THÔNG BÁO

  THỜI GIAN GẦN ĐÂY MỘT SỐ BẠN LỢI DỤNG  WEBSITE NÀY ĐỂ ĐƯA RA NHỮNG PHÁT NGÔN KHÔNG TỐT. CHO NÊN CHÚNG TÔI TẠM THỜI ĐÓNG WEBSITE LẠI ĐỂ NÂNG CẤP NHẰM HẠN CHẾ MỘT SỐ HÀNH VI KHÔNG TỐT LÀM ẢNH HƯỞNG ĐẾN DIỄN ĐÀN .CÁC BẠN CÓ THẮC MẮC XIN LIÊN HỆ : phanthanhhung90@gmail.com
CHƯƠNG 1 : RÈN LUYỆN KỸ NĂNG XÂY DỰNG VĂN BẢN
I. KHÁI QUÁT VỀ VĂN BẢN (NGÔN BẢN)
1- Khái niệm về văn bản.
Văn bản (tiếng Anh: text; tiếng Pháp: texte) là sản phẩm hoàn chỉnh của một hành vi tạo lời (hay hành vi phát ngôn), mang một nội dung giao tiếp cụ thể, gắn liền với một đối tượng giao tiếp, mục đích giao tiếp và hoàn cảnh giao tiếp xác định, thể hiện dưới dạng âm thanh hay chữ viết.
Bên cạnh khái niệm văn bản, trong một số tài liệu giáo khoa, các chuyên luận về Ngữ pháp văn bản, còn xuất hiện khái niệm ngôn bản (dịch từ tiếng Pháp: discours, hay tiếng Anh: discourse).
Khái niệm ngôn bản được hiểu theo hai nghĩa cơ bản:
Thứ nhất, nó được hiểu đồng nhất với khái niệm văn bản.
Thứ hai, nó được hiểu trong mối quan hệ đối lập với văn bản.
Theo cách hiểu thứ hai, ngôn bản là sản phẩm hoàn chỉnh của hành vi phát ngôn, thể hiện dưới dạng âm thanh. Còn văn bản là sản phẩm hoàn chỉnh của hành vi phát ngôn, thể hiện dưới dạng chữ viết. Ở đây, khái niệm văn bản được quan niệm đồng nhất với khái niệm ngôn bản. Theo quan niệm vừa nêu thì văn bản có thể là một câu nói như câu khẩu hiệu (ví dụ: Không có gì quý hơn độc lập tự do), câu tục ngữ (ví dụ: gần mực thì đen, gần đèn thì sáng), một tin vắn gồm vài ba câu, một bài thơ, một truyện ngắn, một bài nghiên cứu, một quyển sách v.v...
2- Khái niệm về nội dung và cấu trúc của văn bản.
2.1- Nội dung của văn bản.
Văn bản dù ngắn hay dài đều đề cập đến một hay một vài đối tượng nào đó trong hiện thực khách quan hay trong hiện thực tâm lí, tình cảm của con người. Ðối tượng này chính là đề tài của văn bản (tiếng Anh: subject-matter). Gắn liền với đề tài là sự triển khai của người viết/nói về đề tài, tức sự miêu tả, trần thuật hay bàn luận về đề tài. Nội dung miêu tả, trần thuật hay bàn luận cơ bản, bao trùm lên toàn văn bản là chủ đề của đề tài. Ví dụ:
Thằng Bờm
Thằng Bờm có cái quạt mo,
Phú ông xin đổi ba bò chín trâu.
Bờm rằng bờm chẳng lấy trâu,
Phú ông xin đổi ao sâu cá mè.
Bờm rằng bờm chẳng lấy mè,
Phú ông xin đổi một bè gỗ lim.
Bờm rằng bờm chẳng lấy lim,
Phú ông xin đổi con chim đồi mồi.
Bờm rằng bờm chẳng lấy mồi,
Phú ông xin đổi nấm xôi,
Bờm cười.
Bài đồng dao trên đề cập đến hai đối tượng: thằng Bờm và phú ông. Nội dung trần thuật cơ bản về hai đối tượng đó là cuộc trao đổi. Như vậy thằng Bờm và phú ông là đề tài của văn bản; còn cuộc trao đổi là chủ đề của nó. Tổng hợp hai nhân tố này, ta xác định được nội dung cơ bản của văn bản: cuộc trao đổi giữa phú ông và thằng Bờm. Tương tự như vậy, khi xem xét truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân, ta thấy truyện đề cập đến Tràng, người đàn bà, bà Tứ, người trong xóm ngụ cư. Ðây chính là đề tài của văn bản. Còn nội dung triển khai bao trùm lấy truyện là: việc tình cờ nhặt được vợ (của Tràng). Ðây là chủ đề của văn bản truyện. Gộp hai yếu tố này lại, ta xác định được nội dung cơ bản của truyện: việc tình cờ nhặt được vợ của Tràng. Cần lưu ý rằng, đề tài của văn bản thường mang tính hiển ngôn, còn chủ đề của văn bản có thể mang tính hàm ngôn hay hiển ngôn. Tính hiển ngôn hay hàm ngôn của chủ đề văn bản có thể do phong cách ngôn ngữ văn bản hay do phong cách tác giả chi phối. Nhìn chung, trong các loại hình văn bản phi hư cấu (văn bản thuộc phong cách khoa học, chính luận, hành chánh), chủ đề thường được hiển ngôn. Trong các loại hình văn bản hư cấu (văn bản thuộc phong cách nghệ thuật), chủ đề thường mang tính hàm ngôn, nhiều tầng, nhiều lớp.
2.2- Cấu trúc của văn bản.
