THÔNG BÁO

  THỜI GIAN GẦN ĐÂY MỘT SỐ BẠN LỢI DỤNG  WEBSITE NÀY ĐỂ ĐƯA RA NHỮNG PHÁT NGÔN KHÔNG TỐT. CHO NÊN CHÚNG TÔI TẠM THỜI ĐÓNG WEBSITE LẠI ĐỂ NÂNG CẤP NHẰM HẠN CHẾ MỘT SỐ HÀNH VI KHÔNG TỐT LÀM ẢNH HƯỞNG ĐẾN DIỄN ĐÀN .CÁC BẠN CÓ THẮC MẮC XIN LIÊN HỆ : phanthanhhung90@gmail.com
Chương I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ VĂN HỌC TRUNG ĐẠI VIỆT NAM
I. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU VĂN HỌC TRUNG ĐẠI
Xét trong toàn bộ tiến tŕnh văn học dân tộc, văn học trung đại Việt Nam có một vị trí đặc biệt quan trọng, bởi, suốt hàng ngh́n năm phát triển, văn học trung đại đă phản ánh được đất nước Việt, con người Việt, đồng thời là ư thức của người Việt về tổ quốc, dân tộc. Nền văn học ấy đă nảy sinh từ chính quá tŕnh đấu tranh dựng nước, giữ nước vĩ đại của dân tộc, đồng thời lại là sức mạnh tham gia vào quá tŕnh đấu tranh này. Chính từ văn học trung đại, những truyền thống lớn trong văn học dân tộc đă h́nh thành, phát triển và ảnh hưởng rất rơ đến sự vận động của văn học hiện đại. V́ lẽ đó, nghiên cứu văn học trung đại nhằm mục đích:
- T́m về với quá khứ hào hùng của dân tộc trong một ngh́n năm dựng nước và giữ nước
- Nâng cao ḷng tự hào về truyền thống văn hóa của dân tộc
- T́m hiểu những nét đặc sắc trong đời sống vật chất và tinh thần của người Đại Việt xa xưa
- Góp phần lư giải các quy luật phát triển của văn học dân tộc.
II. NHỮNG YÊU CÂUD CÓ TÍNH PHƯƠNG PHÁP LUẬN KHI NGHIÊN CỨU VHTĐ
- Phải đảm bảo yêu cầu trung thực, khách quan, không vơ đoán, phiến diện.
- Phải có lượng kiến thức phong phú về ngôn ngữ, triết học, sử học.. đặc biệt là những hiểu biết về lịch sử và văn chương Trung Quốc.
- Phải đặt văn học trung đại trong mối quan hệ với văn học dân gian và văn học hiện đại để t́m ra sự kế thừa, phát triển.
III. NHỮNG KHÓ KHĂN KHI NGHIÊN CỨU VĂN HỌC TRUNG ĐẠI
- Kho tàng VHTĐ đă mất mát khá nhiều theo thời gian do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan:
+ Do chiến tranh, loạn lạc, sách vở bị thiêu hủy.
+ Do các vụ án chính trị có dính dáng đến các nho sĩ quan liêu, lực lượng sáng tác chủ yếu của văn học trung đại.
+ Do công tác bảo tồn, sưu tầm tư liệu chưa được quan tâm đúng mức.
- Một số tác phẩm chưa xác định được thời điểm ra đời, tác giả, tính chính xác của văn bản..
- Việc tiếp cận, đánh giá tác phẩm khó tránh khỏi suy diễn, áp đặt do thiếu tư liệu để kiểm chứng.
