THÔNG BÁO

  THỜI GIAN GẦN ĐÂY MỘT SỐ BẠN LỢI DỤNG  WEBSITE NÀY ĐỂ ĐƯA RA NHỮNG PHÁT NGÔN KHÔNG TỐT. CHO NÊN CHÚNG TÔI TẠM THỜI ĐÓNG WEBSITE LẠI ĐỂ NÂNG CẤP NHẰM HẠN CHẾ MỘT SỐ HÀNH VI KHÔNG TỐT LÀM ẢNH HƯỞNG ĐẾN DIỄN ĐÀN .CÁC BẠN CÓ THẮC MẮC XIN LIÊN HỆ : phanthanhhung90@gmail.com
MẤY VẤN ĐỀ CHUNG
I. KHÁI QUÁT VỀ NGÔN NGỮ HỌC VĂN BẢN VÀ NGỮ PHÁP HỌC VĂN BẢN

Đại mục I gồm 2 mục:
1. Sự h́nh thành ngôn ngữ học văn bản và ngữ pháp học văn bản
2. Đối tượng và nhiệm vụ của ngôn ngữ học văn bản và ngữ pháp học văn bản
1. Sự h́nh thành ngôn ngữ học văn bản và ngữ pháp học văn bản
1.1 Lí do ra đời của ngôn ngữ học văn bản và ngữ pháp học văn bản
Loài người đă nghiên cứu ngôn ngữ từ rất sớm nhưng đến nay, nhiều vấn đề căn bản của ngôn ngữ học vẫn chưa đạt được sự nhất trí triệt để. Việc giải đáp khác nhau về hai câu hỏi: ngôn ngữ là ǵ, ngôn ngữ học nghiên cứu cái ǵ và phạm vi nghiên cứu tới đâu đă khiến ngôn ngữ học truyền thống có những khiếm khuyết nhất định. Những khiếm khuyết đó là cơ sở cho sự ra đời của ngôn ngữ học văn bản và ngữ pháp học văn bản.
a. Khiếm khuyết trong quan niệm về ngôn ngữ và ngôn ngữ học
Ai cũng hiểu ngôn ngữ học là khoa học nghiên cứu ngôn ngữ. Nhưng ngôn ngữ là ǵ? Có thể thấy, ở ta ngôn ngữ là một từ nhiều nghĩa. Nó có thể được hiểu là tiếng nói của một tộc người, hoặc là đặc trưng phong cách lời nói của một cá nhân, hoặc là công cụ chủ yếu mà con người dùng để giao tiếp xă hội bất kể là tiếng nói của tộc người nào và cũng có thể được hiểu là một hệ thống bất ḱ (âm thanh, mùi vị, màu sắc, động tác cơ thể...) được con người hoặc động vật dùng để giao tiếp với nhau. Liệu ngôn ngữ học có nghiên cứu ngôn ngữ với tất cả các nghĩa ấy không? Đầu thế kỉ XX, Ferdinand de Saussure (1857-1913) là người đầu tiên phát biểu một quan niệm rơ ràng về ngôn ngữ trong ngôn ngữ học. Theo ông, các tộc người đều có hoạt động ngôn ngữ (langage). Trong hoạt động ấy có một bộ phận cốt yếu gọi là ngôn ngữ (langue). Đó là một hợp thể gồm những quy ước tất yếu được tập thể xă hội chấp nhận, để các cá nhân vận dụng chung trong nói năng. Những quy ước tất yếu ấy là những thực thể tồn tại trong bộ óc của một cộng đồng ngôn ngữ. Đó là một kho tàng được thực tiễn nói năng của những người thuộc cùng một cộng đồng ngôn ngữ lưu lại, là một hệ thống tín hiệu, một hệ thống ngữ pháp tồn tại dưới dạng thức tiềm năng trong mỗi bộ óc, hay, nói cho đúng hơn, trong các bộ óc của một tập thể (1) Ông phân biệt rơ hai khái niệm ngôn ngữ và lời nói. Lời nói là biểu hiện trong thực tế của ngôn ngữ, là ngôn ngữ đang ở dạng hoạt động. Lời nói là sản phẩm của từng cá nhân, tất nhiên có những giá trị riêng nhưng đồng thời lại chứa đựng những giá trị chung v́ đă sử dụng những tín hiệu và những quy ước có tính xă hội, được cả xă hội chấp nhận. Ông cũng chỉ rơ mối quan hệ biện chứng giữa hai khái niệm này: Hoạt động ngôn ngữ có một mặt cá nhân và một mặt xă hội và không thể quan niệm mặt này mà thiếu mặt kia được (...), hai đối tượng này gắn bó khăng khít với nhau và giả định lẫn nhau (2). Ngôn ngữ là mặt trừu tượng và lời nói là mặt cụ thể của hoạt động ngôn ngữ, của chỉnh thể ngôn ngữ dân tộc. Về đối tượng của ngôn ngữ học và ngữ pháp học, theo Saussure, Có thể tạm thời giữ danh từ ngôn ngữ học cho cả hai ngành học và nói đến một ngành ngôn ngữ học của lời nói. Nhưng không nên lẫn lộn nó với cái thật sự là ngôn ngữ học mà đối tượng duy nhất là ngôn ngữ (3). Cách hiểu của Saussure là rạch ṛi, chính xác. Học thuyết của ông đă tạo tiền đề lí luận cho nhiều trường phái ngôn ngữ học của thế giới nửa đầu thế kỉ XX và được coi là đă tạo ra một cuộc cách mạng trong ngôn ngữ học. Tuy nhiên, những mâu thuẫn mà Sausure chưa vượt qua cũng đă để lại những khiếm khuyết rơ ràng. Trước hết, người đời sau dễ phạm lỗi đánh tráo khái niệm: từ ngôn ngữ trong ngôn ngữ học khi th́ được hiểu chỉ là mặt trừu tượng tức là hệ thống các đơn vị ngữ âm, từ vựng và ngữ pháp được dùng làm công cụ giao tiếp quan trọng nhất của con người, là một hiện tượng xă hội đặc biệt, là một hệ thống kí hiệu đặc biệt, có quan hệ biện chứng với tư duy, tồn tại ở thế tiềm năng trong trí óc của một tập thể; khi th́ được hiểu là