Như đã nói, tuỳ theo quy mô, văn bản có thể chỉ gồm một câu, vài câu hay bao gồm nhiều đoạn, nhiều chương, nhiều phần... Câu, đoạn, chương, phần khi tham gia vào tổ chức của văn bản đều có một chức năng nào đó và chúng có mối quan hệ ràng buộc, nương tựa lẫn nhau. Toàn bộ các bộ phận hợp thành văn bản - còn gọi là các đơn vị/kết cấu tạo văn bản - cùng với trình tự phân bố, sắp xếp chúng dựa trên cơ sở chức năng và mối quan hệ qua lại giữa chúng chính là cấu trúc của văn bản. Cấu trúc của văn bản bao giờ cũng gắn liền với việc thể hiện nội dung của văn bản, thông qua chức năng của nó. Thông thường, trong một văn bản có chủ đề mang tính hiển ngôn, được cấu tạo bằng vài câu, thì câu mở đầu của văn bản có thể là câu nêu lên chủ đề của nó, gọi là câu chủ đề (tương đương với thuật ngữ tiếng Anh: thesis sentence). Và câu cuối của văn bản có thể đúc kết, khẳng định lại chủ đề, gọi là câu kết đề. Trong trường hợp chủ đề của văn bản không được nêu lên ở câu mở đầu mà được nêu ở câu cuối, thì câu cuối chính là câu kết đề, đồng thời cũng là câu nêu lên chủ đề của văn bản. Xem xét các văn bản thơ sau đây: (1) Nghe tiếng giã gạo
Gạo đem vào giã bao đau đớn
Gạo giã xong rồi trắng tựa bông
Sống ở trên đời, người cũng vậy
Gian nan rèn luyện mới thành công (Hồ Chí Minh)
(2) Khuyên thanh niên
Không có việc gì khó
Chỉ sợ lòng không bền
Ðào núi và lấp biển
Quyết chí ắt làm nên (Hồ Chí Minh)
(3) Cảnh rừng Việt Bắc
Cảnh rừng Việt Bắc thật là hay
Vượn hót chim kêu suốt cả ngày
Khách đến thì mời ngô nếp nướng
Săn về, thường chén thịt rừng quay
Non xanh, nước biếc tha hồ dạo
Rượu ngọt, chè tươi mặc sức say
Kháng chiến thành công ta trở lại
Trăng xưa hạc cũ với xuân này (Hồ Chí Minh)
Ở văn bản (1), câu cuối là câu kết đề, đồng thời cũng là câu nêu lên chủ đề.
Ở văn bản (2), tình hình cũng tương tự.
Ở văn bản (3), câu mở đầu chính là câu chủ đề.
Trong văn bản được cấu tạo gồm ba bộ phận, tiêu biểu là các bài học trong sách giáo khoa, các bài văn nghị luận trong nhà trường, ba phần này thường có chức năng như sau:
Phần Mở đầu (Nhập đề) là phần chủ yếu có chức năng dẫn nhập và nêu chủ đề, có thể được cấu tạo bằng một hay vài đoạn văn bản.
Phần Khai triển (Thân bài) là phần triển khai, làm sáng tỏ chủ đề của văn bản bằng cách miêu tả, trần thuật, trình bày hay bàn luận. Phần này bao gồm nhiều đoạn văn, trong đó, mỗi đoạn triển khai, làm sáng tỏ một khía cạnh nào đó của chủ đề toàn văn bản. Phần Kết luận là phần có chức năng đúc kết, khẳng định lại chủ đề, đồng thời nó có thể mở rộng, liên hệ đến những vấn đề có liên quan. Phần này có thể được cấu tạo bằng một vài đoạn văn. Trong những văn bản gồm ba phần như vừa nêu trên, chủ đề của văn bản thường được phát biểu trực tiếp trong phần Mở đầu, cụ thể là trong câu chủ đề, thường là câu cuối hay câu áp cuối trong phần Mở đầu. Chủ đề của văn bản cũng thường được đúc kết, khẳng định lại ở phần Kết luận, trong câu kết đề, thường là câu mở đầu của phần này. Tuy nhiên, câu kết đề cũng có thể xuất hiện ở giữa hay cuối phần Kết luận. Xem xét văn bản sau đây: Hoàng Lê nhất thống chí
1.a) Hoàng lê nhất thống chí là một cuốn tiểu thuyết lịch sử bằng chữ Hán, gồm 17 hồi. Chắc chắn Ngô Thời Chí viết bảy hồi đầu, sau nữa có Ngô Thời Du, còn ai nữa thì chưa biết. Ngô Thời Chí và Ngô Thời Du đều là con cháu họ Ngô Thời, một dòng dõi có tiếng đỗ đạt cao và có tài văn thơ ở làng Tả Thanh Oai, tỉnh Hà Ðông (nay là Hà Nội).
b) Hoàng lê nhất thống chíviết vào những năm cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỉ XIX và bao quát những biến cố lớn lao xảy ra trong lòng chế độ vua Lê, chúa Trịnh, từ thời Trịnh Sâm lên ngôi đến lúc Quang Trung đánh đuổi quân Mãn Thanh. Hai nét căn bản của thời đại đã được làm nổi bật: sự sụp đổ không gì cưỡng nổi của chế độ phong kiến Lê - Trịnh và khí thế sấm chớp vũ bão của phong trào Tây Sơn.
c) Lê Hiển Tông suốt bốn mươi năm làm vua, biết mình là bù nhìn, nhưng vẫn thích thú với thân phận bù nhìn ấy. Trịnh Sâm thì xa xỉ, kiêu căng, hoang dâm vô độ. Lê Chiêu Thống thì đúng là hiện thân của sự bất tài và hèn hạ, nhất là sự phải bội. Không câu nói nào xứng đáng với y bằng lời kết án của một người trong truyện: Nước Nam ta từ khi có đế vương đến giờ, không thấy có vua nào hèn hạ đến thế!.
d) Vua chúa đã vậy, văn thần võ tướng cũng chẳng hơn gì. Danh tướng như Ðinh Tích Nhưỡng, gia đình mười tám đời quận công, khi nghe quân Tây Sơn ra Bắc, liền vội vàng bỏ trốn. Văn quan làm đến chức Tham tụng như Bùi Huy Bích mà lúc nước nhà rối ren, vua hỏi đến, không dám nói một câu, chỉ một mực xin lui về vườn, lẩn trốn trách nhiệm.
e) Kiêu binh là chỗ dựa của nhà chúa từ xưa, hồi này lại lưu manh hoá, trở thành một lực lượng phá hoại từ bên trong, làm cho cơ nghiệp nhà chúa xiêu đổ.
f) Phản ánh tất cả sự suy sụp, rối ren ấy vào trong ý thức con người là sự rời rã của các giềng mối xã hội. Quan hệ vua tôi chẳng còn gì là thiêng liêng nữa khi Nguyễn Cảnh Thước lột áo Lê Chiêu Thống. Quan hệ thầy trò cũng chẳng còn sức mạnh gì đối với lương tâm một kẻ như Tuần huyện Trang. Tình nghĩa cha con, vợ chồng, anh em trong gia đình Trịnh Sâm chỉ là một trò cười não nuột.
