàn toàn trùng âm tiết
3.Không hoàn toàn trùng âm tiết
Hình vị Trùng âm tiết
Trùng âm tiết
Không hoàn toàn trùng âm tiết
- Nhóm 2: Lê Văn Lý, Nguyễn Tài Cẩn, Nguyễn Văn Tu...
- Nhóm 3: Nguyễn Kim Thản, Hoàng Tuệ, Ðỗ Hữu Châu, Ðái Xuân
Nhóm 1: M.B.Emeneau, Nguyễn Thiện Giáp, Cao Xuân Hạo... - Ninh, Hồ Lê...
Tóm lại, do đứng từ các góc độ nghiên cứu đồng đại hay lịch đại khác nhau, do cách hiểu về khái niệm hình vị của Baudouin de Courtenay Ivan trong ngôn ngữ học đại cương khác nhau, dẫn đến cách chọn đơn vị cấu tạo từ tiếng Việt của các tác giả khác nhau, và theo đó, quan niệm về từ và cách xác định các kiểu cấu tạo từ cũng khác nhau.Phần tổng kết trên đã phần nào khái quát lên được tính phức tạp của tình hình nghiên cứu về từ trong tiếng Việt. Với tư cách là một giáo trình từ vựng tiếng Việt ở đại học - trang bị cho sinh viên ngành sư phạm Văn một kiến thức vững về vấn đề từ tiếng Việt phù hợp với những kiến thức được phân phối ở trường phổ thông - giáo trình này buộc phải chọn một trong các hướng giải quyết trên. Cho đến nay quan niệm có tính chất dung hòa nhất, phổ biến nhất, được nhiều người tán đồng, đặc biệt là phù hợp với chương trình giảng dạy ở phổ thông là ý kiến của các tác giả thuộc nhóm 2.
III. TỪ TIẾNG VIÊT VÀ ĐĂC ĐIỂM CỦA TỪ TIẾNG VIỆT
Trong phần mở đầu chúng ta đã bàn đến những đặc điểm chung của từ là có nghĩa hoàn chỉnh, mang tính cố định, sẵn có, bắt buộc, và là đơn vị nhỏ nhất tạo câu. Khảo sát tiếng Việt, có thể thấy từ tiếng Việt có những đặc điểm sau đây:
-Từ tiếng Việt có thể đơn tiết hoặc đa tiết. Những tiếng như quốc, gia, sơn, thủy...dàng, dãi ...,xà, phê, xít...dầu có những đơn vị có một nghĩa nào đó (nghĩa từ vựng hoặc nghĩa bổ sung) nhưng không có khả năng tồn tại độc lập trong câu mà phải kết hợp với một yếu tố khác, chẳng hạn như gia, hà, triều, dễ, phòng, cà, a,...trong những từ quốc gia, sơn hà, dễ dàng, dễ dãi, xà phòng, cà phê, a xít,... Dù trong nguyên ngữ, sơn, thủy, quốc, gia,...được sử dụng như từ, nhưng với tinh thần độc lập dân tộc, với sự sáng tạo của người Việt, chúng chỉ được sử dụng như đơn vị cấu tạo từ. Dù là sự lặp lại của dễ, nhưng dàng, dãi đã bị biến dạng, mất nghĩa và trở thành một yếu tố bổ sung, do đó dàng, dãi cũng không thể dược sử dụng độc lập như từ. Còn những yếu tố phê trong cà phê, xít trong a xít, ngay trong nguyên ngữ chúng cũng không phải là từ huống chi là trong tiếng Việt. Như vậy, bên cạnh những từ nhà, xe, tập, nói..., trong tiếng Việt còn có những từ dễ dãi, dễ dàng, quốc gia, tổ quốc, a xít, xà phòng, cà phê,..., tức những từ đơn âm tiết hoặc đa âm tiết.
- Từ tiếng Việt có thể có biến thể ngữ âm hoặc ngữ nghĩa nhưng không có biến thể hình thái học. Trong các ngôn ngữ ấu - Âu, từ có biến thể về mặt hình thái. Thí dụ: to go có thể có các biến thể goes, going, gone, went theo các quan hệ ngữ pháp khác nhau trong câu. Nhưng trong tiếng Việt không có biến thể hình thái học. Ði, học, nói...bất biến trong mọi quan hệ quan hệ ngữ pháp và chức năng ngữ pháp trong câu. Người miền Nam có thể nói trăng, trời uốn lưỡi, trong khi người miền Bắc nói giăng, giời, nhưng đấy không phải là biến thể hình thái học mà chỉ là sự biến âm do thói quen phát âm của địa phương.
-ý nghĩa ngữ pháp của từ không được biểu hiện trong nội bộ từ, mà được biểu hiện trong quan hệ giữa các từ trong câu. Trong các ngôn ngữ biến hình, nhìn vào hình thái của từ, người ta có thể xác định được ý nghĩa ngữ pháp của chúng ( Thí dụ: danh từ, dựa vào các hậu tố như -ion, -er, -or, -ment...; tính từ dựa vào -ive,- ful, -al,...).
Trong tiếng Việt, từ không có những dấu hiệu hình thức giúp xác định ý nghĩa ngữ pháp mà phải dưa vào các loại từ hay phó từ như con, cái, chiếc ( đối với danh từ), đã, đang, đang, sẽ, rất, hơi, khá...( đối với động từ và tính từ).
-ý nghĩa từ vựng và ý nghĩa ngữ pháp có quan hệ chặt chẽ. Chẳng hạn, ý nghĩa từ vựng của từ võng khác nhau trong những câu sau đây:
a. Võng anh đi trước, võng nàng theo sau.
b. Người ta võng anh ấy đến bệnh viện.
c. Tấm ván võng xuống.
Phải dựa vào chức năng ngữ pháp cụ thể ta mới xác định được ý nghĩa từ vựng của từng trường hợp.
IV. CÁC PHƯƠNG THỨC CẤU TẠO TỪ TIẾNG VIÊT
1/. Xác định đơn vị cấu tạo từ tiếng Việt.
ở bài giảng này, chúng tôi chọn (tiếng( làm đơn vị cấu tạo từ của tiếng Việt. Về mặt phát âm, mỗi tếng được tạo ra do một luồng hơi phát ra tự nhiên, kèm theo một thanh điệu nhất định. Về mặt văn tự, mỗi tiếng đồng nhất với một chữ.
Thí dụ: ăn học, nhà, cao, cửa, rộng, thiên, địa, đại, tiểu, vô, hữu...
