THÔNG BÁO

  THỜI GIAN GẦN ĐÂY MỘT SỐ BẠN LỢI DỤNG  WEBSITE NÀY ĐỂ ĐƯA RA NHỮNG PHÁT NGÔN KHÔNG TỐT. CHO NÊN CHÚNG TÔI TẠM THỜI ĐÓNG WEBSITE LẠI ĐỂ NÂNG CẤP NHẰM HẠN CHẾ MỘT SỐ HÀNH VI KHÔNG TỐT LÀM ẢNH HƯỞNG ĐẾN DIỄN ĐÀN .CÁC BẠN CÓ THẮC MẮC XIN LIÊN HỆ : phanthanhhung90@gmail.com
III. HỆ THỐNG ĐƠN VỊ NGỮ PHÁP VĂN BẢN
Đại mục III gồm 2 mục:
1. Các quan niệm khác nhau về đơn vị ngữ pháp văn bản
2. Hệ thống đơn vị và kết cấu văn bản
1. Các quan niệm khác nhau về đơn vị ngữ pháp văn bản
Để cho gọn, đơn vị và kết cấu ngữ pháp văn bản đă được gọi tắt là đơn vị và kết cấu văn bản và hệ thống đơn vị và kết cấu ngữ pháp văn bản sẽ được gọi tắt là hệ thống đơn vị và kết cấu văn bản. Hiện nay, có thể thấy năm quan niệm khác nhau về hệ thống đơn vị và kết cấu văn bản sau đây:
1.1 Câu - phát ngôn, đơn vị văn bản cơ sở, đoạn văn - kết cấu văn bản
a. Người đề xuất quan niệm này là Trần Ngọc Thêm trong Hệ thống liên kết văn bản tiếng Việt (Nhà xuất bản KHXH, 1985).
Ở trang 22, ông viết: Nói một cách chung nhất th́ văn bản là một hệ thống trong đó các câu mới chỉ là phần tử (...) cấu trúc văn bản chỉ ra vị trí của mỗi câu và những mối quan hệ, liên hệ của nó với những câu xung quanh nói riêng và với toàn văn bản nói chung. Sang chương III, có tên Phát ngôn - đơn vị liên kết văn bản, ở trang 55, ông gọi câu trong văn bản bằng tên khác: Từ đây, thay v́ nói sự liên kết liên câu, ta sẽ nói đến sự liên kết phát ngôn, và thay v́ nói cấp độ câu ta sẽ nói đến cấp độ phát ngôn". Cấp độ phát ngôn là cấp độ ngôn ngữ ở dưới cấp độ đoạn văn và ở trên cấp độ từ. Theo quan niệm này, câu hay phát ngôn là một bộ phận của đoạn văn, là đơn vị văn bản nhỏ nhất. Nghĩa của nó được xác định rất rơ ở các trang 50, 51: Lâu nay, phát ngôn được dùng theo hai nghĩa. Theo nghĩa thứ nhất th́ phát ngôn không phải là một đơn vị, mà là một hành vi lời nói không có ranh giới xác định ... nó có thể gồm một từ, một câu, một chuỗi câu, thậm chí bằng cả một cuốn tiểu thuyết lớn. Theo nghĩa thứ hai th́ phát ngôn là một đơn vị của lời nói có ranh giới xác định bằng hai quăng ngắt hơi.... ... Phát ngôn là một bộ phận của đoạn văn, với một cấu trúc và một nội dung nhất định nào đó (đầy đủ hoặc không đầy đủ), được tách ra hoàn chỉnh về h́nh thức: ở dạng viết, nó bắt đầu bằng chữ cái hoa và kết thúc bằng dấu ngắt phát ngôn... ... Khi phân đoạn, đoạn văn sẽ được chia hết thành các phát ngôn, không có phần dư. b. Các sách giáo khoa Tiếng Việt, một số sách và giáo tŕnh cũng theo quan niệm này. Tiếng Việt 9 (bản 1989 của Lê Cận, Nguyễn Quang Ninh) không viết rơ ra nhưng có hàm ư như vậy khi viết ngay ở bài đầu : Các câu trong văn bản bao giờ cũng có quan hệ chặt chẽ với nhau (trang 4) và bài 3 có tựa đề là: Liên kết câu một điều kiện quan trọng của việc tạo văn bản. Sách Tiếng Việt 10 cũng viết: Muốn tạo văn bản th́ phải dùng câu. Để tạo văn bản có thể chỉ dùng một câu nhưng thông thường phải dùng nhiều câu. (1) Giáo tŕnh Tiếng Việt thực hành của Hữu Đạt cũng có quan niệm như vậy: Văn bản là một tập hợp các câu (hay các phát ngôn) được kết hợp với nhau theo một phương thức nhất định... (2) Giáo tŕnh Tiếng Việt của một số trường cao đẳng sư phạm cũng coi câu là đơn vị văn bản cơ sở và đoạn văn là kết cấu văn bản. Riêng sách Tiếng Việt 11 lại có sự phân biệt giữa câu và phát ngôn: Phát ngôn chính là câu trong hoạt động giao tiếp. Một phát ngôn có thể chỉ gồm một câu, cũng có thể bao gồm nhiều câu (3). (Sách Tiếng Việt 11 chỉnh lí và hợp nhất đă sửa lại và bỏ câu hai trong quan niệm trên).