(*) Một chế độ mục ruỗng từ trên chí dưới như thế nhất định phải diệt vong, phong trào Tây Sơn sẽ thổi lên cơn lốc lật nhào chế độ đó.
g) Sự thật về phong trào này và vị anh hùng dân tộc Nguyễn Huệ chưa được hiểu đúng đắn và dựng lên đầy đủ. Nhưng một chân lí vĩ đại không ai chối cãi nổi đã được ghi lại một cách thích đáng, đó là cái khí thế mãnh liệt, phi thường của đoàn quân chính nghĩa và lãnh tụ của nó. Chúa Trịnh mấy trăm năm lấn hiếp vua Lê, nắm cả quyền hành trong tay, làm mưa làm gió ở Ðàng Ngoài, Tây Sơn chỉ một lần tiến quân ra Bắc là ngôi chúa sụp đổ ngay và nhà chúa cũng không tránh được cái chế nhục nhã. Xứ Bắc mấy năm lùng nhùng với loạn kiêu binh, với phe đảng đánh nhau không ngớt, Tây Sơn kéo quân ra một lần là quét sạch. Hai mươi vạn quân Thanh hống hách, chỉ mấy ngày đã bị dẹp tan. Dưới mắt tác giả, chiến dịch này là một bản anh hùng ca bất diệt và hình ảnh Quang Trung đẹp như hình ảnh thần kì.
h) Hoàng lê nhất thống chí kể rất nhiều chuyện của rất nhiều người. Chuyện rất sát sự thực, nhưng vẫn đầy đủ tính chân thật của nghệ thuật. Người thì chưa mấy ai được xây dựng thành tính cách đặc sắc, nhưng mỗi người đều một hành động, một tâm lí riêng, khá sinh động. Nhiều chỗ, ngòi bút lại pha chất hài hước khá kín đáo, có chỗ lại có không khí trang trọng của anh hùng ca.
i) Hoàng lê nhất thống chí không khỏi có những hạn chế do tư tưởng phong kiến của tác giả gây ra. Tuy nhiên, nó vẫn mãi mãi là bức tranh hài hước về sự tàn lụi của chế độ phong kiến cũng như mãi mãi là tiếng vọng hồ hởi của một phong trào tiêu biểu cho sức mạnh của nông dân và sức mạnh của dân tộc, phong trào Tây Sơn. (Văn học lớp 11 phổ thông, tập 1) Văn bản trên có nội dung bàn luận về tác phẩm Hoàng Lê nhất thống chí. Văn bản bao gồm ba phần:
Phần Mở đầu được cấu tạo bằng hai đoạn văn (a) và (b), trong đó đoạn văn (a) và câu thứ nhất của đoạn văn (b) có chức năng dẫn nhập; câu thứ hai - câu cuối - của đoạn (b) nêu lên chủ đề của toàn văn bản. Chủ đề bao gồm hai mặt: sự sụp đổ không gì cưỡng nổi của chế độ phong kiến Lê - Trịnh và khí thế sấm chớp, vũ bão của phong trào Tây Sơn. Như vậy, câu cuối của đoạn (b) là câu chủ đề của văn bản.
Phần Khai triển (Thân bài) bao gồm các đoạn (c), (d), (e), (f), (g) và (h). Troan các đoạn văn này, đoạn (c), (d), (e) và (f) có chức năng triển khai, làm sáng tỏ mặt chủ đề thứ nhất. Ðoạn (g) triển khai, làm sáng tỏ mặt chủ đề thứ hai. Riêng đoạn (h), mặc dù không trực tiếp đề cập đến chủ đề của toàn văn bản, nhưng vẫn có vai trò nhất định: đoạn văn này có nội dung bình luận thêm một cách sơ lược về giá trị nghệ thuật của Hoàng Lê nhất thống chí. Ngoài ra những đoạn văn vừa nêu, phần khai triển còn có câu (*). Câu văn này không thuộc đoạn văn nào, mà nó chỉ có chức năng đúc kết lại mặt chủ đề thứ nhất và dẫn dắt, giới thiệu mặt chủ đề thứ hai. Phần Kết luận được cấu tạo bằng một đoạn văn: đoạn (i). Trong đó, câu cuối có chức năng đúc kết, khẳng định lại chủ đề của toàn văn bản. Ðây chính là câu kết đề của văn bản. Bên cạnh các cấp độ đơn vị dưới văn bản, cấu trúc văn bản có thể còn bao gồm một bộ phận khác, đó là tiêu đề của nó.
3- Khái niệm về tiêu đề của văn bản.
Tiêu đề (tiếng Anh: title; tiếng Pháp: titre) hay đầu đề của văn bản là tên gọi của văn bản và là một bộ phận cấu thành văn bản. Tuy nhiên, một số loại văn bản có thể không có tiêu đề, tiêu biểu như tin vắn, các sáng tác dân ca như ca dao v.v... Xét mối quan hệ giữa tiêu đề với nội dung cơ bản của văn bản, có hai loại tiêu đề: tiêu đề mang tính dự báo và tiêu đề mang tính nghệ thuật.
3.1- Tiêu đề mang tính dự báo.
Ðây là loại tiêu đề phản ánh một phần hay toàn bộ nội dung cơ bản của văn bản. Qua tiêu đề thuộc loại này, người đọc có thể suy đoán trước đề tài hay/và chủ đề của văn bản. Ví dụ: Thằng Bờm (a), Cảnh rừng Việt Bắc (b), Mùa gặt ở làng tôi (c), Hoàng Lê nhất thống chí (d), Lão Hạc (e), Vợ nhặt (f), Ðiệp vụ Bodygard - nguyên nhân thất bại của Hitler (g), Hoa hậu Malaisia bị tước danh hiệu (h) v.v... Tiêu đề (a) đã phản ánh được một trong hai đề tài của văn bản. Tiêu đề (b) phản ánh toàn bộ đề tài của bài thơ. Tiêu đề (c), (d), (e) cũng tương tự. Tiêu đề (f) liên quan chặt chẽ với chủ đề. Tiêu đề (g) và (h) vừa phản ánh đề tài, vừa gợi ra chủ đề của văn bản.
3.2- Tiêu đề mang tính nghệ thuật.