 IV. CƠ SỞ HỆ Ư THỨC VÀ QUAN ĐIỂM SÁNG TÁC
1.Cơ sở hệ ư thức:
VHTĐ được sáng tác dựa trên cơ sở hệ ư thức Nho- Phật- Lăo, chủ yếu là đạo Nho. Ảnh hưởng của các học thuyết triết học này đă dẫn đến việc h́nh thành những nét đặc thù trong quan niệm của con người trung đại về:
+ Bản chất của vũ trụ
+ Không gian và thời gian
+ Thiên nhiên
+ Con người Những quan niệm này có quan hệ đến việc h́nh thành những đặc trưng về nội dung và h́nh thức nghệ thuật của văn chương trung đại. V́ vậy, muốn lư giải những vấn đề thuộc về bản chất của văn chương trung đại, cái hay, cái đẹp của các tác phẩm thời trung đại, tất yếu, phải dựa trên cơ sở những quan niệm nghệ thuật đặc thù về thế giới và đời sống con người ở thời kỳ trung đại.
2. Về quan niệm sáng tác
Văn học viết là sản phẩm của trí thức dân tộc. Ngày xưa, các tầng lớp trí thức luôn chịu ảnh hưởng rơ rệt của Nho học. Từ lâu, Nho gia đă gắn văn với đạo: Văn sở dĩ tải đạo dă. Chu Đôn Di đời Tống, qua nhận định của ḿnh, thừa nhận một quan niệm rất quan trọng của rất nhiều thế hệ Nho gia trước đó về tính chất và ư nghĩa của văn học. Quan niệm này coi văn là cái h́nh thức, cái để chứa, để chuyên chở đạo lư. V́ vậy, đạo mới chính là nội dung. Mệnh đề văn dĩ tải đạo và thi ngôn chí có thể khái quát được một cách căn bản quan niệm sáng tác của các nhà văn thời trung đại. Người xưa đời hỏi tác phẩm phải thực sự chân thành, văn học phải là tiếng nói phát ra từ đáy ḷng nhưng nội dung đó phải được thống nhất trong một h́nh thức đẹp để phục vụ, làm cho nội dung thêm hay. Do nhận thức rằng văn là dùng để biểu hiện các chân lư phổ biến, là h́nh thức đẹp để chuyển tải nội dung đi xa (Ngôn nhi vô văn, hành chi bất viễn- Khổng Tử) nên ở thời kỳ trung đại, phạm vi của văn học được quan niệm rất rộng. Từ công việc chép sử, luận triết học, viết chiếu, chế, biểu, cáo, hịch,.. đều trau chuốt h́nh thức câu văn sao cho ư đẹp lời hay. Văn dùng để chuyên chở đạo lư nên người xưa rất xem trọng văn chương. Nó có chức năng giáo hóa (giáo dục, làm thay đổi nhân cách của con người theo hướng tốt đẹp hơn) và di dưỡng tính t́nh (giúp bản thân nhà văn thanh lọc tâm hồn, bày tỏ tâm sự trung quân ái quốc, nuôi dưỡng nhân cách người quân tử). Nh́n chung, quan niệm Văn chở đạo ảnh hưởng rất rơ đến mục đích viết văn, phạm vi đề tài, h́nh thức thể hiện. Tuy nhiên, càng tách rời khỏi giáo điều Nho gia, càng gần với thực tế cuộc sống dân tộc, các tác giả trung đại càng phát huy được mặt tích cực của quan niệm đó. Xu hướng này thể hiện rất rơ trong suốt chiều dài phát triển của VHTĐ. V. PHÂN KỲ LỊCH SỬ VHTĐ
Lịch sử văn học luôn quan hệ mật thiết với vận mệnh dân tộc, đến cuộc đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc. Mỗi khi dân tộc bước vào một thử thách mới, lập tức, nội dung văn học cũng phải có sự chuyển biến và dần dần diễn ra những thay đổi về nội dung, h́nh thức thể hiện. Lịch sử văn học có những quy luật nội tại và tính độc lập tương đối của nó. Trong từng giai đoạn, có thể không có sự trùng hợp hoàn toàn giữa lịch sử văn học và lịch sử dân tộc nhưng vẫn có thể căn cứ vào lịch sử dân tộc để phân kỳ lịch sử văn học, bởi, xét đến cùng, văn học bao giờ cũng là tấm gương phản ánh trung thành thời đại. Căn cứ vào các yếu tố lịch sử, đặc trưng nội dung và h́nh thức nghệ thuật, có thể phân kỳ lịch sử VHTĐ VN như sau:
+ Giai đoạn văn học Lư- Trần (Từ TK XI đến TK XIV)
+ Giai đoạn văn học đời Lê (TK XV)
+ Giai đoạn văn học từ TK XVI đến nửa đầu TK XVIII
+ Giai đoạn văn học từ nửa sau TK XVIII đến nửa đầu TK XIX
+ Giai đoạn văn học nửa cuối TK XIX (Văn học yêu nước chống Pháp)