1.2 Chỉnh thể trên câu (CTC) là đơn vị văn bản. Đoạn văn là đơn vị cấu trúc - phong cách
Trong các sách ngôn ngữ học văn bản của Liên Xô như Ngữ pháp văn bản của Moskalskaja, Văn bản với tư cách đối tượng nghiên cứu ngôn ngữ học của Galperin (4), đơn vị văn bản được coi là chỉnh thể cú pháp phức hợp, hoặc thể thống nhất trên câu. Ở Việt Nam, tác giả các cuốn Ngữ pháp văn bản và việc dạy làm văn, Đại cương ngôn ngữ học, Thực hành ngữ pháp tiếng Việt (1) gọi các đơn vị trên là chỉnh thể trên câu và đề nghị viết tắt là CTC. Theo các tác giả, câu không phải là đơn vị trực tiếp tạo nên văn bản, không phải là đơn vị văn bản mà chỉ là thành tố cấu tạo nên đơn vị văn bản là CTC và đoạn văn là bộ phận của văn bản mang nhiều màu sắc phong cách. Ba tác giả cuốn Ngữ pháp văn bản và... quan niệm: CTC là đơn vị ngữ pháp lớn hơn câu. Đó là một nhóm câu (gồm hai câu trở lên) gắn bó chặt chẽ với nhau bằng phương tiện liên kết liên câu và thể hiện một chủ đề con (thể hiện một bộ phận, một khía cạnh nào đó của sự vật, hiện tượng được miêu tả) (trang 67). Chủ đề con của CTC được hiểu là nội dung cô đúc và khái quát của nó. Sự chuyển tiếp từ chủ đề con này sang chủ đề con khác là dấu hiệu phân giới, nó chỉ ra chỗ kết thúc của một CTC và chỗ bắt đầu của CTC tiếp theo (trang 75). Đoạn văn không phải là một đơn vị ngữ pháp cấu thành văn bản kiểu như CTC. Nó có thể trùng, nhưng cũng có thể không trùng với chúng. Đoạn văn chỉ là phương tiện để phân đoạn văn bản về mặt phong cách học (...). Bất ḱ một từ, một câu, một nhóm câu, một CTC, một nhóm CTC nào cũng có thể tách ra được thành một đoạn văn. (trang 112). Các tác giả cuốn Thực hành ngữ pháp tiếng Việt cũng cho rằng: CTC là đơn vị có đặc trưng ngữ nghĩa - ngữ pháp - thông báo. Đó là một cụm câu có tổ chức đặc thù về ngữ nghĩa, về ngữ pháp và về thông báo, phản ánh một chủ đề nhỏ nhất (vi đề), có liên hệ ngữ pháp chặt chẽ với nhau nhờ những phương tiện liên kết h́nh thức mang chức năng thông báo nhờ mối liên hệ đề - thuyết với nhau. Như vậy, về mặt tôn ti, CTC là đơn vị trung gian giữa câu và văn bản. Về mặt kết cấu, CTC có kết cấu hoàn chỉnh tương đối. Về mặt nội dung, CTC thể hiện một chủ đề con (tiểu chủ đề hay vi đề). C̣n đoạn văn có cấu trúc phong cách, là đơn vị của ngành in luôn được h́nh thức hóa dưới dạng một khúc đoạn xuống ḍng (viết hoa thụt đầu ḍng và kết thúc bằng dấu ngắt xuống ḍng), khác với đặc trưng của CTC là ngữ nghĩa, ngữ pháp, thông báo. Do vậy, CTC có thể được viết ra dưới dạng một đoạn văn hoặc nhiều đoạn văn và cũng có thể chỉ là một bộ phận của một đoạn văn. Nói cách khác, CTC có thể: trùng đoạn văn CTC = ĐV hoặc lớn hơn đoạn văn CTC > ĐV hoặc nhỏ hơn đoạn văn CTC < ĐV.