Loại tiêu đề này không gợi ra điều gì về đề tài và chủ đề của văn bản. Nó được đặt ra nhằm mục đích gây ấn tượng, nghi binh nhằm đánh lạc hướng người đọc. Thậm chí, loại tiêu đề này có thể trở thành phản tiêu đề. Chẳng hạn, các tiêu đề như Oẳn tà roằn (tên một truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan), Bến không chồng (tên một quyển tiểu thuyết của Dương Hướng), Thân phận tình yêu (tên một quyển tiểu thuyết của Bảo Ninh) ... gây ấn tượng rất mạnh đối với người đọc. Còn các tiêu đề như Báo hiếu: trả nghĩa cha, Báo hiếu: trả nghĩa mẹ, Một tấm gương sáng (tên ba truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan) thì lại mang tính chất nghi binh nhằm đánh lạc hướng, tạo bất ngờ đối với người đọc. Bởi vì, các tiêu đề này đã dự báo trước chủ đề một cách giả tạo, hoàn toàn trái ngược với chủ đề thật sự của truyện. Một tấm gương sáng viết về cuộc đời dâm đãng, đĩ thoã của Thị Bống, Báo hiếu: trả nghĩa cha và Báo hiếu: trả nghĩa mẹ viết về hành vi ứng xử bất nhân, bất nghĩa, bất hiếu của vợ chồng ông chủ Hãng ô tô Con Cọp đối với hai đấng sinh thành. Riêng các tiêu đề như Vô đề, Không đề, bài không tên... thì lại mang tính chất phản tiêu đề. Bởi vì đó chỉ là trò chơi chữ! Xét mối quan hệ giữa hai loại tiêu đề vừa nếu với các phong cách ngôn ngữ văn bản, chúng ta thấy các loại văn bản thuộc phong cách khoa học, hành chánh và chính luận thường có tiêu đề mang tính dự báo. Còn các loại văn bản thuộc phong cách nghệ thuật thường có tiêu đề mang tính chất nghệ thuật hơn là tính chất dự báo. Về mặt ngôn từ biểu đạt, tiêu đề có thể chia thành hai loại: tiêu đề biểu đạt bằng từ, ngữ và tiêu đề biểu đạt bằng câu thuộc đủ kiểu loại (câu hoàn chỉnh và câu tỉnh lược, câu trần thuật, câu mệnh lệnh, câu nghi vấn...). Các tiêu đề như Nghèo (tên một truyện ngắn của Nam Cao), Khói (tên một truyện ngắn của Anh Ðức) là tiêu đề bằng từ. Các tiêu đề như Muối của rừng, Giấc mơ ông lão vườn chim, Vấn đề rượu ở Nga, Cảnh rừng Việt Bắc, là tiêu đề bằng ngữ. Các tiêu đề như ta đi tới, Hãy nhớ lời tôi!, Hoa hậu Malaysia bị tước danh hiệu, Sao lại thế này?... là tiêu đề bằng câu. Xét về mặt cấp độ, có tiêu đề toàn thể và tiêu đề bộ phận. Tiêu đề toàn thể là tiêu đề của cả văn bản. Tiêu đề bộ phận là tiêu đề của từng phần, chương, mục... trong văn bản. 4- Ðặc trưng của văn bản. Ðặc trưng của văn bản thể hiện qua các tính chất: tính hoàn chỉnh, tính thống nhất, tính liên kết và tính mạch lạc. Trong đó tính hoàn chỉnh và tính liên kết là hai đặc trưng cơ bản.
4.1- Tính hoàn chỉnh (Completeness).
Tính hoàn chỉnh của văn bản thể hiện ở hai mặt: nội dung biểu đạt và cấu trúc. Trong đó, tính hoàn chỉnh về mặt nội dung có ý nghĩa quyết định. Xét về mặt nội dung, một văn bản được xem là hoàn chỉnh khi đề tài và chủ đề của nó được triển khai một cách đầy đủ, chính xác và mạch lạc. Nếu đề tài, chủ đề triển khai không đầy đủ, vượt quá giới hạn hay thiếu chính xác, mạch lạc thì văn bản sẽ vi phạm tính hoàn chỉnh. Xem xét các văn bản dẫn chứng chúng ta sẽ thấy rõ đặc điểm vừa nêu. Trong bài Thằng Bờm, các câu văn đều tập trung vào hai đối tượng chính là thằng Bờm và phú ông. Mặt khác, các câu còn tập trung vào việc triển khai cuộc trao đổi giữa họ theo diễn tiến từ đầu đến khi kết thúc. Trong bài Cảnh rừng Việt Bắc, các câu văn đã tập trung vào cảnh núi rừng Việt Bắc, đồng thời tập trung vào việc triển khai, làm sáng tỏ cái hay của nó ở mặt cảnh sắc cũng như sản vật. Trong bài Hoàng Lê nhất thống chí, tất cả các đoạn văn đều xoay quanh tác phẩm Hoàng Lê nhất thống chí, đồng thời tập trung nội dung bàn luận, đánh giá nhằm làm sáng tỏ hai mặt chủ đề của bài viết. Các đoạn văn còn lại được phân bố từ mặt chủ đề thứ nhất sang mặt chủ đề thứ hai một cách hợp lí, mạch lạc. Xét về mặt cấu trúc, một văn bản được xem là hoàn chỉnh khi các phần, các đoạn, các câu trong từng đoạn được tổ chức, sắp xếp theo một trật tự hợp lí, thể hiện một cách đầy đủ, chính xác, và mạch lạc nội dung của văn bản. Sự hoàn chỉnh về mặt cấu trúc của văn bản còn chịu sự chi phối gián tiếp của phong cách ngôn ngữ văn bản. Tuỳ vào phong cách ngôn ngữ, cấu trúc của các văn bản thuộc phong cách hành chánh phải tuân thủ khuôn mẫu rất nghiêm ngặt. Các văn bản thuộc phong cách khoa học cũng ít nhiều mang tính khuôn mẫu, thể hiện qua bố cục của các phần. Riêng văn bản thuộc phong cách nghệ thuật như thơ, truyện, ký thì thường có cấu trúc linh hoạt.
4.2- Tính liên kết (Cohesion).