thực thể bao gồm mặt ngôn ngữ (theo nghĩa trên) và cả mặt biểu hiện trong thực tế của nó - lời nói. Hệ quả là, trong các sách ngôn ngữ học, đơn vị từ, khi th́ được coi là đơn vị ngôn ngữ lớn nhất, là đơn vị nhỏ nhất để đặt câu, khi th́ được coi là đơn vị ngôn ngữ nhỏ nhất; c̣n câu, khi th́ được coi là đơn vị ngôn ngữ, khi th́ được coi là đơn vị của lời nói (1) Khiếm khuyết thứ hai là việc nghiên cứu lời nói thực chất đă bị gạt ra ngoài lĩnh vực ngôn ngữ học. Ngữ pháp học, một bộ phận quan trọng của ngôn ngữ học, được hiểu là có nhiệm vụ nghiên cứu các quy tắc biến h́nh từ, cấu tạo từ và quy tắc kết hợp các từ để tạo nên câu nói. Theo quan niệm này, từ là đơn vị lớn nhất của hệ thống ngôn ngữ. Trong hệ thống ngôn ngữ, không c̣n đơn vị nào cũng có h́nh thức ngữ âm và ư nghĩa cụ thể mà lại lớn hơn từ (...) (2). Câu do các từ ngữ cấu tạo nên, là kết cấu các đơn vị ngôn ngữ đồng thời cũng là đơn vị của lời nói, của ngôn từ, của văn bản (...) câu thuộc một b́nh diện khác hẳn với b́nh diện của các đơn vị ngôn ngữ (...) câu... cũng như các đơn vị của lời nói lớn hơn câu, không thuộc vào hệ thống các đơn vị ngôn ngữ . Nó là một đại lượng toàn vẹn mà các nhà ngôn ngữ học có thể dựa vào để nghiên cứu mọi điều về ngôn ngữ; giữa các câu trong lời nói có thể có nhiều mối quan hệ nhưng không thể có quan hệ ngữ pháp nào hết (3). Cách lập luận có tính "cưa đứt đục suốt" như trên chưa giải đáp được triệt để thắc mắc đại loại: tại sao lời nói - ngôn ngữ ở dạng hoạt động - lại không phải là ngôn ngữ, tại sao ngôn ngữ ở dạng hoạt động lại không thể là đối tượng nghiên cứu của ngôn ngữ học? Tại sao các quy tắc kết hợp các câu, các kết cấu trên câu để tạo nên văn bản cũng được cả xă hội chấp nhận lại không phải là các quy tắc ngữ pháp? Phải chăng cần xem xét lại quan niệm coi lời nói như một bộ phận bên lề, bên ngoài của ngôn ngữ học trong khi đă khẳng định mối quan hệ giữa ngôn ngữ và lời nói là khắng khít với nhau và giả định lẫn nhau, là không thể quan niệm mặt này mà thiếu mặt kia được? Phải chăng cần có một quan niệm "động" về thuật ngữ ngôn ngữ, để từ đó, có thể coi các đơn vị ngôn ngữ không chỉ gồm h́nh vị, từ mà c̣n bao gồm câu, các đơn vị trên câu và ngữ pháp không chỉ là hệ thống các quy tắc biến h́nh từ, cấu tạo từ, kết hợp từ để tạo nên câu mà c̣n là các quy tắc kết hợp các câu để tạo nên các đơn vị trên câu, các quy tắc kết hợp các đơn vị trên câu để tạo nên văn bản? Có thể nói các quy tắc kết hợp các câu, các đơn vị trên câu chính là sự phản ánh các quy luật tư duy vào lĩnh vực ngôn ngữ, chính là một trong những biểu hiện của mối quan hệ biện chứng giữa ngôn ngữ và tư duy.
b. Khiếm khuyết trong thực tế nghiên cứu ngôn ngữ Aristote (384-322 trước công nguyên) đă sáng lập logic học và cùng với nó là ngữ pháp học logic, thứ ngữ pháp c̣n ảnh hưởng sâu đậm trong nhà trường cho đến ngày nay. Xét mối quan hệ giữa ngôn ngữ và tư duy, ông đă chỉ ra: cái diễn đạt khái niệm là từ ngữ, cái diễn đạt phán đoán là câu và cái diễn đạt các suy luận, các chứng minh là nhiều câu. Suy luận diễn dịch trực tiếp có thể được diễn đạt trong một, hai câu, suy luận diễn dịch gián tiếp thông thường phải từ ba câu trở lên v.v... Nói cách khác, dường như cái gọi là nhiều câu này chỉ có quan hệ với nhau về mặt tư tưởng và logic. Nhiều câu ấy không phải là một chỉnh thể ngôn ngữ mà chỉ là sự lắp ghép các câu và câu đă mặc nhiên được coi là cấu tạo ngôn ngữ lớn nhất. Ở Ấn Độ, khoảng bốn, năm trăm năm trước công nguyên, Panini đă cho ra đời bộ Ngữ pháp tiếng Sanskrit gồm 8 tập, mỗi tập 8 chương, với tổng cộng 3996 quy tắc ngữ âm, ngữ pháp đảm bảo việc đọc hiểu một cách quy phạm bộ Kinh Vê Đa đồ sộ. Tuy nhiên, Panini không coi bộ Kinh là một đơn vị ngôn ngữ. Đó là một tác phẩm, một tổng đại thành gồm nhiều tập, nhiều chương và rất nhiều câu. Người Trung Hoa cổ có một lối nghiên cứu ngôn ngữ riêng. Họ đă sớm lập ra huấn hỗ học, tự thư học và âm vận học để nghiên cứu sâu sắc nghĩa chữ, h́nh chữ và cách phát âm các chữ trong kho tàng chữ của người Trung Quốc. Câu và các kết hợp câu là đối tượng nghiên cứu của các ngành khoa học khác. Cho đến cuối những năm 50 của thế kỉ này, ngôn ngữ học truyền