VI. NHỮNG ĐẶC ĐIỂM
1. Chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa nhân đạo- hai ḍng chủ lưu của VHTĐVN. 
a. Chủ nghĩa yêu nước:
Văn hóa Đại Việt, văn chương Đại Việt khởi nguồn từ truyền thống sản xuất và chiến đấu của tổ tiên, từ những thành tựu văn hóa và từ chính thực tiễn hàng ngh́n năm đấu tranh chống giặc ngoại xâm phương Bắc. Hiếm thấy một dân tộc nào trên thế giới lại phải liên tục tiến hành những cuộc chiến tranh chống giặc ngoại xâm như dân tộc Việt Nam. Nhà Tiền Lê, nhà Lư chống Tống. Nhà Trần chống Nguyên Mông. Nhà Hậu Lê chống giặc Minh. Quang Trung chống giặc Thanh. Những cuộc kháng chiến vệ quốc vĩ đại được tiến hành trong trường kỳ lịch sử nhằm bảo vệ nền độc lập, thống nhất của Tổ quốc không những tôi luyện bản lĩnh dân tộc, nâng cao ḷng tự hào, tự tin, khí thế hào hùng của dân tộc mà c̣n góp phần làm nên một truyền thống lớn trong văn học Việt Nam: Chủ nghĩa yêu nước. Đặc điểm lịch sử đó đă quy định cho hướng phát triển của văn học là phải luôn quan tâm đến việc ca ngợi ư chí quật cường, khát vọng chiến đấu, chiến thắng, ḷng căm thù giặc sâu sắc, ư thức trách nhiệm của những tấm gương yêu nước, những người anh hùng dân tộc quên thân ḿnh v́ nghĩa lớn. Có thể nói, đặc điểm này phản ánh rơ nét nhất mối quan hệ biện chứng giữa lịch sử dân tộc và văn học dân tộc. Quá tŕnh đấu tranh giữ nước tác động sâu sắc đến sự phát triển của văn học, bồi đắp, phát triển ư thức tự hào dân tộc, tinh thần độc lập tự chủ. Cho nên, chế độ phong kiến có thể hưng thịnh hay suy vong nhưng ư thức dân tộc, nội dung yêu nước trong văn học vẫn phát triển không ngừng. Các tác phẩm văn học yêu nước thời kỳ này thường tập trung thể hiện một số khía cạnh tiêu biểu như: -
 T́nh yêu quê hương
- Ḷng căm thù giặc
- Yï thức trách nhiệm
- Tinh thần vượt khó, sẵn sàng hy sinh v́ Tổ quốc
- Ư chí quyết chiến, quyết thắng
- Đề cao chính nghĩa của người Việt Nam trong những cuộc kháng chiến.
b. Chủ nghĩa nhân đạo
Văn học do con người sáng tạo nên và tất yếu nó phải phục vụ trở lại cho con người. V́ vậy, tinh thần nhân đạo là một phẩm chất cần có để một tác phẩm trở thành bất tử đối với nhân loại. Điều này cũng có nghĩa là, trong xu hướng phát triển chung của văn học nhân loại, VHTĐVN vẫn hướng tới việc thể hiện những vấn đề của chủ nghĩa nhân đạo như:
- Khát vọng ḥa b́nh
- Nhận thức ngày càng sâu sắc về nhân dân mà trước hết là đối với những tầng lớp thấp hèn trong xă hội phân chia giai cấp
- Đấu tranh cho hạnh phúc, cho quyền sống của con người, chống lại ách thống trị của chế độ phong kiến.