Tính liên kết của văn bản là tính chất kết hợp, gắn bó, ràng buộc qua lại giữa các cấp độ đơn vị dưới văn bản. Ðó là sự kết hợp, gắn bó giữa các câu trong đoạn, giữa các đoạn, các phần, các chương với nhau, xét về mặt nội dung cũng như hình thức biểu đạt. Trên cơ sở đó,tính liên kết của văn bản thể hiện ở hai mặt: liên kết nội dung và liên kết hình thức.
a) Tính liên kết nội dung:
Nội dung văn bản bao gồm hai nhân tố cơ bản: đề tài và chủ đề (hay còn gọi là chủ đề và lô-gích). Do đó, tính liên kết về mặt nội dung thể hiện tập trung qua việc tổ chức, triển khai hai nhân tố này, trên cơ sở đó hình thành 2 nhân tố liên kết: liên kết đề tài và liên kết chủ đề (còn gọi là liên kết chủ đề và liên kết lô-gích). Liên kết đề tài là sự kết hợp, gắn bó giữa các cấp độ đơn vị dưới văn bản trong việc tập trung thể hiện đối tượng mà văn bản đề cập đến. Trong bài Thằng Bờm, các câu đều tập trung vào hai đối tượng: Thằng Bờm và phú ông. Trong bài Hoàng Lê nhất thống chí, các đoạn, các câu trong từng đoạn đều tập trung vào quyển tiểu thuyết này hay tập trung vào các đối tượng vốn xuất hiện trong tác phẩm: vua chúa, quan lại, kiêu binh, các mối quan hệ phong kiến. Ðó là biểu hiện cụ thể của sự liên kết về đề tài. Liên kết chủ đề là sự tương hợp mang tính lô-gích về nội dung nghĩa giữa các cấp độ đơn vị dưới văn bản. Ðó là sự tương hợp về nội dung miêu tả, trần thuật hay bàn luận giữa các câu, các đoạn, các phần trong văn bản. Một văn bản được xem là có liên kết lô-gích khi nội dung miêu tả, trần thuật, bàn luận giữa các câu, các đoạn, các phần không rời rạc hay mâu thuẫn với nhau, ngoại trừ trường hợp người viết cố tình tạo ra sự mâu thuẫn nhắm vào một mục đích biểu đạt nào đó. Xem lại bài Thằng Bờm, chúng ta thấy, nội dung trần thuật giữa các câu thể hiện rõ qua hành động mang tính chất đề nghị trao đổi của phú ông và thái độ, phản ứng của thằng Bờm trước các đề nghị cụ thể. Thằng Bờm đã lần lượt từ chối hết đề nghị này đến đề nghị khác của phú ông cho đến khi phú ông đưa ra nắm xôi, thằng Bờm đồng ý. Ðến đó, cuộc trao đổi kết thúc. Ðó là biểu hiện cụ thể của liên kết chủ đề trong bài đồng dao này. Trong bài Hoàng Lê nhẩt thống chí, trước hết chúng ta thấy các đoạn văn (phần Khai triển) đều tập trung vào việc triển khai hai mặt chủ đề mà câu chủ đề đã nêu ra. Bên cạnh đó, một số đoạn văn (c, d, e, f) có nội dung bàn luận tương hợp chặt chẽ với nhau, thể hiện qua việc cùng nên lên tính chất băng hoại, xấu xa của các thế lực như vua chúa Lê - Trịnh, văn quan võ tướng, kiêu binh và các mối quan hệ phong kiến. Tiếp thao, đoạn (g) bàn luận về sức mạnh của phong trào Tây Sươn - mặt chủ đề thứ hai của văn bản. Còn lại, đoạn (h) bàn luận về nghệ thuật của Hoàng Lê nhẩt thống chí. Ði sâu vào nội dung bàn luận trong từng đoạn, tình hình cũng tương tự. Như vậy, văn bản này liên kết rất chặt chẽ về mặt chủ đề.
b) Liên kết hình thức.
Liên kết hình thức trong văn bản là sự kết hợp, gắn bó giữa các cấp độ đơn vị dưới văn bản xét trên bình diện ngôn từ biểu đạt, nhằm hình thức hoá, hiện thực hoá mối quan hệ về mặt nội dung giữa chúng. Như đã nói, liên kết nội dung với hai nhân tố đề tài và chủ đề thể hiện qua mối quan hệ giữa các câu, các đoạn, các phần..., xoay quanh đề tài và chủ đề của văn bản. Mối quan hệ này mang tính chất trừu tượng, không tường minh. Do đó, trong quá trình tạo văn bản, người viết (người nói) bao giờ cũng phải vận dụng các phương tiện ngôn từ cụ thể để hình thức hoá, xác lập mối quan hệ đó. Toàn bộ các phương tiện ngôn từ có giá trị xác lập mối quan hệ về nội dung giữa các câu, các đoạn... là biểu hiện cụ thể của liên kết hình thức. Liên kết hình thức trong văn bản được phân chia thành nhiều phương thức liên kết. Mỗi phương thức liên kết là một cách tổ chức sự liên kết, bao gồm nhiều phương tiện liên kết khác nhau có chung đặc điểm nào đó. Nhìn chung, liên kết hình thức bao gồm các phép liên kết: lặp ngữ âm, lặp từ vựng, thế đồng nghĩa, liên tưởng, đối nghịch, thế đại từ, tỉnh lược cấu trúc, lặp cấu trúc và tuyến tính. Các phép liên kết này sẽ được xem xét cụ thể trong tổ chức của đoạn văn - đơn vị cơ sở và là đơn vị điển hình của văn bản. Các phép liên kết này cũng được vận dụng giữa các đoạn, phần... trong văn bản. Ðiều đó có nghĩa là liên kết hình thức thể hiện ở nhiều cấp độ trong văn bản. Trong văn bản, liên kết nội dung và liên kết hình thức có mối quan hệ biện chứng với nhau, trong đó, liên kết nội dung quy định liên kết hình thức.
II. ÐOẠN VĂN - ÐƠN VỊ ÐIỂN HÌNH VÀ ÐƠN VỊ CƠ SỞ CỦA VĂN BẢN
1- Khái niệm về đoạn văn.
Ðoạn văn là một tập hợp câu liên kết chặt chẽ với nhau về nội dung và hình thức, diễn đạt hoàn chỉnh hay tương đối hoàn chỉnh một chủ đề bộ phận ở cấp độ nhỏ nhất nào đó trong chủ đề hay hệ thống chủ đề toàn thể của văn bản. Trong định nghĩa vừa nêu, cần lưu ý mấy điểm:
Thứ nhất là vè khái niệm tập hợp. Nếu đoạn văn là một tập hợp thì câu chính là phần tử. Do đó, về số lượng câu, đoạn văn có ba khả năng: đoạn văn gồm nhiều câu, tức là từ hai trở lên (tập hợp nhiều phần tử), đoạn văn một câu (tập hợp một phần tử) và đoạn văn không có câu nào (tập hợp rỗng). Ðoạn văn nhiều câu là hiện tượng phổ biến trong văn bản. Ðoạn văn một câu chỉ xuất hiện rải rác trong văn bản. Ðoạn văn không câu nào là trường hợp đặc biệt, chỉ xuất hiện ở các bài văn tuyển. Ðó là những đoạn văn đã bị lược bỏ, được báo hiệu bằng dấu chấm ngang dòng.