thống đă tự giới hạn sự nghiên cứu ngôn ngữ ở cấp độ câu. V́ những ǵ ở trên câu, ngoài câu đă thuộc về lời nói cá nhân. Theo Antoine Meillet (1866-1949), câu là một tập hợp cấu âm gắn bó với nhau bằng quan hệ ngữ pháp và tự bản thân nó được xem là đầy đủ v́ không phụ thuộc vào một tập hợp nào khác về mặt ngữ pháp. Theo Leonard Bloomfield (1887-1949), mỗi câu là một h́nh thức ngôn ngữ độc lập, được phân biệt nhờ sự chuyển âm hoặc ngữ điệu. Câu là một kết cấu trong phát ngôn (ngôn từ, ngôn bản, văn bản) đang xét không phải là một bộ phận của kết cấu lớn hơn nào. Theo Emile Benveniste (1902-1976), câu là đơn vị cơ bản của lời nói, của ngôn từ, của văn bản. (Dẫn theo Cao Xuân Hạo, Sđd) Ở Việt Nam, theo Ngữ pháp tiếng Việt, của Ủy ban khoa học xă hội Việt Nam, Câu là đơn vị dùng từ hay đúng hơn dùng ngữ mà cấu tạo nên trong quá tŕnh tư duy thông báo; nó có nghĩa hoàn chỉnh, có cấu tạo ngữ pháp và có tính chất độc lập (1) Nh́n chung, ngữ pháp học truyền thống quan niệm câu là kết cấu các đơn vị ngôn ngữ, là đơn vị tư duy, thông báo có kết cấu nội bộ, có tính chất độc lập, hoàn chỉnh về cấu trúc, trọn vẹn về ư nghĩa. Sau từ, trên từ không có đơn vị ngôn ngữ nào khác nữa. Quan niệm trên đă có chỗ đứng vững chắc trong nhận thức về ngôn ngữ và đơn vị ngôn ngữ của nhiều thế hệ, có tác dụng giúp mọi người nhận biết những điểm sai, đúng, hay của nhiều câu viết và viết được nhiều câu đúng ngữ pháp. Nó có tác dụng tích cực trong việc dạy thực hành tiếng cho thế hệ trẻ trong các nhà trường. Nhưng quan niệm trên chưa thật thỏa đáng. Trước hết, có thể dễ dàng thấy: quả có nhiều câu viết có tính chất độc lập nhưng đa số câu không hoàn toàn có tính độc lập. Thí dụ: - Các cháu ngoan. Học thuộc bài. Vâng lời cha mẹ. Đừng đánh con chó nhỏ Mariuưt của các cháu. (Trích Thư chú Nguyễn, Tiếng Việt lớp hai, 1982) - Trung thu này Bác không có ǵ gửi tặng các cháu. Chỉ gửi tặng các cháu nhiều cái hôn. (Trích Nhân dịp tết Trung thu... , Trích giảng văn học lớp 6) - Đó là con người có tinh thần tự giác cao, có đầy đủ quyết tâm và nghị lực để vượt qua mọi khó khăn, hoàn thành nhiệm vụ. Là con người lao động thật thà, ghét lối ăn bám, dối trá, làm dối, nói dối. Là con người lao động có kỉ luật, có kĩ thuật, có năng suất cao... (Trích Xây dựng con người mới, Lê Duẩn, Trích giảng văn học lớp 9) Rơ ràng, hầu hết các câu của mỗi thí dụ trên đều không có tính độc lập hoàn toàn. Nh́n rộng ra, có thể thấy, câu trong văn bản văn chương và báo chí cũng không hoàn toàn theo các quan niệm truyền thống về câu. Chẳng hạn bài Mơ mù u của H. Kim đăng trên báo Tuổi trẻ ngày 23-9-1995 sau đây: Ở Mỹ Tho, trong khởi nghĩa Nam Kỳ năm 1940, hầu như nhà nào cũng có mơ mù u. Để đánh giặc, giặc Tây, giặc trộm cướp. Để họp dân, tập họp dân quân. Triệu tập, "oánh" thưa tiếng: cum... cum... cum... Báo động Tây càn, "oánh" dồn dập từng hồi. Rồi oánh chuyền từ nhà này sang nhà khác. Chừng như khắp xóm làng đồng nước, mơ mù u tham gia đánh giặc... vang trời. Tới thời đánh Mỹ, dạo Đồng khởi, dân Bến Tre xài mơ mù u nhiều. Khó có thể nói văn bản trên phạm nhiều lỗi ngữ pháp. Nó đă được ban biên tập báo cân nhắc kĩ và chọn dùng làm bài đăng nhân dịp kỉ niệm ngày Nam Bộ kháng chiến 23 tháng 9. Cách viết này cũng không có ǵ mới mẻ. Nó đă có từ trước rồi. Đây là văn Nam Cao trước Cách mạng: Không đầy một năm trời, bà thay đổi đến năm, sáu chủ. Mỗi lần đổi chủ là một lần hạ giá. Thoạt tiên cơm nuôi tháng một đồng. Rồi cơm nuôi, một năm bốn đồng. Rồi hai đồng. Rồi chẳng có đồng nào. (Một bữa no) Và đây là những câu văn của Hoài Thanh: ...Th́ ai chẳng nhận thế. Nhưng đă lâu lắm ta chỉ quen với món thất ngôn bát cú. Quen đến ngấy. (...) Nhạc điệu câu thơ cũng khác. V́ những chỗ ngắt hơi không nhất định. Nhất là v́ cái lối dùng chữ rớt đă được nhập tịch đường hoàng (...) .(1) Từ thực tế trên, có thể thấy:
1. Trong giao tiếp bằng ngôn ngữ, người ta ít khi chỉ dùng một câu hoặc những câu rời rạc, riêng rẽ; đa số trường hợp, phải dùng một tập hợp nhiều câu. Nói cách khác, câu mới chỉ là đơn vị nhỏ nhất có giá trị thông báo; muốn thực hiện tốt hoạt động tư duy và thông báo, ta phải dùng những cấu tạo ngôn ngữ lớn hơn câu.