Có thể chọn tiếng làm đơn vị cơ sở cấu tạo từ trong tiếng Việt bởi các lí do sau:
- Tiếng là đơn vị dễ nhận diện, quen thuộc đối với người Việt.
Nói theo Nguyễn Thiện Giáp, đấy là đơn vị tâm lí ngôn ngữ học. Ðối với người Việt, việc xác định số lượng âm tiết hay tiếng trong một câu văn, câu thơ không phải là một việc làm khó khăn.Thí dụ, trước câu thơ:
Trong đầm gì đẹp bằng sen,
Lá xanh bông trắng lại chen nhụy vàng.
Chúng ta dễ dàng xác định được ngay 14 tiếng bằng cách dựa vào số lần luồng hơi đi ra, hay dựa vào số lượng thanh điệu .
-Tiếng Việt là một ngôn ngữ đơn lập, đơn âm tiết tính.
Về hình thức, hầu hết những đơn vị nhỏ nhất có nghĩa trong tiếng Việt (tương đương một hình vị trong các ngôn ngữ ấn- Âu) đều trùng với âm tiết.
Thí dụ: nhà xe, tập ,viết,...quốc, gia, sơn, hữu, vô...Kể cả các trường hợp như dàng trong dễ dàng, dãi trong dễ dãi, xao trong xanh xao, xắn trong xinh xắn...ta đều có thể giải thích được ý nghĩa của chúng. Nghĩa của những đơn vị như nhà xe, tập ,viết,... ta dễ dàng xác định được. Còn nghĩa của quốc, gia, sơn, hữu, vô,...( những yếu tố Hán- Việt), ta có thể xác định được bằng cách đối chiếu từng đơn vị với hàng loạt từ có cùng yếu tố cấu tạo.Thí dụ đối chiếu quốc kì, quốc gia, tổ quốc, ái quốc,... ta xác định được quốc có nghĩa là nước; gia đình, tư gia, gia thất, gia chủ..., ta xác định được gia có nghĩa là nhà. Ðối với các trường hợp như dàng, dãi trong dễ dàng, dễ dãi, tuy bản thân chúng không có nghĩa rõ rệt nhưng ta có thể lí giải được nghĩa của chúng bằng phép trừ kết hợp với phương pháp đối chiếu. Thí dụ: nếu cho nghĩa của dễ dãi là x, nghĩa cũa dễ dàng là y, nghĩa của dễ là z, thì có thể xác định nghĩa của dãi bằng sai số x - z, và nghĩa của dàng bằng sai số y - z. Riêng các đơn vị cà, phê, rem trong cà phê, cà rem là những tiếng tự thân đều vô nghĩa, và ngay cả khi đặt chúng vào trong mối quan hệ với cả từ cũng không giải thích được ý nghĩa của chúng. Ðấy là những trường hợp được vay mượn từ các ngôn ngữ ấn- Âu hoặc một ngôn ngữ nào khác mà ta chưa xác định rõ nguồn gốc. Xét về mặt số lượng,những trường hợp này chiếm số lượng không nhiều, chính vì vậy trong thực tế nghiên cưú, đã có tác giả xếp chúng vào vùng ngoại biên hay ngoại lệ và xét riêng. Có một điều không thể phủ nhận được là những từ được vay mượn từ các ngôn ngữ ấn - Âu đều được âm tiết hóa và mang thanh điệu như tiếng Việt.
- Dựa vào những cứ liệu lịch sử , gần đây người ta đã khôi phục được nghĩa của nhiều yếu tố hiện mất hay mờ nghĩa trong tiếng Việt. Thí dụ: khứa trong khách khứa, han trong hỏi han, pheo trong tre pheo, núc trong bếp núc,...
2/. Phân loại tiếng:
Dựa vào các tiêu chí khác nhau, có thể có nhiều cách phân loại các đơn vị cấu tạo từ khác nhau. Một trong những cách có thể chấp nhận là dựa vào nội dung ý nghĩa và chức năng ngữ pháp. Dựa vào mặt nội dung, có thể phân (tiếng( thành hai loại sau:
a/ Tiếng có nghĩa thực:
Tiếng tự thân mang nghĩa, có thể được quy chiếu vào một đối tượng, một khái niệm nhất định.
Thí dụ: cây, cỏ, nước, hoa, sơn, thủy,...
b/ Tiếng không có nghĩa thực:
Tiếng tự thân không mang nghĩa, không quy chiếu được vào một đối tượng, một khái niệm nhất định. Thí dụ: lè (xanh lè), xống (áo xống), nhách (dai nhách), pheo (tre pheo), ... mì, chính ( mì chính), cà, phê ( cà phê),...
- Xét về năng lực hoạt động ngữ pháp ( có khả năng hoạt động tự do hay không ), có thể tiếng thành hai loại:
a/ Tiếng độc lập:
tiếng có thể hoạt động tự do trong lời nói với tư cách là từ.
Thí dụ: nhà, máy, hoa, cỏ, xanh, đỏ, tím vàng...
b/ Tiếng không độc lập:
tiếng không thể trực tiếp tham gia vào lời nói với tư cách là từ mà phải kết hợp với một yếu tố khác. Loại này gồm hai tiểu nhóm:
+ Những tiếng không độc lập, nhưng tự thân mang nghĩa thực, nghĩa từ vựng.
Thí dụ: kì trong quốc kì, thư trong thư mục, thảo trong thảo luận.
+ Những tiếng không độc lập và tự thân không mang nghĩa từ vựng, chỉ kết hợp hạn chế với một hay vài yếu tố khác.
Thí dụ: xôi trong xa xôi; sẽ trong sạch sẽ; a, xít trong a xít; mì, chính trong mì chính...
Kết hợp tiêu chí ý nghĩa và tiêu chí ngữ pháp có thể tổng kết các loại tiếng trong tiếng Việt như sau: Tiếng độc lập Tiếng không độc lập Tiếng có nghĩa thực nhà (nhà cửa),... quốc (quốc phòng) Tiếng không có nghĩa thực dãi (dễ dãi), cà( cà phê)
3. Các phương thức cấu tạo từ tiếng Việt.
Như ta đã biết, tiếng Việt là một ngôn ngữ đơn lập cho nên rất có thể khởi thủy từ của tiếng Việt chỉ gồm những yếu tố đơn âm tiết. Ðiển hình là những từ có từ lâu đời và biểu thị những khái niệm cơ bản trong tiếng Việt đều đơn âm tiết. Ngoài ra, gần đây, nhiều nhà nghiên cứu đã khôi phục được nghĩa của nhiều yếu tố mất nghĩa trong tiếng Việt. Do đó có thể nói xét về mặt lịch sử từ tiếng Việt được tạo nên bởi các con đường chủ yếu sau đây:
a. Sử dụng một tiếng độc lập để tạo một từ .
b. Kết hợp hai hay hơn hai tiếng có nghĩa lại với nhau theo một quan hệ nào đó để tạo từ. Cụ thể:
- Kết hợp 2 tiếng khác nhau theo quan hệ đẳng lập hay chính phụ.