Thứ hai là tính liên kết trong đoạn văn. Trong đoạn văn, tính liên kết cũng thể hiện ở cả hai bình diện: liên kết nội dung và liên kết hình thức như ở cấp độ văn bản. Thứ ba là sự hoàn chỉnh tương đối của đoạn văn. Một đoạn văn được xem là hoàn chỉnh khi nội dung biểu đạt của nó mang tính tự nghĩa và xác định. Ðoạn văn chỉ hoàn chỉnh tương đối khi nội dung biểu đạt của nó mang tính hợp nghĩa và/hay không xác định.
Thứ tư là về khái niệm chủ đề bộ phận ở cấp độ nhỏ nhất mà đoạn văn diễn đạt.
Ðiều này có nghĩa là những chuỗi câu dưới đoạn chỉ có chức năng triển khai chủ đề của đoạn; dưới đoạn không còn chủ đề bộ phận ở cấp độ nhỏ hơn. Xem xét các đoạn văn sau đây:
(a) Chị Sáu như say sưa với cảnh vật thiên nhiên. Chị hát theo một con chim đang hót. Chị rướn đôi tay bị còng chụp một con bướm bay qua. Chỉ chẳng để ý gì đến bọn lính tráng với súng gươm tua tủa quanh mình.
(b) Những người tù biết trời mưa khi vừa bị lùa ra khỏi hầm. Họ đón lấy giọt mưa với nỗi sung sướng thầm lặng. Ngót một năm rồi, họ bị nhốt kín. Sống với roi vọt và bóng tối, họ thèm ánh mặt trời, thèm mưa, thèm cỏ cây. Họ khao khát mọi thứ tầm thường nhất mà xưa nay thiên nhiên vẫn rộng lòng ban phát cho một người. (c) Chị Dậu là một người phụ nữ có nhan sắc, chị có cái đẹp của cô gái Cầu Lim, Ðình Cẫm như tác giả nhận xét. Nhưng tấm lòng của chị trăng trong như băng tuyết. Chỉ vì suất sưu mấy đồng bạc, chị đã phải khổ sở, điêu đứng rất nhiều, nhưng chị đã khinh bỉ ném nắm bạc vào mặt tên quan phủ dâm ô. Hai lần bị cưỡng hiếp, hai lần chị đã cương quyết chống lại và thoát ra được. Ðạo đức của chị, lòng kiên trinh của chị, tiền tài không làm hoen ố được, sức mạnh và uy vũ của bọn thống trị không lung lạc được.
Ðoạn văn (a) có chủ đề: trạng thái say sưa với cảnh vật thiên nhiên (của chị Sáu). Chủ đề này được nêu trong câu thứ nhất. Các câu còn lại triển khai, làm sáng tỏ chủ đề đó.
Ðoạn văn (b) có chủ đề là trạng thái khao khát thiên nhiên (của những người tù). Chủ đề được nêu ở câu cuối, và là kết quả của sự khái quát dựa trên những sự việc được nêu trong câu thứ hai, thứ ba và thứ tư.
Ðoạn văn (c) có chủ đề: phẩm chất trắng trong (của chị Dậu). Chủ đề này được nêu lên ở câu thứ hai, được làm sáng tỏ qua câu thứ ba, thứ tư và được khái quát lại ở câu cuối.
2- Cấu trúc của đoạn văn.
Nói đến cấu trúc của đoạn văn là nói đến các loại câu có chức năng khác nhau và sự phân bố, sắp xếp cùng với mối quan hệ qua lại giữa chúng. Trong đoạn văn, có tất cả năm loại câu có chức năng khác nhau, được phân bố, sắp xếp qua sơ đồ cấu trúc tổng thể sau đây:
2.1- Câu chuyển đoạn.
Câu chuyển đoạn là loại câu có chức năng liên kết đoạn văn mà nó trực tiếp thuộc với đoạn văn hay phần văn bản đứng trước. Về nội dung biểu đạt, loại câu này bao giờ cũng nhắc lại, hồi quy chủ đề bộ phận đã trình bày bằng cách lặp lại từ vựng hay thế đồng nghĩa, thế đại từ. Câu chuyển đoạn có thể xuất hiện hay vắng mặt. Nếu xuất hiện, số lượng thường gặp là một, đứng đầu đoạn. Nếu câu chuyển đoạn vắng mặt, chức năng liên kết đoạn sẽ do một, hai loại câu khác đồng thời đảm nhiệm.
2.2- Câu mở đoạn.
Câu mở đoạn là loại câu có chức năng đưa đẩy hay dẫn dắt ý vào đoạn. Khác với câu chuyển đoạn, câu mở đoạn không nhắc lại chủ đề đã đề cập đến mà nó nêu lên một thông tin nào đó có quan hệ với chủ đề của đoạn. Câu mở đoạn có hai khả năng: xuất hiện hay vắng mặt. Khi xuất hiện, số lượng thường gặp là một, hai câu, đứng ở đầu đoạn. Xem lại ba đoạn văn vừa dẫn trong mục 1. Câu thứ nhất trong đoạn (b) và (c) là câu mở đoạn. Xét mối quan hệ giữa câu mở đoạn với câu chủ đoạn, chúng ta cần lưu ý: Hai loại câu này có xu hướng loại trừ nhau trong đoạn văn. Bên cạnh đó, chức năng liên kết đoạn và dẫn dắt vào đoạn có thể được phức hợp trong một câu văn: một bộ phận nào đó có chức năng liên kết, bộ phận còn lại dẫn ý vào đoạn. Ví dụ: Ông quan đã vậy, còn quan bà thì sao? Ðại diện cho quan bà đây là mụ mẹ Hoạn Thư (H.T).
2.3- Câu chủ đoạn.