2. Câu trong cấu tạo ngôn ngữ lớn hơn câu biến hóa rất đa dạng. Nhờ vào mối quan hệ tương tác giữa chúng và với cả tập hợp câu mà câu có thể độc lập hoặc không có tính độc lập, có thể trọn vẹn về ư nghĩa hoặc chứa nhiều yếu tố chỉ rơ nghĩa nếu liên hệ với các câu xung quanh. Lí thuyết coi câu như một đơn vị ngôn ngữ lớn nhất, cuối cùng của ngôn ngữ học trở nên thiếu chính xác, thiếu toàn diện. Aruchiunova từng viết: thực tế câu trong giao tiếp, trong văn bản đă ra khỏi phạm vi của những câu kinh điển, người nghiên cứu rơi vào một đại dương rộng mở và không bờ bến của những câu (...) rất ít được quy phạm hóa về mặt h́nh thức. (Trích theo Trần Ngọc Thêm)
3. Mối quan hệ qua lại của câu và cấu tạo ngôn ngữ lớn hơn câu đ̣i hỏi ngôn ngữ học phải chú ư tới lĩnh vực trên câu. Nhiều vấn đề của câu chỉ có thể lí giải được khi nghiên cứu lĩnh vực trên câu. Như vậy, việc nghiên cứu lĩnh vực trên câu sẽ giúp hiểu thấu đáo hơn các cấp độ trong phạm vi cấu trúc câu.
4. Ngoài ra, nghiên cứu lĩnh vực trên câu sẽ đáp ứng được nhiều nhu cầu thực tiễn của việc tạo dựng và lĩnh hội, tiếp nhận văn bản.
1.2 Quá tŕnh h́nh thành bộ môn ngôn ngữ học văn bản & ngữ pháp học văn bản 
Trước kia, văn bản thuộc các thể loại đă được nhiều bộ môn khoa học, trước hết là văn học và văn bản học nghiên cứu. Văn học đă chia văn bản ra thành các thể loại khác nhau, nghiên cứu, mô tả chúng, nêu lên các quy tắc để sáng tác và cảm thụ. Thuật hùng biện, phép làm thơ, phép tạo một cặp câu đối, phép làm một bài văn sách, một bài hịch, một bài văn tế, một bài phú cho đến một vở kịch, một thiên truyện đều đă có những quy tắc nhất định.Văn bản học, khoa học gần với sử học, cũng quan tâm sớm tới văn bản. Nó nghiên cứu để xác định nguồn gốc và tính chính xác của các văn bản cũ. Chẳng hạn, văn bản xuất hiện vào niên đại nào, thời ḱ nào, triều đại nào, bản nào là nguyên bản, bản nào là dị bản, tác giả văn bản là ai và bản gốc thực sự có dạng thức như thế nào v. v... Riêng với ngôn ngữ học, nhận ra sự khiếm khuyết của ngôn ngữ học truyền thống, khoảng cuối những năm 50, một số nhà ngôn ngữ học đă nghiên cứu những hiện tượng ở trên câu, ở ngoài câu và nêu lên khái niệm về đơn vị ngôn ngữ trên câu. Đơn vị này được gọi bằng nhiều tên khác nhau như: đoạn văn, chỉnh thể cú pháp phức hợp, khối liên hiệp các câu, thể thống nhất trên câu, chuỗi câu liên kết, siêu câu, tổ hợp quan hệ vị ngữ tính, giao tiếp vị, khổ văn xuôi hoặc diễn ngôn (discours) v.v... Sang thập niên 70, số bài viết về các vấn đề ngữ pháp văn bản trên câu xuất hiện nhiều. Trên cơ sở đó, nhiều hội nghị chuyên đề quốc tế về ngôn ngữ học văn bản được tổ chức. Ngôn ngữ học văn bản dần được coi là một bộ môn của ngôn ngữ học bên cạnh ngữ âm học, từ vựng học, ngữ pháp học, phong cách học. Nó kế thừa các thành tựu của ngôn ngữ học cũ và có nhiều t́m ṭi đóng góp quan trọng. Nó đă có chỗ đứng khá chắc chắn và trên thực tế không c̣n là trung tâm chú ư ở các nước có nền ngôn ngữ học tiên tiến từ những năm 70. Ở Việt Nam ta, vào những năm 70, Trường đại học tổng hợp và Trường đại học sư phạm Hà Nội đă dạy một số chuyên đề về ngôn ngữ học văn bản. Sang thập niên 80, sau một số bài báo đăng trên tạp chí Ngôn ngữ số 2-1980 và số 3-1984, giáo sư Trần Ngọc Thêm đă cho xuất bản cuốn Hệ thống liên kết văn bản tiếng Việt (Nxb Khoa học xă hội - 1985). Đây là cuốn sách về ngữ pháp văn bản đầu tiên ở Việt Nam. Cùng thời gian đó, do nhu cầu dạy môn làm văn ở các trường phổ thông, việc nghiên cứu ứng dụng ngôn ngữ học văn bản vào việc dạy làm văn cũng được tiến hành ở các trường sư phạm. Cuối năm 1985, Nhà xuất bản Giáo dục đă cho phát hành cuốn Ngữ pháp văn bản và việc dạy làm văn của ba tác giả Nguyễn Trọng Báu, Nguyễn Quang Ninh và Trần Ngọc Thêm. Do tính thiết thực, từ năm 1989, nhiều kiến thức ngữ pháp văn bản đă được đưa vào dạy chính thức ở các trường phổ thông cơ sở và phổ thông trung học (xem các sách Tiếng Việt 8, 9, 10 và các sách Làm văn 10, 11, 12). Sau đó, các trường cao đẳng và đại học sư phạm đều đă tổ chức dạy phân môn ngữ pháp văn bản. Đi đôi với việc này là việc in ấn các giáo tŕnh riêng hoặc các học phần ngữ pháp văn bản trong các giáo tŕnh Tiếng Việt ở các trường cao đẳng và đại học. Tóm lại, ngôn ngữ học văn bản là một bộ môn mới của ngôn ngữ học. Nó có lịch sử phát triển chỉ vài ba chục năm lại đây. Thành tựu có nhiều, tuy vậy, nhiều vấn đề vẫn c̣n đang bỏ ngỏ.