Thí dụ: cà + chua = cà chua, hoa + hồng = hoa hồng nhà + cửa = nhà cửa, bánh + trái = bánh trái
c. Lặp lại một tiếng kèm theo theo sự biến đổi ngữ âm nhiều hay ít và có quy luật.
Thí dụ: tím + tím = tím tím hay tim tím ( trong trường hợp thứ nhất, thật ra có biến đổi ngữ âm nhưng ở mức độ rất nhỏ. âm thứ nhất được phát ra nhẹ hơn âm thứ hai. Trọng âm rơi vào âm thứ hai (0-1).
Thí dụ: đẹp + đẹp =đẹp đẹp hay đèm đẹp sạch + sạch = sành sạch hay sạch sẽ sát + sát = san sát
Ngoài ra, để biểu đạt khái niệm mới, người Việt còn làm giàu vốn từ của mình bằng cách vay mượn từ nước ngoài.
Thí dụ: buồng, chém, buồm, xe, ca, kíp, lốp,...bên cạnh tiểu, đại, hữu, vô, sơn, thủy,... a xít, cà phê, xà phòng...
Dĩ nhiên trong nguyên ngữ, hình thức ngữ âm và ý nghĩa của chúng không hoàn toàn giống như trong tiếng Việt. Ðể sử dụng được, người Việt đã đồng hóa chúng đến mức cao nhất.
Như vậy, trong một giai đoạn lịch sử cụ thể, trong hệ thống ngôn ngữ sẽ đồng thời xảy ra hiện tượng giữ lại từ cũ, cấu tạo từ mới, vay mượn từ mới.Trải qua thời gian hàng ngàn, hàng trăm năm, qua nhiều giai đoạn lịch sử, sự tác động của các nhân tố bên trong hệ thống ngôn ngữ cùng những nhân tố xã hội bên ngoài đã làm cho nghĩa của từ, hình thức ngữ âm của từ thay đổi đến mức những người Việt hiện đại khó có thể lí giải được một cách thỏa đáng mọi trường hợp.. Chính vì vậy ngày nay, việc xếp các từ vào một kiểu cấu tạo nào đó, độ chính xác của nó chỉ có tính tương đối mà thôi. Yêu cầu đặt ra cho chúng ta là phương pháp và tiêu chí xếp loại cần được đảm bảo và nhất quán. Ðứng trên góc nhìn đồng đại, dựa vào số lượng tiếng trong từ, có thể nói từ tiếng Việt được cấu tạo theo hai phương thức chủ yếu:
a. Sử dụng một tiếng độc lập để tạo một từ . ứng với phương thức cấu tạo từ này, ta có từ đơn.
b. Tổ hợp các tiếng lại theo một quan hệ nào đó để tạo từ. ứng với phương thức cấu tạo từ này, ta có từ phức.
Dựa vào quan hệ ngữ âm hay ý nghĩa, có thể phân từ phức thành ba loại:
-Tổ hợp các tiếng dựa trên quan hệ ý nghĩa. ứng với phương thức cấu tạo này ta có từ ghép.
Thí dụ: xe đạp, hoa hồng, nhà cửa, áo quần,...
-Tổ hợp các tiếng dựa trên quan hệ ngữ âm có tác dụng tạo nghĩa. ứng với phương thức cấu tạo này ta có từ láy.
Thí dụ: sạch sẽ, vắng vẻ, xinh xắn, ngậm ngùi,co ro, lảm nhảm,...
- Tổ hợp các tiếng một cách ngẫu nhiên do hiện tại ta không xác định được quan hệ ngữ âm hay ngữ nghĩa giữa các thành tố. ứng với phương thức cấu tạo này ta có từ ngẫu kết.
Thí dụ: xà phòng, cà phê, a xít, mè nheo, ba phải, ba hoa...
Tóm lại trong tiếng Việt có các kiểu cấu tạo từ sau:
Từ Từ đơn
Từ phức
Từ ghép
Từ ngẫu kết
Từ láy
V. CÁC KIỂU CẤU TẠO TỪ TIẾNG VIỆT
1. Từ đơn:
là những từ được cấu tạo bằng một tiếng độc lập.
Thí dụ: Nhà, xe, tập, viết, xanh,đỏ, vàng, tím,...
- Xét về mặt lịch sử, hầu hết từ đơn là những từ đã có từ lâu đời. Một số từ có nguồn gốc thuần Việt, một số từ vay mượn từ các ngôn ngữ nước ngoài như tiếng Hán, tiếng Pháp, Anh, Nga,...
- Xét về mặt ý nghĩa , từ đơn biểu thị những khái niệm cơ bản trong sinh hoạt của đời sống hàng ngày của người Việt, biểu thị các hiện tượng thiên nhiên, các quan hệ gia đình, xã hội , các số đếm,...
- Xét về mặt số lượng, tuy không nhiều bằng từ ghép và từ láy(Theo thống kê của A.Derode, từ đơn chiếm khoảng 25% trong tổng số từ tiếng Việt) nhưng là những từ cơ bản nhất, giữ vai trò quan trọng nhất trong việc biểu thị các khái niệm có liên quan đến đời sống và cấu tạo từ mới cho tiếng Việt.
2. Từ ghép:
là những từ có hai hoặc hơn hai tiếng được ghép lại với nhau dựa trên quan hệ ý nghĩa. Dựa vào quan hệ ngữ pháp giữa các yếu tố, có thể phân từ ghép ra làm 2 loại chính:
2.1. Từ ghép đẳng lập:
Từ ghép đẳng lập có những đặc trưng chung là:
- Quan hệ ngữ pháp giữa các thành tố trong từ là quan hệ bình đẳng.
- Xét về mặt quan hệ ý nghĩa giữa các thành tố có thể thấy:
+ Hoặc các thành tố đồng nghĩa nhau, trong đó:
* Có thể có một yếu tố thuần Việt và một yếu tố Hán Việt.
Ví dụ: bạn hữu, bụng dạ, máu huyết,...
* Có thể cả hai yếu tố đều là Hán Việt.
Ví dụ: tư duy, thổ địa, tiên lợi, cốt nhục,...