- Ca ngợi vẻ đẹp của con người lao động
- Tố cáo mạnh mẽ và đấu tranh chống những thế lực phi nhân.
2. Văn học viết phát triển dựa trên những thành tựu của văn học dân gian
- Văn học viết Việt Nam hay bất kỳ một nền văn học dân tộc nào khác đều phải phát triển trên cơ sở kế thừa những tinh hoa của văn học dân gian. Trong t́nh h́nh cụ thể của VHTĐVN, mối quan hệ giữa văn học viết và văn học dân gian chủ yếu là do các nguyên nhân sau:
+ Sau khi nước nhà độc lập, nhu cầu thiết yếu mà nhà nước phong kiến Việt Nam cần phải chú ư là việc xây dựng một nền văn hóa mang đậm bản sắc dân tộc, chống lại âm mưu bành trướng, đồng hóa của kẻ thù phương Bắc và nâng cao ḷng tự hào dân tộc.
+ Những tác phẩm bằng chữ Hán trong thời kỳ này thường dễ xa lại với quần chúng b́nh dân, tác phẩm ít được truyền tụng rộng răi. V́ vậy, càng về sau, nhu cầu quần chúng hóa, dân tộc hóa tác phẩm ngày càng mạnh mẽ. Trong quá tŕnh giải quyết vấn đề này, chỉ có văn học dân gian là nhân tố tích cực nhất. Quá tŕnh kế thừa, khai thác VHDG là một quá tŕnh hoàn thiện dần các yếu tố tinh lọc từ VHDG bắt đầu từ thơ ca Nguyễn Trăi về sau (Thời Lư- Trần, việc tiếp thu nguồn VHDG chưa được đặt ra đúng mức).
+ Văn học viết tiếp thu từ văn học dân gian chủ yếu là về đề tài, thi liệu, ngôn ngữ, quan niệm thẩm mỹ, chủ yếu là khía cạnh ngôn ngữ và thể loại.
+ Trong quá tŕnh phát triển, hai bộ phận luôn có mối quan hệ biện chứng, tác động, bổ sung lẫn nhau để cùng phát triển (Những tác động trở lại của văn học viết đối với văn học dân gian.
3. Văn học viết phát triển dựa trên cơ sở tiếp thu, tinh lọc những yếu tố tích cực của hệ ư thức nước ngoài
- Sự du nhập của các học thuyết vào Việt Nam chủ yếu do các nguyên nhân sau:
+ Vấn đề giao lưu văn hóa giữa các dân tộc là một vấn đề mang tính quy luật. Từ xưa, nước ta và các vùng phụ cận đă có sự giao lưu văn hóa nhưng chỉ trong phạm vi hẹp, chủ yếu là từ Trung Quốc sang.
+ Hơn 1000 năm bắc thuộc, dân tộc ta không tránh khỏi bị ảnh hưởng bởi sự bành trướng văn hóa và nhất là âm mưu đồng hóa của kẻ thù. Những tên quan lại phương Bắc sang đô hộ Việt Nam không chỉ bóc lột, vơ vét tài nguyên mà c̣n truyền bá rộng răi các học thuyết triết học có nguồn gốc từ Trung Quốc vào Việt Nam một cách khéo léo và thâm hiểm.
+ Khi nhà nước phong kiến VN bắt đầu h́nh thành, giai cấp thống trị không có mẫu mực nào khác hơn là nhà nước PK TQ đă tồn tại trước đó hàng ngh́n năm và có rất nhiều kinh nghiệm trong việc lợi dụng các học thuyết triết học như một công cụ đắc lực trong việc củng cố ngai vàng, thống trị nhân dân.
- Các học thuyết Nho- Phật- Lăo đều có những điểm tích cực nhất định nên các nhà tư tưởng lớn của Việt Nam thời Trung đại đă chú ư khai thác, tinh lọc, vận dụng sao cho nét tích cực đó phát huy tác dụng trong hoàn cảnh cụ thể của từng giai đoạn lịch sử.