1.3 Đoạn văn, đơn vị cơ sở để tổ chức văn bản, khác khổ viết.
Nguyễn Minh Thuyết, Nguyễn Văn Hiệp, trong Tiếng Việt thực hành (Nxb GD, 1997) quan niệm: Đoạn văn là đơn vị cơ sở để tổ chức văn bản, thường gồm một số câu gắn bó với nhau trên cơ sở một chủ đề bộ phận, cùng nhau phát triển chủ đề đó theo định hướng giao tiếp chung của văn bản. Đoạn văn có thể (...) chiếm cả trang viết với vài chục câu nhưng có thể chỉ gồm vài ba câu, cá biệt có thể chỉ gồm một câu. (...) (trang 63). Sách này phân biệt đoạn văn với khổ viết và quan niệm khổ viết là một khúc đoạn từ chỗ viết hoa thụt đầu ḍng tới dấu chấm xuống ḍng. Đoạn văn có thể được viết trong một khổ viết và cũng có thể được viết dưới dạng nhiều khổ viết. Như thế, có thể thấy: quan niệm của Nguyễn Minh Thuyết và Nguyễn Văn Hiệp về cơ bản không khác với quan niệm đă được nói tới ở mục 1.2. Điều khác nhau là ở tên gọi. CTC được gọi là đoạn văn, c̣n đoạn văn (được nói trong mục 1.2) th́ được gọi là khổ viết. Các sách Tiếng Việt phổ thông, các sách Làm văn 10, 11, 12 (Nxb GD, 1990, 91, 92) do giáo sư Trần Thanh Đạm chủ biên và giáo tŕnh Làm văn của Chim Văn Bé (ĐHCT, 1992) do nhu cầu dạy làm văn, dựng đoạn cũng đồng quan điểm này tức là phân biệt đoạn văn với tư cách đơn vị văn bản và đoạn văn h́nh thức - chỉ dựa vào dấu hiệu xuống ḍng. Sách Tiếng Việt 9 (chỉnh lí) từ tiết 18 đến tiết 28 đă tập trung dạy đoạn văn, đề tài trong đoạn văn, câu chốt trong đoạn văn, tách đoạn văn, tŕnh bày nội dung trong đoạn văn và liên kết đoạn văn. Lê Cận, Nguyễn Quang Ninh trong Tiếng Việt 9 (Nxb GD, 1989, trang 38, 39) đă chỉ rơ:
a) Khi văn bản tŕnh bày nhiều sự việc th́ ứng với mỗi sự việc có thể viết thành một đoạn văn riêng.
b) Khi văn bản tŕnh bày nhiều đặc điểm, tính chất của cùng một đối tượng th́ ứng với mỗi đặc điểm, tính chất có thể viết thành một đoạn văn riêng.
c) Khi văn bản tŕnh bày sự việc, hiện tượng ở nhiều địa điểm khác nhau th́ ứng với mỗi địa điểm có thể viết thành một đoạn văn riêng.