* Có thể cả hai yếu tố đều là thuần Việt.
Ví dụ: đợi chờ, máu mủ, xinh đẹp,...
* Có thể có một yếu tố toàn dân và một yếu tố vố là từ địa phương.
Ví dụ:Chân cẳng, bát đọi, chợ búa,...
+ Hoặc các thành tố gần nghĩa nhau.
Thí dụ: thương nhớ, nhà cửa, áo quần, ăn uống, đi đứng,...
+ Hoặc các thành tố trái nghĩa nhau.
Thí dụ: đầu đuôi, sống chết, già trẻ, gần xa, trong ngoài,...
- Xét về mặt nội dung, nói chung, từ ghép đẳng lập thường gợi lên những phạm vi sự vật mang ý nghĩa phi cá thể hay tổng hợp ( tức biểu thị sự vật, tính chất hay hành động chung, mang tính chất khái quát ).
- Tuy có quan hệ bình đẳng về mặt ngữ pháp, nhưng không đưa đến hệ quả là ý nghĩa từ vựng của các thành tố trong từ đều có giá trị ngang nhau trong mọi trường hợp. Như ta sẽ thấy, những trường hợp một trong hai thành tố phai mờ nghĩa xảy ra phổ biến trong từ ghép đẳng lập.
- Căn cứ vào vai trò của các thành tố trong việc tạo nghĩa và phạm vi biểu đạt của từ ghép, có thể phân từ ghép đẳng lập thành ba loại nhỏ là từ ghép đẳng lập gộp nghĩa, từ ghép đẳng lập đơn nghĩa và từ ghép đẳng lập hợp nghĩa.
+ Từ ghép đẳng lập gộp nghĩa: bao gồm những từ ghép thuộc mô hình ngữ nghĩa AB = A+B. Tức là loại mà nghĩa của từng thành tố cùng nhau gộp lại để biểu thị ý nghĩa khái quát chung của cả từ ghép, trong ý nghĩa chung đó có ý nghĩa riêng của từng thành tố. Chẳng hạn, từ quần áo chỉ đồ mặc nói chung, trong đó có cả quần lẫn áo. Một số ví dụ về từ ghép gộp nghĩa: điện nước, xăng dầu, tàu xe, xưa nay, chạy nhảy, học tập, nghe nhìn, thu phát, ăn uống, tốt đẹp, may rủi, hèn mọn,thầy trò, vợ con...
+ Từ ghép đẳng lập đơn nghĩa: bao gồm từ ghép thuộc mô hình ngữ nghĩa AB = A hoặc B. Tức là loại mà nghĩa khái quát chung của cả từ ghép tương ứng với ý nghĩa của một thành tố có mặt trong từ.
Ví dụ: núi non, binh lính, thay đổi, tìm kiếm,... Do nghĩa của cả từ ghép tương đương với nghĩa của một thành tố nên thành tố còn lại có xu hướng bị mờ nghĩa hoặc bị mất nghĩa. Yếu tố này sẽ làm chỗ dựa cho ý nghĩa của cả từ ghép. Có thể nói sự mờ nghĩa của núc (bếp núc), búa ( chợ búa), pheo ( tre pheo) ... chính là kết quả cực đoan của mô hình đơn nghĩa này. Một số ví dụ về từ ghép đẳng lập đơn nghĩa: bếp núc, chợ búa, đường sá, heo cúi, áo xống, ăn mặc, ăn nói, viết lách, ...
+ Từ ghép đẳng lập hợp nghĩa: bao gồm những từ ghép nằm trong mô hình ngữ nghĩa AB > A+B . Tức là loại mà ở đó nghĩa của cả từ không phải chỉ là phép cộng đơn thuần nghĩa của các thành tố, mà nó là sự tổng hợp nghĩa của các thành tố kèm theo sự trừu tượng hóa dựa trên cơ sở liên tưởng ẩn dụ hay hoán dụ. Do đó nghĩa của cả từ mới hơn so với nghĩa của từng thành tố.
Thí dụ, đất nước không phải chỉ đất và nước nói chung hay chỉ đất hoặc nước, mà hai yếu tố được hợp lại để chỉ lãnh thổ của một quốc gia trong đó có những nét tiêu biểu là đất và nước. Trường hợp non sông, sông núi, sơn hà cũng vậy. Một ví dụ khác, ruột thịt không phải chỉ ruột hay thịt nói chung mà cả hai hợp lại hợp lại để chỉ quan hệ máu mủ, huyết thống. Hay gan dạ để chỉ sự mạnh mẽ, không lùi bước trước nguy hiểm cũng là một trường hợp tương tự. Chú ý về trật tự các thành tố trong từ ghép đẳng lập. Bàn về từ ghép đẳng lập, người ta thường bàn đến khả năng hoán vị giữa các thành tố. Tuy nhiên cần chú ý là khả năng ấy không xảy ra phổ biến đối với toàn bộ lớp từ ghép đẳng lập, và không phải xảy ra vô điều kiện trong mọi trường hợp. Về hiện tượng này có thể nêu mấy nhận xét chung như sau: + Có thể hoán vị được đối với một số từ ghép gộp nghĩa trường hợp không có yếu tố Hán - Việt.
Thí dụ: quần áo - áo quần, rủi may - may rủi, tươi tốt - tốt tươi,...
+ Khả năng hoán vị ít xảy ra giữa các thành tố trong từ ghép đơn nghĩa, đặc biệt đối với trường hợp từ ghép có yếu tố mờ nghĩa, mất nghĩa.
+ Khả năng hoán vị bị sự khống chế của một số yêu cầu:
* Không được phép làm thay đổi ý nghĩa của từ ghép ban đầu.
Ví dụ: đi lại - lại đi ; cơm nước - nước cơm khác nghĩa.
* Không đi ngược lại tập quán cổ truyền của dân tộc.
Ví dụ: nam nữ - nữ nam; ông bà - bà ông, anh em - em anh, vua quan - quan vua,... không hoán vị được.
* Không tạo nên những trật tự khó đọc. Chẳng hạn: sửa chữa dễ đọc hơn chữa sửa.
2.2 Từ ghép chính phụ:
Là những từ ghép mà ở đó có ít nhất một thành tố cấu tạo nằm ở vị trí phụ thuộc vào một thành tố cấu tạo khác, tức trong kiểu từ ghép này thường có một yếu tố chính và một yếu tố phụ về mặt ngữ pháp. Loại này có những đặc điểm sau:
 - Xét về mặt ý nghĩa, nếu từ ghép đẳng lập có khuynh hướng gợi lên các sự vật, tính chất có ý nghĩa khái quát, tổng hợp, thì kiểu cấu tạo từ này có khuynh hướng nêu lên các sự vật theo mang ý nghĩa cụ thể.