Câu chủ đoạn là loại câu có chức năng nêu lên chủ đề của đoạn văn mà các câu thuyết đoán sẽ triển khai làm sáng tỏ. Trong trường hợp câu chủ đoạn là câu thứ nhất của đoạn thì ngoài chức năng nêu lên chủ đề, nó còn có chức năng phụ: liên kết văn bản. Câu chủ đoạn có khả năng xuất hiện hay vắng mặt. Nếu xuất hiện, số lượng thường gặp là một câu, đứng đầu đoạn hay sau câu chuyển đoạn, câu mở đoạn, nếu đoạn văn có hai loại câu này. Trong trường hợp câu chủ đoạn vắng mặt, chủ đề của đoạn có thể mang tính hàm ngôn hay do câu kết đoạn biểu đạt, nếu câu kết đoạn xuất hiện. Xem lại ba ví dụ đã dẫn trong mục 2.1. Câu thứ nhất trong đoạn (a) và câu thứ hai trong đoạn (c) là câu chủ đoạn.
2.4- Câu thuyết đoạn.
Câu thuyết đoạn là loại câu có chức năng triển khai, làm sáng tỏ chủ đề của đoạn, hay nêu lên sự việc, sự kiện làm tiền đề để rút ra kết luận khái quát trong câu kết đoạn. Trừ trường hợp đoạn văn một câu, câu thuyết đoạn bao giờ cũng xuất hiện, số lượng tuỳ vào quy mô của đoạn: từ một đến chín, mười câu hay nhiều hơn nữa. Ðoạn văn càng có nhiều câu thuyết đoạn thì chủ đề càng được triển khai cụ thể, chi tiết hơn. Xem lại ba ví dụ đã dẫn ở mục 2.1. Trong đoạn (a), các câu thứ hai, thứ ba, thứ tư là câu thuyết đoạn. Trong đoạn (b), các câu thứ hai, thứ ba, thứ tư là câu thuyết đoạn. Trong đoạn (c), các câu thứ hai, thứ ba là câu thuyết đoạn. 2.5- Câu kết đoạn.
Câu kết đoạn là loại câu có chức năng đúc kết, khái quát lại hay mở rộng chủ đề của đoạn. Trong trường hợp đoạn văn không có câu chủ đoạn mà có câu kết đoạn, câu kết đoạn là câu nêu lên chủ đề của đoạn. Câu kết đoạn có thể xuất hiện hay vắng mặt. Nếu xuất hiện, số lượng có thể là một, hai câu, nằm ở cuối đoạn văn.
3- Các kiểu kết cấu của đoạn văn.
Như vừa trình bày, cấu trúc tổng thể của đoạn văn bao gồm năm loại câu có chức năng khác nhau. Trong đó câu chủ đoạn, câu thuyết đoạn và câu kết đoạn là ba loại câu cơ bản. Trong ba loại câu này, câu chủ đoạn và câu kết đoạn có thể xuất hiện hay vắng mặt, hình thành những biến thể cụ thể của cấu trúc đoạn văn. Những biến thể cụ thể này là các kiểu kết cấu của đoạn (còn được gọi là các cách lập luận). Có bốn kiểu kết cấu của đoạn:
3.1- Kết cấu diễn giải.
Kiểu kết cấu này bao gồm câu chủ đoạn và câu thuyết đoạn. Trong đó câu chủ đoạn nêu lên chủ đề, câu thuyết đoạn triển khai làm sáng tỏ chủ đề. Kiểu kết cấu này không có câu kết đoạn.
3.2- Kết cấu quy nạp.
Quy nạp là kiểu kết cấu bao gồm câu thuyết đoạn và câu kết đoạn. Trong đó, câu thuyết đoạn nêu lên sự việc, chi tiết cụ thể làm cơ sở để rút ra kết luận khái quát trong câu kết đoạn. Kiểu kết cấu này không có câu chủ đoạn.
3.3- Kết cấu diễn giải kết hợp với quy nạp.
Ðây là kiểu kết cấu bao gồm câu chủ đoạn, câu thuyết đoạn và câu kết đoạn. Trong đó, câu chủ đoạn nêu lên chủ đề, câu thuyết đoạn triển khai làm sáng tỏ chủ đề và câu kết đoạn đúc kết, khái quát lại hay mở rộng chủ đề. Ðây là kiểu kết cấu lí tưởng của đoạn, bởi lẽ nó tạo nên sự hoàn chỉnh, cân đối nhất cho đoạn văn. 3.4- Kết cấu song hành.
Ðây là kiểu kết cấu chỉ bao gồm một số câu thuyết đoạn, câu chủ đoạn và câu kết đoạn vắng mặt. Ðiều đó có nghĩa là chủ đề của đoạn văn mang tính chất hàm ngôn.
4. Phân loại đoạn văn.
Dựa vào đặc điểm về nội dung biểu đạt, có tất cả bốn loại đoạn văn cơ bản:
4.1- Ðoạn miêu tả.
Ðoạn miêu tả là loại đoạn văn có nội dung thể hiện sự vật, hiện tượng một cách chi tiết, cụ thể, sinh động như nó tồn tại trong thực tại khách quan hay theo trí tưởng tượng của người viết. Ðây là đoạn văn cơ bản, xuất hiện rất phổ biến trong các loại văn bản thuộc phong cách nghệ thuật như truyện, thơ trữ tình, kí sự. Các đoạn văn (a), (b) đã dẫn trong mục 2.1 là đoạn miêu tả.
4.2- Ðoạn thuật sự.
Thuật sự là loại đoạn văn có nội dung trình bày diễn biến của sự việc, sự kiện như nó đã xảy ra hay theo trí tưởng tượng của người viết. Loại đoạn văn này có khả năng xuất hiện trong nhiều phong cách ngôn ngữ văn bản: hành chánh, khoa học, chính luận và nghệ thuật.
4.3- Ðoạn lập luận.
Lập luận là loại đoạn văn có nội dung trình bày suy nghĩ, ý kiến, quan điểm của người viết về một vấn đề, một hiện tượng nào đó. Ðây là loại đoạn văn cơ bản, xuất hiện rất phổ biến trong các loại văn bản thuộc phong cách khoa học, chính luận. Văn bản thuộc phong cách hành chánh cũng có thể vận dụng loại đoạn văn này, nhưng ít phổ biến hơn.
4.4- Ðoạn hội thoại.
Hội thoại là loại đoạn văn có nội dung phản ánh lời nói trực tiếp của con người tham gia giao tiếp. Ðoạn văn hội thoại xuất hiện rất phổ biến trong khẩu ngữ tự nhiên hàng ngày, trong các văn bản thuộc phong cách nghệ thuật như truyện. Những vấn đề cơ bản về văn bản và đoạn văn đã trình bày là những tri thức thông báo cơ bản. Những tri thức đó là cơ sở để đúc kết, rút ra những tri thức về quy trình xây dựng, tạo lập văn bản.