d) Khi văn bản tŕnh bày sự việc, hiện tượng ở nhiều thời điểm khác nhau th́ ứng với mỗi thời điểm có thể viết thành một đoạn văn riêng. Về mặt lí thuyết, cần nhắc tới bài báo của giáo sư Trần Ngọc Thêm đăng trên tạp chí Ngôn ngữ số tháng 3 năm 1984. Trong bài báo, sau khi nêu lên các tiêu chuẩn để xác định một đơn vị ngôn ngữ và điểm lại các quan niệm về đơn vị trên câu, tác giả viết: 6. Nh́n đi nh́n lại, chỉ có chấp nhận đoạn văn là đơn vị (...) duy nhất mới có khả năng đáp ứng được các tiêu chuẩn (...), đoạn văn là một bộ phận của văn bản, gồm một chuỗi phát ngôn được xây dựng theo một cấu trúc và mang một nội dung nhất định (đầy đủ hoặc không đầy đủ), được tách ra một cách hoàn chỉnh về mặt h́nh thức: ở dạng nói, nó có những kiểu ngữ điệu nhất định và kết thúc bằng quăng ngắt hơi dài; ở dạng viết, nó bắt đầu bằng dấu mở đoạn (gồm thụt đầu ḍng + viết hoa) và kết thúc bằng dấu ngắt đoạn (gồm dấu ngắt phát ngôn + xuống ḍng). Những ngữ đoạn được tách ra không có đủ các dấu hiệu cần thiết (có dấu mở đoạn nhưng lại xuống ḍng bằng dấu phẩy hoặc không dấu; hay có ngắt đoạn nhưng mở đầu lại không thụt đầu ḍng và/hoặc không viết hoa) đều chỉ là những bộ phận của đoạn văn mà chúng tôi gọi là tự đoạn. Việc châïp nhận đoạn văn là đơn vị hoàn toàn phù hợp với linh cảm (trực giác) của nhà nghiên cứu nói riêng và của những người sử dụng ngôn ngữ nói chung. Không phải vô cớ mà cách đây 70 năm, Peshkovskij đă nhắc đến đoạn văn như một đơn vị ngôn ngữ. Cũng không phải t́nh cờ mà tháng 8-1973, Chủ tịch Phạm Văn Đồng đă căn dặn; Sau từ th́ đến câu; nhiều câu thành một đoạn; nhiều đoạn thành một bài; rồi một cuốn sách, v.v. Tất cả đều phải dạy, phải học, phải tập nhằm diễn tả cho thành công những điều ḿnh suy nghĩ Nhưng rồi đến năm 1985, khi cho phát hành cuốn sách Ngữ pháp văn bản và việc dạy làm văn, tác giả lại không giữ nguyên quan niệm ấy và chủ trương CTC mới là đơn vị ngữ pháp văn bản c̣n đoạn văn chỉ là một khúc đoạn giống như cái gọi là tự đoạn trong bài báo trên.
1.4 Cụm câu hoặc lời hoặc tiểu khúc và đoạn văn là hai đơn vị văn bản
Đây là quan niệm của các giáo sư Nguyễn Đức Dân, Lưu Vân Lăng và Hồ Lê. Nguyễn Đức Dân, trong Tiếng Việt (thực hành), (Tủ sách Đại học tổng hợp TP. Hồ Chí Minh, 1995), quan niệm có nhiều đơn vị văn bản thuộc các cấp độ khác nhau. Theo tác giả: Cụm câu: Trong văn bản có những câu liên kết chặt chẽ với những câu khác. Đứng riêng, nó không cho ta biết đầy đủ nội dung cần thông báo. Cần cả một cụm câu mới thành một chỉnh thể thông báo, có cương vị là một bộ phận trọn vẹn trong giao tiếp. Đoạn văn: Một tập hợp các cụm câu, tạo ra một chỉnh thể thông báo về một nội dung rộng hơn so với cụm câu. Ta nói đoạn văn là một chỉnh thể về một chủ đề(...). Trong những văn bản phức tạp, rộng hơn đoạn văn c̣n có thể là mục- chương - phần - khoản - tiết ... Lưu Vân Lăng, trên tạp chí Ngôn ngữ số tháng 1 năm 1995, trong bài Hệ thống thành tố cú pháp