 - Trong từ ghép chính phụ, yếu tố chính thường giữ vai trò chỉ loại sự vật, đặc trưng hoặc hoạt động lớn, yếu tố phụ tường được dùng để cụ thể hóa loại sự vật, hoạt động hoặc đặc trưng đó.
- Căn cứ vào vai trò của các thành tố trong việc tạo nghĩa, có thể chia từ ghép chính phụ thành hai tiểu loại:
+ Từ ghép chính phụ dị biệt: là từ ghép trong đó yếu tố phụ có tác dụng phân chia loại sự vật, hoạt động, đặc trưng lớn thành những loại sự vật , hoạt động, đặc trưng, cụ thể. Vì vậy có thể nói tác dụng của yếu tố phụ ở hiện tượng này là tác dụng phân loại.
Thí dụ : · máy may, máy bay, máy bơm, máy nổ, máy tiện,... · làm việc, làm thợ , làm duyên, làm ruộng, làm dâu,... · vui tính, vui tai, vui mắt, vui miệng,... Chú ý, ở kiểu từ ghép này trật tự của các yếu tố trong từ ghép thuần Việt, hoặc Hán - Việt Việt hoá khác từ ghép Hán - Việt. ở hai trường hợp đầu, yếu tố chính thường đứng trước, ở trường hợp cuối, yếu tố phụ thường đứng trước.
Ví dụ: · vùng biển, vùng trời, xe lửa, nhà thơ,... · hải phận, không phận, hỏa xa, thi sĩ,...
+ Từ ghép chính phụ sắc thái hóa: là những từ ghép trong đó thành tố phụ có tác bổ sung một sắc thái ý nghĩa nào đó khiến cho cả từ ghép này khác với thành tố chính khi nó đứng một mình như một từ rời, hoặc khiến cho từ ghép sắc thái hóa này khác với từ ghép sắc thái hóa khác về ý nghĩa. Thí dụ , so sánh xanh lè với xanh và xanh biếc, ...
3. Từ láy:
Cho đến nay, nhiều vấn đề của từ láy vẫn là những vấn đề còn để ngỏ.Về phương thức cấu tạo của từ láy, tồn tại hai ý kiến khác nhau:
a.Từ láy là từ được hình thành do sự lặp lại của tiếng gốc có nghĩa ;
b. Từ láy là từ được hình thành bằng cách ghép các tiếng dựa trên quan hệ ngữ âm giữa các thành tố.
Theo ý kiến thứ nhất chỉ mới có thể lí giải được một số từ láy xác định được tiếng gốc, bên cạnh những từ ấy còn rất nhiều từ hiện không xác định được tiếng gốc (ví dụ: bâng khuâng, lẩm cẩm, bủn rủn, lã chã,...), hoặc những từ có dạng láy nhưng thực ra chúng vốn được tạo ra từ phương thức ghép ( ví dụ: hỏi han, chùa chiền, dông dài, tang tóc,...). Nhìn nhận từ láy theo ý kiến thứ hai lại không có tác dụng giúp ta thấy được những nét độc đáo về mặt ngữ nghĩa của kiểu cấu tạo từ này, không thấy được nét riêng của dân tộc ta trong việc sáng tạo những từ ngữ mới nhằm định danh sự vật mới một cách tiết kiệm mà lại có khả năng miêu tả sinh động, biểu cảm nhất. Có thể nói ý kiến thứ nhất đã nêu ra được những từ láy chân chính trong tiếng Việt. Tuy nhiên cần nhận thức được rằng ngôn ngữ không đứng yên mà luôn vận động, thay đổi theo sự phát triển của xã hội. Trong quá trình đó, những từ ghép có dạng láy và những từ láy chân chính đã hòa lẫn vào nhau mà ngay cả những nhà ngôn ngữ học cũng khó phát hiện và phân biệt được chúng trong nhiều trường hợp. Gần đây trong nhiều bài viết, các tác giả đã khôi phục được nghĩa của nhiều từ ghép có dạng láy bị mất nghĩa. Dẫu sao những từ này hiện nay cũng đã mang nhiều đặc điểm của từ láy ( về mặt ngữ nghĩa cũng như ngữ âm). Trong khi chờ đợi những cứ liệu lịch sử đầy đủ hơn nữa, có thể xem chúng là từ láy. Do vậy, đứng tên quan điểm đồng đại có thể nói từ láy là những từ gồm nhiều tiếng, giữa các tiếng có quan hệ ngữ âm có tác dụng tạo nghĩa.
3.1. Ðặc điểm của từ láy:
- Giữa các tiếng trong từ láy có quan hệ với nhau về mặt ngữ âm, biểu hiện ở một trong các dạng sau :
+ Hoặc giống nhau ở phần phụ âm đầu.
Thí dụ: vắng vẻ, vui vẻ,...
+ Hoặc giống nhau ở phần vần.
Thí dụ: co ro, lác đác, lung túng,...
+ Hoặc giống nhau ở cả phần phụ âm đầu lẫn phần vần.
Thí dụ: đo đỏ, hao hao,... + Riêng thanh điệu, ở từ láy đôi thường tuân theo quy tắc biến thanh sau: Cao _ / ? Thấp \ . ~
- Mối quan hệ về mặt ngữ âm trong từ láy tạo nên sự hòa phối ngữ âm có tác dụng biểu trưng hóa ( Hoàng Văn Hành), tức là tạo ra một thứ ý nghĩa biểu trưng, ý nghĩa ấn tượng mà người bản ngữ tỏ ra nhạy cảm với nó hơn so với người không phải thuộc bản ngữ. Ðó là lí do giải thích vì sao trong tiếng Việt tồn tại nhiều từ láy rất khó lòng giải nghĩa, nhưng người bản ngữ nói chung vẫn cảm nhận được cái hay, vẫn dùng đúng và hiểu đúng, nhưng khó có thể giải thích tính đúng, tính hay đó cho người ngoại quốc học tiếng Việt. Chính vì vậy ở những từ ghép có các thành tố còn rõ nghĩa và có hiện tượng lặp âm ngẫu nhiên như tươi tốt, nam nữ, mặt mũi, hầm hố,...nhưng người bản ngữ không hề nghĩ đến chúng như là từ láy. ở đây ý nghĩa của từng thành tố trong từ còn quá rõ, chúng đã cản trở việc tạo ra một thứ ý nghĩa vốn mơ hồ, yếu ớt, mặc dù khá ổn định. Và ngược lại, khi trong từ ghép đẳng lập có xuất hiện yếu tố mờ nghĩa, người ta dễ cảm thụ chúng như là từ láy. Ðó là lí do giải thích tại sao những từ chùa chiền, hỏi han, đất đai, chim chóc, tuổi tác được nhiều người lĩnh hội như là từ láy.