2. Đối tượng và nhiệm vụ của ngôn ngữ học văn bản và ngữ pháp học văn bản
2.1 Ngôn ngữ học văn bản
Văn bản là một đối tượng phức tạp. Nó có thể là đối tượng của những bộ môn khoa học khác nhau như văn học (phê b́nh văn chương, thi học, lí luận văn chương, lịch sử văn chương...), tâm lí học, logic học, xă hội học, luật học, tin học và các bộ môn ngôn ngữ học như cú pháp học, phong cách học, tu từ học, ngôn ngữ học văn bản, ngữ dụng học v.v... Riêng ngôn ngữ học văn bản có đối tượng nghiên cứu là các hiện tượng ngôn ngữ ở lĩnh vực trên câu; phân biệt với ngôn ngữ học truyền thống nghiên cứu những hiện tượng ngôn ngữ ở lĩnh vực trong câu và những đơn vị tạo nên câu. Nhiệm vụ chung của ngôn ngữ học văn bản là giải thích mạng lưới quan hệ giữa các thành tố thuộc các tầng bậc khác nhau trong văn bản, đồng thời, xem xét văn bản trong mối quan hệ với hoàn cảnh giao tiếp và với thế giới bên ngoài. Tùy theo nhiệm vụ nghiên cứu chủ yếu, ngôn ngữ học văn bản đă h́nh thành ba chuyên ngành hẹp: lí thuyết văn bản đại cương, ngữ pháp học văn bản và phong cách học văn bản. Lí thuyết văn bản đại cương nghiên cứu lí thuyết chung của ngôn ngữ học văn bản. Ngữ pháp học văn bản nghiên cứu các quy tắc kết hợp các đơn vị văn bản thuộc các tầng bậc khác nhau để tạo nên đơn vị giao tiếp lớn nhất là văn bản. Phong cách học văn bản nghiên cứu các thể loại văn bản thuộc các phong cách chức năng ngôn ngữ và các thói quen xă hội trong việc tạo lập văn bản thuộc mỗi thể loại ấy. Ba chuyên ngành trên tuy có nhiệm vụ riêng, có đối tượng nghiên cứu riêng nhưng có nét chung là đều nghiên cứu các vấn đề thuộc cấp độ trên câu trong phạm vi các văn bản hoàn chỉnh.
2.2 Ngữ pháp học văn bản
Ngữ pháp học văn bản có đối tượng nghiên cứu là các phạm trù ngữ pháp chung của văn bản, các đơn vị, các kết cấu ngữ pháp văn bản và các biểu hiện có tính quy luật của việc cấu tạo các đơn vị và kết cấu ngữ pháp văn bản ấy. Nhiệm vụ nghiên cứu trước mắt của ngữ pháp học văn bản là: các đơn vị và kết cấu ngữ pháp văn bản, những mối liên hệ giữa chúng cũng như các phương tiện liên kết h́nh thức của các mối liên hệ ấy.
II. VĂN BẢN VÀ ĐẶC TRƯNG CỦA VĂN BẢN
Đại mục II gồm 3 mục:
1. Khái niệm văn bản
2. Đặc trưng của văn bản
3. Các loại văn bản
1. Khái niệm văn bản
Hiện nay, chưa có định nghĩa nào về văn bản được tất cả các nhà ngôn ngữ học chấp nhận. Chúng ta có thể t́m thấy nhiều quan niệm khác nhau về́ văn bản trong các từ điển tiếng Việt, trong các sách giáo khoa phổ thông, trong các giáo tŕnh tiếng Việt thực hành cũng như trong các sách ngôn ngữ học trong, ngoài nước. Tuy vậy, rất nhiều sách ngữ pháp văn bản đă trích dẫn hoặc phát biểu quan niệm của ḿnh xoay quanh định nghĩa sau đây: Văn bản - đó là sản phẩm của quá tŕnh sáng tạo lời, mang tính cách hoàn chỉnh, được khách quan hóa dưới dạng tài liệu viết, được trau chuốt văn chương theo loại h́nh tài liệu ấy, là tác phẩm gồm tên gọi (đầu đề) và một loạt đơn vị riêng (những thể thống nhất trên câu), hợp nhất lại bằng những loại h́nh liên hệ khác nhau về từ vựng, ngữ pháp, logic, tu từ, có một hướng đích nhất định và một mục tiêu thực dụng (1) Từ định nghĩa trên, có thể rút ra nhiều đặc trưng của văn bản. Tuy nhiên, cần có một cái nh́n về văn bản trên cơ sở những nhận thức về quá tŕnh sản sinh ra nó: quá tŕnh giao tiếp bằng ngôn ngữ, gọi tắt là quá tŕnh ngôn giao. Quá tŕnh này có thể diễn ra giữa người với người, giữa người với máy hoặc giữa máy với máy. Hiện nay, lí thuyết về hoạt động lời nói (Theory of speech acts) và ngữ dụng học (Linguistic pragmatics) là các phân môn ngôn ngữ học nghiên cứu quá tŕnh ngôn giao. Có thể thấy những nét chính về cơ chế ngôn giao như sau: (1) · Cơ chế ngôn giao gồm: Cơ chế diễn đạt và cơ chế hội thoại. Cơ chế diễn đạt gồm cơ chế phát ngôn (gọi tắt là phát), cơ chế thụ ngôn (gọi tắt là nhận). C̣n cơ chế hội thoại là sự luân phiên hai cơ chế phát - nhận ấy. · Cơ chế diễn đạt gồm: Người phát ngôn - Ngôn phẩm - Người thụ ngôn. Cơ chế phát ngôn gồm: Kích thích vào người phát ngôn - Hành vi phát ngôn - Ngôn phẩm. Cơ chế thụ ngôn gồm: Ngôn phẩm - Đối tượng - Hành vi thụ ngôn - Kết quả giải mă - Thụ ngôn. Cần chú ư: Ngôn phẩm là yếu tố trung tâm, có tính quyết định hiện tượng ngôn giao, là yếu tố duy nhất để phân biệt hiện tượng ngôn giao với những hiện tượng giao tiếp khác. Những kích thích vào người phát ngôn và quá tŕnh giải mă của người thụ ngôn bao gồm nhiều nhân tố phức tạp như mục đích, nội dung, cách thức, hoàn cảnh giao tiếp. · Cơ chế hội thoại gồm: Cơ chế phát ngôn 1 Cơ chế thụ ngôn 1 Cơ chế thụ ngôn 2 Cơ chế phát ngôn 2 Như thế, nghiên cứu toàn diện cơ chế diễn đạt và cơ chế hội thoại