với ṇng cốt câu, đă nêu quan niệm về hệ thống đơn vị ngôn ngữ là: Tiếng / Từ / Ngữ / Cú / Câu / Lời / Đoạn văn / Văn bản Theo giáo sư, Giữa câu và đoạn văn c̣n có đơn vị lời (hay phát ngôn). Nó có thể là một câu hay một nhóm câu liên kết chặt chẽ thành một khối, mang một nội dung thông báo hoàn chỉnh. Câu là đơn vị lớn nhất thuộc cú pháp học mà lời là đơn vị tế bào của văn pháp học. Hiển nhiên từ phát ngôn ở đây được dùng khác nghĩa với cách dùng của sách giáo khoa phổ thông và của giáo sư Trần Ngọc Thêm. Hồ Lê, trong Quy luật ngôn ngữ, Quyển 2, Tính quy luật của cơ chế ngôn giao (Nxb KHXH, 1996) lại có quan niệm hơi khác. Theo giáo sư, câu hay phát ngôn là đơn vị văn bản nhỏ nhất, có thể tự ḿnh làm thành văn bản tối giản, văn bản là đơn vị giao tiếp lớn nhất, và, ở vị trí trung gian là các kiểu đoạn văn lớn và nhỏ: Một đại văn bản thường gồm nhiều đoạn văn làm thành những "phần", "chương", "tiết", "mục", "tiểu mục", hoặc ít ra cũng gồm từ "chương" trở xuống. Như vậy, các đoạn văn thường có kích thước khác nhau làm thành các kiểu đoạn văn lớn và nhỏ. (Tr. 72) Song, tiểu mục chưa hẳn là đoạn văn nhỏ nhất. Trong một tiểu mục lại có thể phân ra nhiều tiểu đoạn (paragraph). Giữa 2 tiểu đoạn trên và dưới thường cách nhau bằng sự xuống ḍng. Trong mỗi tiểu đoạn lại có thể gồm nhiều tiểu khúc (alinéa). Thường 2 tiểu khúc cách nhau bằng một ngữ chuyển tiếp (...), mà bên trong tiểu khúc th́ không thể c̣n có một đoạn nào nhỏ hơn có được đặc điểm của tiểu khúc. (...) Đoạn văn nhỏ nhất, tức tiểu khúc, có thể chỉ gồm có một phát ngôn. Trong trường hợp không có tiểu khúc th́ tiểu đoạn sẽ là đoạn văn nhỏ nhất. (Tr. 73) Như thế, theo tác giả: - Văn bản tối giản chỉ gồm một phát ngôn: Phát ngôn ® Æđoạn văn = văn bản - Văn bản nhỏ chỉ gồm một tiểu khúc: Phát ngôn ® đoạn văn nhỏ nhất đồng thời cũng là đoạn văn lớn nhất (tiểu khúc) = văn bản - Văn bản thông thường gồm các phần, mỗi phần chứa một vài mục: Phát ngôn ® những đoạn văn nhỏ nhất (tiểu khúc) ® những đoạn văn lớn hơn (tiểu đoạn) ® những đoạn văn lớn nhất (tiểu mục hoặc mục) ® văn bản - Văn bản lớn là văn bản gồm nhiều phần, mỗi phần có một hoặc vài chương: Phát ngôn ® những đoạn văn nhỏ nhất (tiểu khúc) ® những đoạn văn lớn hơn ®tiểu đoạn ® tiểu mục ® mục ® tiết ( chương), ® những đoạn văn lớn nhất (phần) ® văn bản 1.5 Bỏ qua sự phức tạp, chọn một quan niệm tiện cho thực hành Đây chính là quan niệm của ba tác giả Hoàng Văn Thung, Lê A, Đinh Trọng Lạc trong Giáo tŕnh Tiếng Việt 3 (Nxb GD, 1998). Sau khi điểm lại các quan niệm về đoạn văn, nêu lên tính phức tạp về mặt lí thuyết của vấn đề, theo các tác giả: ...nói đến đoạn văn cần chú ư: - Đoạn văn là đơn vị, là yếu tố cấu thành văn bản. - Mang những đặc điểm gần giống như văn bản: hoàn chỉnh về nội dung và h́nh thức. Có thể tạm thời định nghĩa đoạn văn như sau: Đoạn văn là yếu tố cấu thành văn bản, có chủ đề thống nhất, có kết cấu hoàn chỉnh, được đánh dấu bằng việc