- Từ đó dẫn đến đặc điểm thứ ba, trong từ láy phải có ít nhất một yếu tố không độc (mờ nghĩa hay mất nghĩa). Như vậy, từ láy trong tiếng Việt có thể xảy ra hai trường hợp:
a - Từ láy có một yếu tố độc lập ( hay tiếng gốc) và một yếu tố không độc lập ( hay tiếng láy);
b - Từ láy có cả hai yếu tố đều không độc lập ( hay từ láy không có tiếng gốc).
3.2 . Phân loại từ láy:
Kết hợp tiêu chí số lượng tiếng với các bộ phận giống nhau trong từ, có thể phân từ láy thành các loại sau:
- Từ láy đôi là từ láy gồm có 2 tiếng. Có các dạng cấu tạo láy đôi sau:
+ Từ láy bộ phận: Từ giống nhau ở phần vần hoặc phụ âm đầu.
* Giống nhau ở phụ âm đầu gọi là từ láy âm => thí dụ: sạch sẽ, dễ dàng, dễ dãi, đông đúc,...).
* Giống nhau ở phần vần gọi là từ láy vần => thí dụ: chói lọi, khéo léo, co ro, lanh chanh, ...)
+ Từ láy hoàn toàn: Ngoại trừ những từ láy bộ phận, còn lại là các từ láy hoàn toàn. Cụ thể gồm các dạng sau:
* Giống cả phần vần, phụ âm đầu và thanh điệu. Thí dụ: đùng đùng, lù lù, vàng vàng,...
* Giống phần vần, phụ âm đầu, khác nhau thanh điệu. Thí dụ: đu đủ, cỏn con, đo đỏ, tím tím,...
* Giống nhau phụ âm đầu và âm chính, khác nhau ở thanh điệu và phụ âm cuối do sự chi phối của quy luật dị hóa. Thí dụ: đèm đẹp, bàng bạc,sành sạch, tôn tốt,... Dạng biến đổi này xảy ra trong các trường hợp các tiếng gốc có phụ âm cuối là -p, -t, -k ( thể hiện trên chữ viết là c và ch ). Trong trường hợp này, thanh điệu cũng biến đổi theo quy luật vừa nói trên. Còn phụ âm cuối biến đổi theo quy luật là tiếng gốc tận cùng bằng các phụ âm tắc-vô thanh sẽ được chuyển thành các phụ âm mũi-hữu thanh ở tiếng láy. Cụ thể: Tiếng gốc Tiếng láy ( Âm tắc, vô thanh) ( Âm mũi - hữu thanh) ăm ấp - p - m phơn phớt - t - n bàng bạc, sành sạch - k - ng ( thể hiện trên chữ ng và nh) - Từ láy ba và láy tư: Từ láy ba: chủ yếu dựa trên cơ chế láy hoàn toàn. Thí dụ: nhũn => nhũn nhùn nhùn, dưng => dửng dừng dưng, khỏe => khỏe khoè khoe, con => cỏn còn con. xốp => xốp xồm xộp, sát => sát sàn sạt, khít => khít khìn khịt, Sạch => sạch sành sanh Từ láy ba có kiểu phối thanh thường gặp là: -Tiếng thứ hai mang thanh bằng (thường xuất hiện thanh huyền hơn thanh ngang). -Tiếng thứ nhất và tiếng thứ ba đối lập nhau về bằng / trắc hoặc về âm vực cao / thấp. Ví dụ cho trường hợp thứ nhất: dửng dừng dưng, cỏn còn con, sạch sành sanh, khỏe khòe khoe,... Ví dụ cho trường hợp thứ hai: khít khìn khịt, sát sàn sạt, xốp xồm xộp,... Từ láy ba dạng láy bộ phận chiếm số lượng rất ít. Ví dụ: tơ lơ mơ, tù lù mù,... Từ láy tư: Phần lớn từ láy dựa trên cơ sở từ láy đôi, một số ít có phần gốc là từ ghép. So với từ láy ba, từ láy tư khá đa dạng về kiểu cấu tạo. Sau đây là một số kiểu thường gặp: + Láy bộ phận kết hợp với đổi vần -a, -à hay -ơ. Ví dụ: ấm ớ --- ấm a ấm ớ hì hục --- hì hà hì hục sớn sát --- sớn sơ sớn sát + Láy toàn bộ kết hợp với biến thanh. Ví dụ: bồi hồi --- bổi hổi bồi hồi lảm nhảm --- lảm nhảm làm nhàm + Láy bộ phận kết hợp với tách, xen . Ví dụ: thơ thẩn --- lơ thơ lẩn thẩn nhồm nhoàm --- lồm nhồm loàm nhoàm + Láy toàn bộ kết hợp với tách, xen Ví dụ: hăm hở --- hăm hăm hở hở vội vàng --- vội vội vàng vàng
3 3. ý nghĩa của từ láy.
ở đây, ta chủ yếu bàn về từ láy đôi. Xét tác dụng của các tiếng tham gia cấu tạo nghĩa của từ láy, có thể chia từ láy nói chung thành 3 nhóm :
a. Từ láy phỏng thanh:
là từ láy trong đó không xác định được tiếng gốc, các tiếng được hình thành và được ghép lại dựa vào sự mô phỏng âm thanh của các sự sật, hiện tượng trong thực tế. Cụ thể, đấy có thể là sự nhại lại âm thanh của đối tượng. Ví dụ: oa oa, gâu gâu, đùng đùng,...; hay dựa vào mô phỏng âm thanh để định danh cho đối tượng. Thí dụ: con bìm bịp, xe cút kít, chim tu hú,...
b. Từ láy sắc thái hóa:
là những từ mà trong đó có một yếu tố gốc và một hoặc hơn một yếu tố láy . Yếu tố gốc chi phối nghĩa của toàn bộ từ láy, yếu tố còn lại có tác dụng bổ sung một sắc thái nghĩa nào đó khiến cho từ láy khác với phần gốc khi nó đứng một mình và khác với từ láy khác có cùng yếu tố gốc. Ví dụ, so sánh bối rối với rối rắc rối, rối ren, rối rít; dễ dãi với dễ, dễ dàng; xanh xanh với xanh và xanh xao,...Xét về mặt phạm vi biểu vật của từ láy so với tiếng gốc, cần phân biệt hai trường hợp: thứ nhất là từ láy phi cá thể hóa - những từ mà ý nghĩa biểu thị phạm vi sự vật rộng hơn so với tiếng gốc; thứ hai là từ láy cụ thể hóa những từ mà ý nghĩa biểu thị phạm vi sự vật hẹp hơn so với tiếng gốc. Ví dụ cho trường hợp thứ nhất như: chim chóc, mùa màng, hội hè,...Ví dụ cho trường hợp thứ hai như: dễ dàng, dễ dãi, bối rối, rắc rối, rối rít, xanh xanh, xanh xao,... Có thể nêu ra một số mô hình ngữ nghĩa tương đối thuần nhất của một số kiểu láy như sau:
- Kiểu từ láy toàn bộ:
+ Tiếng gốc gốc tính từ, kiểu L( láy).G( gốc).