là đủ để nhận thức được cơ chế ngôn giao - cơ chế hành chức của ngôn ngữ. Sơ đồ tóm tắt cơ chế diễn đạt:(2) Tóm lại, có thể quan niệm: sản phẩm của hoạt động ngôn ngữ là các ngôn phẩm. Ngôn phẩm là đơn vị ngôn giao, là cái được nói hoặc viết ra có chứa một ư tưởng kèm theo một t́nh thái. Ngôn phẩm dạng nói là ngôn bản, ngôn phẩm dạng viết là văn bản. Về mặt quy mô, ngôn phẩm có thể chỉ gồm một câu, có thể gồm một đoạn chứa nhiều câu, có thể đồ sộ nghĩa là gồm nhiều đoạn, tiết, chương, phần; về mặt nội dung, ngôn phẩm bao giờ cũng diễn đạt một ư kiến với một t́nh thái hoặc một loạt ư kiến với một t́nh thái xuyên suốt. Như thế: Văn bản là một chỉnh thể của một sản phẩm - viết để diễn đạt trọn vẹn ư kiến về một vấn đề hoặc một hệ thống vấn đề. Ngôn bản là một chỉnh thể của một sản phẩm - nói để diễn đạt trọn vẹn ư kiến về một vấn đề hoặc một hệ thống vấn đề.(1) Hay viết như Nguyễn Đức Dân: Văn bản là kết quả của quá tŕnh tạo lời nhằm một mục đích nhất định: chuyển một nội dung hoàn chỉnh cần thông báo thành câu chữ. (2)
2. Đặc trưng của văn bản
2.1 Văn bản là sản phẩm của hoạt động giao tiếp dưới dạng văn tự:
Hoạt động giao tiếp có thể được tiến hành bằng nhiều phương tiện khác nhau. Nhưng chỉ sản phẩm của hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ dưới dạng văn tự (chữ viết tay, in ấn, chạm khắc...) mới được coi là văn bản. V́ tồn tại dưới dạng văn tự nên văn bản thường được trau chuốt văn chương theo đặc điểm của một thể loại nhất định. Hầu hết các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học văn bản đều nhất trí văn bản là sản phẩm của hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ, nhưng nhiều người c̣n cho rằng văn bản có thể tồn tại cả dưới dạng viết lẫn dạng nói. (Xem các sách giáo khoa Tiếng Việt 9, 10, sách Tiếng Việt thực hành của Hữu Đạt, Ngôn ngữ học - Khuynh hướng - Lĩnh vực - Khái niệm, tập 2, của nhiều tác giả)... Nghĩa là văn bản gồm văn bản nói và văn bản viết. Bài giảng này gạt lời nói thông thường ra khỏi phạm trù văn bản v́ lời nói gió bay, v́ lời nói thường thiếu sự chuẩn bị trước, thiếu sự trau chuốt văn chương, nhiều khi thiếu chuẩn mực. Nhiều vị lănh tụ có những bài phát biểu rất hay, có nội dung chỉ đạo rất sâu sắc. Nhưng những bài ấy và cả truyện dân gian, thơ ca dân gian chỉ nên được coi là văn bản khi chúng được sưu tầm, nhuận sắc và in viết ra với sự trau chuốt văn chương và có tính xác định về h́nh thức.
2.2 Văn bản bao giờ cũng có tính hoàn chỉnh về nội dung và h́nh thức
Đây là một đặc trưng căn bản đă được sự nhất trí cao độ của giới nghiên cứu ngữ pháp văn bản. a. Về mặt nội dung: Tính hoàn chỉnh của văn bản làm cho văn bản dễ có tên gọi (tựa đề) nhất định. Một văn bản hoàn chỉnh về nội dung thường là văn bản diễn đạt một thông tin trọn vẹn gồm thông tin hiển ngôn và thông tin hàm ngôn. Tựa đề của văn bản thường là dự báo một trong hai thông tin ấy. Thông tin hiển ngôn là thông tin bề nổi, là ư nghĩa có thể thấy được trực tiếp từ câu chữ. Đó là sự kiện, quá tŕnh đă, đang, sẽ diễn ra trong thực tế khách quan hoặc trong trí tưởng tượng của người viết được biểu hiện trên câu chữ. Thông tin hàm ngôn là thông tin bề sâu, là cách hiểu, là chủ ư của người viết khi thể hiện nội dung trong thông tin hiển ngôn và c̣n là cách hiểu của xă hội, của người đọc khi tiếp nhận văn bản. Tùy loại h́nh văn bản mà hiển ngôn và hàm ngôn có sự thể hiện khác nhau. Trong văn bản khoa học, người ta cố gắng tối đa để loại trừ càng nhiều càng tốt thông tin hàm ngôn. Trong văn chương, nghệ thuật hai loại thông tin trên cùng tồn tại và đôi khi chính sự lung linh trong thông tin hiển ngôn lại làm nên giá trị. Trong văn bản ngoại giao, có khi v́ một mục tiêu cụ thể nào đấy, thông tin không xác định lại được chọn dùng. Chẳng hạn, H. Kitxinhgiơ kể lại trong hồi kí: Những năm ở Nhà Trắng về cái gọi là Thông cáo chung Thượng Hải do y và Chu Ân Lai soạn thảo: Nichxơn rất thích thú với lời văn của bản dự thảo... v́ thấy nó vừa chung chung vừa tối nghĩa. Chu Ân Lai cũng lấy làm khoái với kiểu văn kiện này, v́ nó vừa thực vừa hư. (1) Tính hoàn chỉnh của văn bản là tương đối. Nó được coi là hoàn chỉnh trong một hoàn cảnh, một mục tiêu giao tiếp nhất định. Khả năng tạo lập nội dung một văn bản rất khác nhau đối với những người thuộc các tŕnh độ hiểu biết khác nhau. Một bài làm văn được điểm cao hồi học cấp hai thường là một bài làm cùng đề tài sơ sài ở cấp ba hoặc đại học. Trong thực tế, người ta cũng có thể trích chọn một chương sách, một đoạn văn của một tác phẩm để làm thành một văn bản và đặt cho nó một tựa đề mới. Trong trường hợp này, chúng chỉ là văn bản so với tựa đề mới của nó mà thôi. Các