4. Văn học chữ Hán phát triển song song với văn học chữ Nôm
Ngay từ khi được các nhà văn mạnh dạn đưa vào sáng tác văn học, chữ Nôm ngày càng khẳng định vị trí của ḿnh bên cạnh chữ Hán vốn đă có ảnh hưởng sâu sắc trong văn học thời Lư Trần. Sự phát triển của Văn học chữ Nôm khẳng định ư thức dân tộc phát triển ngày càng cao, biểu hiện ḷng tự hào, ư thức bảo vệ ngôn ngữ, văn hóa dân tộc chống lại âm mưu đồng hóa của kẻ thù. Ở thời Lư, Trần, việc sử dụng chữ Nôm trong sáng tác văn học chưa được phổ biến. Từ thế kỷ XV về sau, Nguyễn Trăi đă mạnh dạn đưa chữ Nôm vào sáng tác văn học. Thơ ông tuy chưa được trau chuốt nhưng đậm đà bản sắc dân tộc.Thành công của Nguyễn Trăi chính là tiền đề cho con đường phát triển của văn học chữ Nôm đến đỉnh cao Truyện Kiều.
5. Thơ phát triển sớm và mạnh hơn văn xuôi.
Ở thời trung đại, văn chính luận mang tính quan phương chủ yếu là công cụ của nhà nước phong kiến. Mặt khác, những đặc thù trong tư duy nghệ thuật, truyền thống sáng tác dẫn đến một thực tế là các tác phẩm văn xuôi h́nh tượng chỉ chiếm một số lượng khiêm tốn so với các tác phẩm thơ ca. Thể thơ thường sử dụng nhất trong VHTĐ là thơ Đường luật. Đây là hệ quả của quá tŕnh giao lưu văn hóa lâu dài và nằm trong quan niệm thẩm mỹ của các nhà thơ cổ điển. Trong thời kỳ này, thơ Đường luật đă được chính quy hóa trong văn chương trường ốc và văn chương cử tử. Cho nên, sự thống trị văn đàn của thơ Đuờng luật trong bất kỳ một tập thơ nào thời trung đại là một điều dễ hiểu. Tuy nhiên, việc sử dụng thơ Đường luật với tư cách là một thể thơ chính thống trong các kỳ thi và trong sáng tác đă gây không ít trở ngại trong nội dung thể hiện do bị chi phối bởi sự ngặt nghèo của luật thơ chặt chẽ. Ở thời Nguyễn Trăi, thơ luật Đường biến thể thành thơ thất ngôn xen lục ngôn đầy sáng tạo, độc đáo, phóng khoáng, rất phù hợp với cách nghĩ, cách nói, tâm lư của dân tộc nên được một số nhà thơ đời sau tiếp tục sử dụng (Lê Thánh Tông, Nguyễn Bỉnh Khiêm).
6. Việc sử dụng điển tích và các h́nh ảnh tượng trưng ước lệ- những thủ pháp nghệ thuật được sử dụng phổ biến trong văn chương trung đại
Để miêu tả, người ta cho rằng cần phải có những mẫu mực mà qua nhiều thời kỳ đă được mặc nhiên chấp nhận sử dụng. Quan điểm ước lệ không chú ư đến logic đ̣i sống, đến mối quan hệ thực tế của các h́nh ảnh mang tính chất mẫu mực, công thức. V́ thế, khi phân tích các h́nh ảnh ước lệ, chúng ta không cần đặt vần đề có lư hay không có lư, đúng hay không đúng thực tế mà chỉ xem xét sức mạnh khơi gợi của h́nh tượng có sâu sắc hay không, h́nh tượng có được dùng đúng t́nh đúng cảnh và thể hiện được tư tưởng t́nh cảm của nhà thơ hay không.
VII. NHẬN XÉT CHUNG VỀ TIẾN TR̀NH VHTĐ