* L. có thanh bằng: thường diễn đạt tính chất hoặc đặc điểm mang ý nghĩa giảm nhẹ.
Ví dụ: kha khá, đo đỏ, tôn tốt,...
* L. có thanh trắc: thường diễn đạt tính chất hoặc đặc điểm có cường độ gia tăng.
Ví dụ: cỏn con, tẻo teo,... + Tiếng gốc gốc động từ: thường diễn đạt các hành động lặp đi lặp lại một cách đều đặn và kèm với quá trình lặp lại đó, cường độ của hành động mang tính chất giảm nhẹ.
 Ví dụ: gật gật, lắc lắc, rung rung,...
+ Tiếng gốc gốc danh từ: thường diễn tả sự lặp đi lặp lại của các sự kiện, hiện tượng.
Ví dụ: ngày ngày, người người, nhà nhà,...
- Kiểu láy âm:
* Kiểu G. L( -ăn): thường diễn tả tính chất hoặc đặc điểm đạt chuẩn mực.
Ví dụ: đầy đặn, vuông vắn, ngay ngắn, thẳng thắn,...
* Kiểu L (-âp). G ( gốc động từ) : thường diễn tả hành động không ổn định tại chỗ hoặc diễn ra theo tình thế hiện ra biến mất.
Ví dụ: lấp ló, thập thò, nhấp nháy,...
c. Từ láy âm cách điệu:
là từ láy không chứa bộ phận còn đủ rõ nghĩa từ vựng, hoặc vẫn có thể chứng minh nghĩa của một bộ phận nào đó nhưng nó không còn tác dụng làm cơ sở nghĩa của toàn từ nữa. Ví dụ: bâng khuâng, linh tinh, thình lình,...Lọai này hiện chiếm một số lượng khá lớn trong tiếng Việt. Theo Diệp Quang Ban, đây là kiểu láy thuần khiết nhất, tiêu biểu cho toàn bộ từ láy - một kiểu cấu tạo từ lấy sự hòa phối ngữ âm tạo ý nghĩa biểu trưng làm cơ sở. Về mô hình ngữ nghĩa của kiểu từ láy này vẫn là một vấn đề còn đang để ngỏ. Phi Tuyết Hinh trong bài Từ láy không rõ thành tố gốc và vấn đề biểu trưng ngữ âm trong từ biểu tượng tiếng Việt đã cố gắng mô hình hóa nghĩa của kiểu từ này dựa vào các đặc điểm cấu âm - âm học của chúng.
4.Từ ngẫu hợp :
Ngoại trừ các trường hợp trên, còn lại là các từ ngẫu hợp. Ðấy là trừơng hợp mà giữa các tiếng không có quan hệ ngữ âm hay ngữ nghĩa.
Thí dụ: cà phê, a xít, a pa tít,...cổ hũ, mè nheo, ba láp, ba hoa, bồ hóng,... Chú ý:
1. Hiện tượng chuyển di kiểu cẩu tạo từ trong tiếng Việt: Không kể từ đơn và từ ngẫu hợp, tiếng Việt có 3 kiểu cấu tạo từ cơ bản cùng với các kiểu nhỏ là:
- Từ ghép đẳng lập: gộp nghĩa, hợp nghĩa, đơn nghĩa.
- Từ ghép chính phụ: dị biệt, sắc thái hoá.
- Từ láy: phỏng thanh, sắc thái hóa, cách điệu.
Xét các đơn vị trên trục đồng đại hay lịch đại, ở bình diện ngôn ngữ hay lời nói, việc nhận thức về kiểu cấu tạo lớn nhỏ của chúng có thể di chuyển khá phức tạp, làm cho con đường phân giới giữa chúng có thể bị nhòe đi. Trong những trường hợp đó, nếu thiên về mặt này thì từ đang xét được xếp vào kiểu cấu tạo này, nhưng nếu thiên về mặt khác thì nó thuộc kiểu cấu tạo khác. Chẳng hạn từ chùa chiền, đất đai, hỏi han, xét về mặt lịch sử chúng là từ ghép đẳng lập, tuy nhiên do sự tác động của phương thức cấu tạo từ và mô hình ngữ nghĩa ( nghĩa khái quát của A+B = A hoặc B) đã làm cho nghĩa của một trong hai yếu tố bị mờ nghĩa. Ngoài ra do sự trùng hợp ngẫu nghiên về mặt ngữ âm đã làm cho người bản ngữ hiện đại nhận diện chúng như là những từ láy. Xuất phát từ đặc điểm vừa nêu, trong tiếng Việt ngày nay tồn tại nhiều từ có thể có hai hướng nhìn nhận như học hành, hình hài, nhăn nheo, chăm chú, đền đài,...
Như vậy, để biện luận kiểu cấu tạo của một từ, cần dựa vào một tiêu chí rõ ràng, dứt khoát. Trong khi chờ đợi những phát hiện mới mẻ hơn nữa của ngôn ngữ học lịch sử, ta có thể dựa vào tiêu chí đồng đại để xác định kiểu cấu tạo của từ. Việc nhận thức các tiểu loại trong từ ghép đẳng lập cũng không nhất thành bất biến nếu xét từ ở bình diện ngôn ngữ hay lời nói. Trong sử dụng có thể xảy ra hiện tượng chuyển di từ tiểu loại này sang tiểu loại khác đối với những từ cụ thể.
Ví dụ:
- Cửa hàng ăn uống ( gộp nghĩa); ở đây ăn uống khá thật ( rất có thể là đơn nghĩa, chỉ nói về ăn đối với các nhà ăn tập thể).