bài trích giảng tác phẩm văn chương trong các sách giáo khoa văn học chính là các văn bản như thế. Đôi khi, người ta cũng chọn trích một câu của văn bản và đặt nó tồn tại như một văn bản. b. Về mặt h́nh thức: Tính hoàn chỉnh thể hiện ở chỗ văn bản có thể tồn tại độc lập không cần phải thêm bất ḱ yếu tố ngôn ngữ nào vào trước và sau nó. Trong nội bộ, văn bản phải là một cấu trúc hoàn chỉnh các đơn vị và kết cấu văn bản. Chúng được hợp nhất lại bằng các phương tiện liên kết văn bản theo các quy tắc cấu tạo văn bản. Các quy tắc này thể hiện ở thói quen sắp xếp các thành tố, các bộ phận của văn bản được cả xă hội chấp nhận. Thông thường văn bản gồm tên gọi (tựa đề, đầu đề) và thân văn bản. Đôi khi có thêm lời nói đầu và lời bạt ở một số văn bản dài hơi. Tên văn bản là bộ phận trong cấu trúc của văn bản nhằm mục đích dự báo các loại thông tin trong văn bản. Lời nói đầu thường báo trước các loại thông tin hiển ngôn, hàm ngôn trong văn bản để người đọc có hướng lĩnh hội chúng. Nó cũng là nơi để người viết giới thiệu động cơ tạo lập văn bản và bày tỏ sự tri ân của ḿnh với những người đă giúp đỡ ḿnh trong quá tŕnh tạo lập văn bản. Thân văn bản là bộ phận có kết cấu nội bộ. Khái niệm cấu trúc chung của văn bản có từ thời cổ đại. Cấu trúc chung ấy có thể gồm hai phần, ba phần, bốn phần, năm phần và thậm chí nhiều hơn nữa. Bài thơ tứ tuyệt thường có cấu trúc song song đồng tả ngụ ư hoặc cấu trúc hai phần nêu - báo hay thực - luận. Bài văn ngắn thường có cấu trúc ba phần: mở đầu - triển khai - kết luận. Bài văn tế thường có cấu trúc ba phần: lung khởi - thích thực - ai văn. Bài thơ thất ngôn bát cú thường có cấu trúc bốn phần: đề - thực - luận - kết. Truyện và kịch thường có cấu trúc năm phần: mở đầu - khai đoan - phát triển - điểm đỉnh - kết thúc. Trong số đó, kiểu kết cấu ba phần là phổ biến hơn cả. Cấu trúc chung của văn bản c̣n được gọi là bố cục. Trong văn bản, bố cục vừa là h́nh thức, vừa là nội dung, nó phản ánh chiến lược hành ngôn của người tạo lập văn bản. Lời bạt, nếu có, thường ở cuối văn bản để người viết nói thêm một vài điều có tính chất nhấn mạnh giúp người đọc hiểu thấu đáo hơn về văn bản. Lời bạt cũng có thể do một nhân cách lớn hay một bạn tri âm, tri kỉ mà tác giả mời viết.
2.3 Văn bản bao giờ cũng có tính liên kết
Toàn bộ các mối liên hệ, quan hệ giữa văn bản với cuộc sống khách quan và giữa các thành tố của văn bản với nhau tạo nên tính liên kết của văn bản. Cả hai phạm vi liên kết bên trong và bên ngoài ấy của văn bản đều quan trọng. Một văn bản, chẳng hạn như bài thơ Kính gửi cụ Nguyễn Du của Tố Hữu, sẽ khó, thậm chí không thể hiểu được, nếu ta không liên hệ nó với cuộc sống bên ngoài là cuộc đời Nguyễn Du, cuộc đời Thúy Kiều, cuộc đời Tố Hữu cũng như hoàn cảnh ra đời của bài thơ. Trong mặt liên hệ nội tại, mối liên kết giữa các thành tố, trước hết là mối liên hệ giữa các ư tưởng trong các câu, các đơn vị trên câu; chúng được thể hiện ra nhờ các các yếu tố ngôn từ được gọi là các phương tiện liên kết h́nh thức. Các mặt liên kết nội dung và h́nh thức ấy được thể hiện ở nhiều cấp độ: cấp độ các câu tiếp nối (liên kết liên câu), các câu gián cách và cấp độ các đơn vị trên câu như cụm câu, đoạn văn, tiết, mục, chương, phần trong quy mô toàn văn bản. Điều này làm văn bản có tính hệ thống. Người đọc văn bản chỉ có thể hiểu được từng câu, từng đoạn văn bản nếu đặt nó trong mối liên hệ với toàn bộ văn bản.
2.4 Văn bản luôn có mục tiêu thực dụng
Mục tiêu thực dụng là đích người ta muốn đạt tới khi hành động. Mọi văn bản được tạo ra đều nhằm một mục tiêu cụ thể. Việc tạo văn bản không những là một hành động viết mà c̣n là một hành động xă hội bằng ngôn ngữ. Viết cái ǵ, viết cho ai, viết để làm ǵ? Đó là những câu hỏi luôn được đặt ra trước mỗi bài viết. Mục tiêu thực dụng ấy của văn bản quy định cách viết văn bản, quy định việc lựa chọn thể loại văn bản và các phương tiện ngôn từ quen dùng cho thể loại ấy. Một số sách ngữ pháp văn bản c̣n đề cập tới một số đặc trưng khác như tính hệ thống và tính khả phân (có thể phân chia thành các đơn vị) của văn bản. Quả là văn bản có những đặc trưng ấy. Tuy nhiên, trong thực chất, hai đặc trưng này là hai mặt biểu hiện cụ thể của các đặc trưng hoàn chỉnh và liên kết. Liên kết nhiều thành tố để trở thành văn bản hoàn chỉnh th́ tất nhiên văn bản có tính hệ thống. Văn bản được liên kết từ nhiều thành tố bộ phận th́ tất nhiên có thể được phân chia thành các bộ phận nhỏ hơn trên cơ sở liên kết chủ đề, liên kết logic và liên kết h́nh thức.
3. Các loại văn bản
Văn bản có thể được phân loại thành các loại khác nhau tùy thuộc tiêu chí phân loại. Dưới đây là một số hệ thống phân loại.