III. QUY TRÌNH TẠO LẬP VĂN BẢN
1. Sơ lược về các giai đoạn trong quy trình tạo lập văn bản.
Nhìn chung, quá trình tạo lập văn bản bao gồm bốn giai đoạn tiếp nối nhau: định hướng, lập chương trình biểu đạt (lập đề cương), tạo văn bản và kiểm tra, sửa chữa văn bản (bản thảo). Quy trình này được tiến hành khi người viết tự chọn đề tài để viết hay được yêu cầu với đề văn cho sẵn như trong nhà trường. Ðịnh hướng là giai đoạn người viết xem xét, phân tích đề tài/đề văn, trên cơ sở đó xác định chủ đề của bài viết, loại văn bản và hướng sưu tập tư liệu cũng như phạm vi giới hạn của tư liệu sẽ sử dụng. Lập chương trình biểu đạt là giai đoạn người viết động não để triển khai, cụ thể hoá chủ đề thành các mặt chủ đề bộ phận thuộc nhiều cấp độ, kết hợp với việc tập hợp tư liệu cần thiết, trên cơ sở chọn lựa, sắp xếp lại thành đề cương (dàn ý) của bài viết với hệ thống các số mục, đề mục cụ thể. Tạo văn bản là giai đoạn người viết vận dụng kiến thức về từ, câu, đoạn, văn bản để lần lượt hiện thực hoá đề cương thành văn bản dưới dạng bản thảo. Kiểm tra sửa chữa bản thảo là giai đoạn người viết đọc lại bản thảo, phát hiện lỗi sai và sửa chữa để bài viết hoàn chỉnh hơn.
2- Các giai đoạn tạo lập văn bản.
2.1 Ðịnh hướng.
Trong giai đoạn này, người viết cần tiến hành các thao tác:
a) Chọn đề tài hay xem xét, phân tích đề văn cho sẵn để xác định một cách cụ thể chủ đề có liên quan.
Chẳng hạn, với đề tài Nạn phá rừng, người viết có thể từng bước thu hẹp đề tài và xác định chủ đề như sau:
- Nạn phá rừng ( Nạn phá rừng ở Việt Nam. ( Nạn phá rừng ở miền Trung và Tây Nguyên Việt Nam
( Tác hại của nạn phá rừng ở miền Trung và Tây Nguyên Việt Nam
b) Xác định loại hình văn bản.
Ở bước này, người viết phải xác định rõ văn bản sẽ viết thuộc loại gì, phong cách nào. Trình bày hay nghị luận (biện luận)? Chẳng hạn với đề tài vừa nêu, ta có thể viết thành một bài văn trình bày.
c) Xác định hướng sưu tập tư liệu và giới hạn của phạm vi tư liệu.
Tư liệu có thể sưu tập theo nhiều nguồn: báo chí, sách vở, các phương tiện phát thanh, truyền hình hay thực tế mà người viết chứng kiến, trải nghiệm.
2.2- Lập chương trình biểu đạt.
Ở giai đoạn này, người viết cần thực hiện các thao tác:
a) Ðộng não để triển khai chủ đề toàn thể từng bước thành các chủ đề bộ phận.
Chẳng hạn, với chủ đề và đề tài vừa xác định trên, ta có thể triển khai thành các mặt:
- Nguyên nhân của nạn phá rừng.
+ Tình trạng di dân tự do.
+ Mở rộng diện tích canh tác.
+ Khai thác củi, gỗ.
- Biểu hiện của nạn phá rừng.
+ Ðốt rừng
+ Ðốn chặt cây cối.
- Quy mô, địa điểm diễn ra nạn phá rừng.
+ Ở Tây Nguyên: bao nhiêu héc ta, thời điểm nào?
+ Ở miền Trung: bao nhiên héc ta, thời điểm nào?
- Tác hại của nạn phá rừng.
+ Nạn hạn hán, thiếu nước ở vùng hạ lưu sống ngòi vào mùa khô.
+ Nạn lũ lụt vào mùa mưa.
- Hướng ngăn chặn phá rừng:
+ Biện pháp giáo dục.
+ Biện pháp luật pháp v.v....
b) Chọn lựa, sắp xếp các chủ đề bộ phận và tư liệu có liên quan thành đề cương cụ thể.
Ở giai đoạn này cần lưu ý mấy điểm:
- Phải chọn lựa và sắp xếp các chủ đề bộ phận và tư liệu có liên quan theo một trật tự thích hợp.
- Các số mục và đề mục phải đảm bảo tính hệ thống và tính nhất quán. Tránh hiện tượng trùng lắp, chồng chéo giữa các chủ đề.
2.3- Tạo văn bản.
Ở giai đoạn này, người viết vận dụng tri thức về văn bản và đoạn văn để lần lượt diễn đạt hệ thống các đề mục thành các phần, các đoạn văn cụ thể. Trong quá trình tạo văn bản cần lưu ý đến cách viết các phần, các đoạn:
a) Viết phần mở đầu:
Dẫn nhập bằng vài ba câu rồi nêu chủ đề của văn bản một cách rõ ràng xác định.
b) Viết các đoạn văn trong phần khai triển.
- Câu chủ đoạn của các đoạn văn phải ngắn gọn, súc tích. Khi nêu xong chủ đề của đoạn, phải ngắt câu (bằng dấu chấm).
- Các câu thuyết đoạn có thể được viết bằng câu đơn hay câu ghép, và nội dung triển khai phải bám sát chủ đề đã nêu.
- Câu kết đoạn của các đoạn văn phải dựa trên cơ sở sự việc, chi tiết số liệu đã nêu.
Cần tránh lối khái quát gò ép, máy móc, khiên cưỡng.
c) Viết phần kết luận.
Phần kết luận không cần viết dài (đoạn văn gồm vài ba câu), trong đó nhất thiết phải có câu kết đề đúc kết, khái quát lại chủ đề của cả bài. Các câu còn lại có thể gợi mở, liên hệ sang vấn đề khác có liên quan.
2.4- Kiểm tra, sửa chữa văn bản.
Ở giai đoạn này, người viết vừa đọc lại, vừa suy ngẫm xem xét, xác định lỗi sai và sửa chữa. Cụ thể là phát hiện và sửa chữa các loại lỗi như: Lỗi chính tả (xem chương bốn), lỗi từ ngữ (xem chương ba), lỗi ngữ pháp (xem chương hai) và lỗi liên kết văn bản. Chương này chỉ tập trung trình bày lỗi liên kết văn bản.