- Cơm nước đã sẵn sàng ( gộp nghĩa); cơm nước chán quá ( rất có thể đơn nghĩa).
- Ăn ở dơ dáy ( gộp nghĩa); ăn ở với nhau được hai mụn con ( chỉ sự chung sống với nhau ), ăn ở chí tình sự ( chỉ sự cư xử với nhau trong xã hội).
Hai trường hợp sau này chúng được chuyển nghĩa trên cơ sở nghĩa thứ nhất. Do đó muốn xác định được kiểu cấu tạo của chúng ta phải dựa vào ngữ cảnh cụ thể và biện luận rõ ràng.
2. Các tiêu chí xác định các kiểu cấu tạo từ trong tiếng Việt.
Như ta đã biết, vốn từ tiếng Việt vô cùng phong phú, mỗi từ đều được cấu tạo theo một phương thức nhất định và mang một ý nghĩa nhất định. Các kiểu cấu tạo từ giữ vai trò quan trọng trong việc tạo nên nội dung ý nghĩa của từ. Chính vì vậy, trong chương trình Tiếng Việt ở bậc phổ thông cơ sở và trung học, nội dung xác định các kiểu cấu tạo từ rất được những nhà giáo dục quan tâm. Tuy nhiên ở các cấp học này vấn đề tiêu chí xác định các kiểu cấu tạo từ không phải đã sáng rõ, đặc biệt là ranh giới giữa từ láy và từ ghép. Ðể có thể xác định các kiểu cấu tạo từ tiếng Việt một cách nhất quán, cần dựa trên những tiêu chí rõ ràng. Dựa vào những vấn đề có tính chất lí thuyết về các kiểu cấu tạo từ tiếng Việt đã nêu, ta có thể nêu lên và áp dụng một cách tuần tự các tiêu chí xác định các kiểu cấu tạo từ tiếng Việt sau dây:
- Về góc nhìn, trong khi chờ đợi những cứ liệu lịch sử đủ rõ, ta có thể xét từ tiếng Việt dựa trên quan điểm đồng đại, tức dựa vào sự nhận thức chung của người bản ngữ đương đại về nghĩa của các yếu tố cấu tạo từ.
- Dựa vào số lượng tiếng trong từ. Nếu từ có một tiếng ( dĩ nhiên là tiếng độc lập) thì đó là từ đơn. Nếu từ có hơn một tiếng thì đó là từ phức.
- ở những từ phức, để xác định cụ thể các kiểu cấu tạo từ, ta lại tiếp tục dựa vào quan hệ giữa các thành tố.
+ Nếu giữa các thành tố trong từ phức có quan hệ với nhau về mặt ngữ âm, đồng thời trong đó có yếu tố không độc lập và không mang nghĩa thực thì đó là từ láy ( Ví dụ: vắng vẻ, dễ dàng, sạch sẽ,...). Tiêu chí này sẽ loại trừ các trường hợp các từ ghép có quan hệ ngẫu nhiên về mặt ngữ âm ( như hầm hố, máu mủ, tốt tươi,...). ở những từ láy ta lại tiếp tục dựa vào số lượng tiếng, dựa vào các bộ phận giống nhau trong từ để xác định các từ láy đôi, láy ba, các từ láy bộ phận hay hoàn toàn, láy âm hay láy vần.
+ Nếu giữa các thành tố trong từ phức có quan hệ với nhau về mật ngữ nghĩa thì đó là từ ghép. ở từ ghép, ta lại tiếp tục dựa vào các mô hình ngữ nghĩa cụ thể của từng từ để xác định các kiểu cấu tạo cụ thể. Nếu một tổ hợp tiếng gợi lên các sự vật mang ý nghĩa khái quát, tổng loại thì đó là từ ghép đẳng lập. Còn nếu một tổ hợp nêu lên một phạm vi sự vật mang ý nghĩa cụ thể thì đó là từ ghép chính- phụ.
+ Nếu giữa các thành tố không có quan hệ ngữ âm hoặc ngữ nghĩa thì đó là từ ngẫu hợp.
VI. NGỮ CỐ ĐỊNH
1.Khái niệm.
Ngữ cố định là các cụm từ đã được cố định hóa cho nên cũng có tính chất chặt chẽ, cố định, sẵn có, và cũng có chức năng tạo câu giống như từ. Có 2 loại ngữ cố định: Thành ngữ và quán ngữ.
2. Thành ngữ.
2.1. Ðặc điểm của thành ngữ:
a. Tính biểu trưng.
Biểu trưng là lâý những vật thực, việc thực làm biểu tượng để nêu những hiện tượng tính chất có tính trừu tượng, khái quát.
b. Tính dân tộc và tính cụ thể.
 Do thành ngữ mang tính biểu trưng nên đồng thời nó cũng mang tính dân tộc. Tính dân tộc biểu hiện ở tư liệu được dùng làm biểu trưng và phương thức biểu trưng ở từng thành ngữ cụ thể. Tính cụ thể biểu hiện ở thái độ đánh giá của người nói đối với sự vật hiện tượng được nói đến và phạm vi được sử dụng của từng thành ngữ.
c. Tính điệp và đối.
Tính điệp và đối biểu hiện ở mặt quan hệ ngữ âm và ý nghĩa giữa các thành tố trong thành ngữ.
2.2. Phân loại thành ngữ.
a. Dựa vào tiêu chí cấu tạo.
Có thể phân thành ngữ thành hai loại: Thành ngữ có kết cấu cụm từ và thành ngữ có kết cấu câu.
b. Dựa vào tiêu chí nguồn gốc.
Thành ngữ có thể được phân thành hai loại:Thành ngữ thuần Việt và thành ngữ vay mượn.
c. Dựa vào tiêu chí biểu trưng.
Có thể phân thành ngữ thành hai loại: Thành ngữ mang tính biểu trưng thấp và thành ngữ mang tính biểu trưng cao.
2.3. Phân biệt thành ngữ và tục ngữ.
2.4. Giá trị sử dụng của thành ngữ.
Giá trị sử dụng của thành ngữ xuất phát chính từ những đặc điểm của thành ngữ. Tính biểu trưng giúp sự diễn đạt bằng thành ngữ vừa mang tính hình ảnh, vừa hàm súc, cô đọng. Tính dân tộc, tính cụ thể giúp thành ngữ diễn đạt được một cách vừa cụ thể, vừa chính xác hiện thực khách quan kèm theo thái độ, sự đánh giá tinh tế của người nói. Tính điệp và đối giúp sự diễn đạt bằng thành ngữ giàu nhạc tính, dễ đi vào lòng người và dễ nhớ.