3.1 Phân loại dựa vào hoàn cảnh giao tiếp điển h́nh
Ta đă biết, thói quen sử dụng các phương tiện ngôn ngữ trong các hoàn cảnh giao tiếp điển h́nh tạo nên những phong cách ngôn ngữ nhất định. Như thế văn bản được tạo ra sẽ thuộc một trong các phong cách sau đây: văn bản hành chính, văn bản khoa học, văn bản chính luận, văn bản nghệ thuật. Trong mỗi văn bản, bao giờ cũng có nội dung sự kiện duy lí và nội dung biểu cảm. Tuy nhiên, khi tạo lập văn bản, người ta cũng có thể chủ yếu biểu hiện nội dung duy lí hoặc biểu cảm. Dựa vào hai căn cứ trên, văn bản có thể được phân loại như sau: (3) CẤU TRÚC CHỦ ĐẠO LĨNH VỰC GIAO TIẾP

HÀNH CHÍNH KHOA HỌC CHÍNH LUẬN NGHỆ THUẬT


LOGIC
DUY LÍ Biên bản
Nghị quyết Nghị định Thông tư ......... Tài liệu nghiên cứu Hướng dẫn kĩ thuật, Thông tin khoa học Tin tức
Tổng thuật Xă luận Phóng sự ......... Truyện ngắn Tiểu thuyết Kịch

PHONG
CÁCH
BIỂU
CẢM Báo cáo
Thư từ công vụ Tường tŕnh ........ Tài liệu phổ biến khoa học Văn bản giáo khoa Bài giảng... B́nh luận
Tiểu phẩm Bút chiến Hùng biện ....... Kí Thơ
Trong lĩnh vực báo chí: mẩu tin, bản tin tổng hợp, nhắn tin, thông báo, rao vặt... là các thể loại thiên về cấu trúc logic duy lí; ư kiến bạn đọc, trả lời bạn đọc, phỏng vấn, điều tra, tiểu phẩm... là các thể loại thiên về cấu trúc biểu cảm. Mỗi văn bản thuộc các phong cách thể loại trên có cách bố cục riêng, có cấu trúc h́nh thức riêng, có cách tổ chức chất liệu ngôn ngữ riêng. Cho nên, khi nghiên cứu văn bản, nhất thiết phải xem xét chúng trong phong cách, thể loại nhất định.
3.2 Các hệ thống phân loại khác:
a. Dựa vào quy mô, văn bản gồm:
- Văn bản tối giản (văn bản một câu),
- Văn bản nhỏ (gồm một đoạn văn),
- Văn bản thông thường (gồm vài đoạn văn),
- Văn bản lớn (dạng tập sách), - Văn bản đồ sộ (dạng bộ sách nhiều tập).
b. Dựa vào tính chất khái quát của nội dung và mục đích của văn bản, văn bản gồm:
- Văn bản miêu tả: nêu đặc điểm của người, cảnh, sự vật để người đọc h́nh dung ra chúng,
- Văn bản giải trí: nói mọi chuyện đời để người đọc bớt căng thẳng đầu óc,
- Văn bản nghị luận: dùng lí lẽ, chứng cớ, bàn bạc, đánh giá để t́m ra cách lí giải đúng về những vấn đề tự nhiên, xă hội,
- Văn bản khoa học: nêu những định lí, quy tắc để người đọc nhận thức đúng đắn bản chất của tự nhiên và xă hội.
c. Dựa vào đặc trưng của nội dung và cách thức đề cập, văn bản gồm:
- Văn bản tự sự: nội dung là sự việc có cốt truyện; cách kể: có nhiều yếu tố khách quan,
- Văn bản trữ t́nh: nội dung là t́nh cảm người viết với thế giới khách quan; cách kể: nhiều yếu tố chủ quan,
- Văn bản kịch: nội dung là sự việc, cốt truyện với những xung đột căng thẳng về các mặt của đời sống; cách kể: để sự việc, tư tưởng bộc lộ qua hoạt động và ngôn ngữ trực tiếp của nhân vật.
d. Dựa vào cách sử dụng ngôn ngữ, văn bản gồm:
- Văn bản văn vần: chú ư sử dụng vần, điệu, nhịp và sự hài ḥa âm thanh,
- Văn bản văn xuôi: Ít hoặc không có sự tham gia của các yếu tố trên.
e. Dựa vào đặc trưng liên kết về nội dung và h́nh thức, văn bản gồm: văn bản điển h́nh và văn bản không điển h́nh (xem cụ thể trong học tŕnh hai, mục II.5 Các mặt liên kết văn bản, trang 71). Ở trên là mấy nét về khái niệm văn bản. Hiện nay, trong quan niệm về văn bản có những điểm sau đây chưa đạt được sự nhất trí cao giữa các nhà nghiên cứu: · Về tên gọi: sản phẩm hoàn chỉnh của hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ hiện được gọi bằng nhiều tên khác nhau như văn bản, ngôn bản, ngôn từ, phát ngôn, lời, diễn ngôn hay đixcua (discours). (Ở trường phổ thông, sách giáo khoa Tiếng Việt không phân ban dùng khái niệm văn bản nhưng sách Tiếng Việt ban KHXH lại dùng khái niệm ngôn bản). Cách gọi không nhất quán này dễ gây tranh căi và dễ bị sa vào lỗi đánh tráo khái niệm. Dùng khái niệm ngôn phẩm trong đó có văn bản và ngôn bản sẽ dễ tránh các lỗi trên. · Về dạng tồn tại của văn bản: có người quan niệm văn bản chỉ tồn tại dưới dạng viết (Galperin, Hồ Lê, Nguyễn Đức Dân...), có người lại cho rằng văn bản có thể tồn tại dưới cả hai dạng nói và viết (ở phổ thông, học sinh được học theo quan niệm này). Tiếng Việt 11 của Hồng Dân, Nguyễn Nguyên Trứ, Cù Đ́nh Tú, Nxb GD , 1991, trang 17 viết: Văn bản là sản phẩm của hoạt động ngôn ngữ, tức là sản phẩm của việc nói hoặc viết. · Về quy mô văn bản: có quan niệm cho rằng văn bản tối giản phải gồm một thể thống nhất trên câu nhưng lại có quan niệm cho rằng văn bản tối giản có thể chỉ gồm một câu. · Về đơn vị ngữ pháp văn bản nhỏ nhất: có người cho rằng văn bản do các câu kết hợp lại mà thành nhưng có người lại khẳng định: đơn vị văn bản nhỏ nhất là thể thống nhất trên câu (hay chỉnh thể trên câu), lời (hay phát ngôn) hoặc đoạn văn. Điều này kéo theo những quan niệm rất khác nhau về hệ thống đơn vị ngữ pháp văn bản.