viết thụt vào, kết thúc bằng dấu ngắt xuống ḍng. (trang 198). Quan niệm này cho rằng gọi đoạn văn hay CTC đều được nhưng gọi là đoạn văn th́ quen thuộc với người Việt Nam hơn. Quan niệm này cũng phân biệt đoạn văn với tư cách đơn vị ngữ pháp văn bản và đoạn văn với cách hiểu thông thường tức là chỉ đơn thuần dựa vào dấu hiệu xuống ḍng một cách h́nh thức. (Xem các trang 196, 197, 198). Nhận xét: · Rơ ràng, hiện nay, giữa các nhà nghiên cứu ngữ pháp văn bản chưa có sự nhất trí cao về hệ thống đơn vị văn bản. Cùng một tác giả, trong các tài liệu in ấn khác nhau cũng có những lí giải khác nhau. · Sự quan tâm chung tập trung vào CTC, nhưng trong việc dạy tiếng Việt thực hành và làm văn, sự quan tâm lại tập trung vào đoạn văn. Một số tác giả lại chủ trương hai loại đơn vị: cụm câu hay lời và đoạn văn. Riêng Hồ Lê quan niệm đoạn văn có nhiều kích cỡ: tiểu khúc, tiểu đoạn... mà đoạn văn lớn nhất chính là phần. · Có lẽ, một thái độ khoa học là cần phải biết trân trọng mọi sự t́m ṭi, tham gia t́m ṭi, đề xuất giải pháp và cần tránh thái độ khen chê một cách cảm tính. Muốn vậy, cách tốt nhất là phải xuất phát từ thực tế văn bản sống động, phong phú và có cơ sở lí luận thỏa đáng.
2. Hệ thống đơn vị và kết cấu văn bản
2.1 Các cơ sở xuất phát
a. Vấn đề thuật ngữ:
Mọi ngành khoa học đều có thể mượn từ ngữ trong sinh hoạt đời thường rồi gán cho nó một nội hàm xác định để nó trở thành một thuật ngữ khoa học. Lúc này, thuật ngữ sẽ nằm trong một hệ thống thuật ngữ chuyên ngành và chịu sự chi phối của hệ thống ấy. Khi nói đến đơn vị ngữ pháp văn bản, một số nhà nghiên cứu đă dùng các cụm từ đơn vị văn bản, đơn vị văn bản nhỏ nhất, đơn vị văn bản cơ sở, đơn vị văn bản tế bào, đơn vị văn bản cơ bản, đơn vị văn bản chủ yếu hoặc điển h́nh... Ở đây có hai vấn đề. Một là, câu, các đơn vị trên câu là các đơn vị của lời nói, của quá tŕnh tư duy, thông báo. Liệu có thể coi chúng là các đơn vị ngôn ngữ được không? Hai là, nghĩa của các từ cơ sở, cơ bản, tế bào, chủ yếu, điển h́nh trong các cụm từ nói trên cần được hiểu như thế nào? Vấn đề một: đơn vị văn bản, đơn vị của quá tŕnh ngôn giao có thể coi là đơn vị ngôn ngữ được không? Đơn vị là từ có nhiều nghĩa, trong đó có một nghĩa là một lượng chung, tiêu chuẩn dùng để đo lường một thứ cùng loại; là yếu tố mà tập hợp làm thành một chỉnh thể; văn bản là sản phẩm của hoạt động ngôn ngữ làm chức năng thông báo; do đó, đơn vị văn bản phải là đoạn viết chứa đựng một lượng tiêu chuẩn dùng để đo đếm văn bản, phải là yếu tố tạo nên văn bản, trực tiếp góp phần làm nên chức năng thông báo của văn bản. Hiện nay, thuật ngữ đơn vị văn bản được dùng theo hai nghĩa. Nghĩa thứ nhất, đơn vị văn bản là tất cả các thành tố thuộc mọi cấp độ của văn bản như: câu (phát ngôn), CTC, đoạn văn, mục, tiết, chương, phần... Nghĩa thứ hai, đơn vị văn bản là thành tố nhỏ nhất của văn bản dùng để tạo nên các kết cấu văn bản. Như thê,ú câu hay phát ngôn là đơn vị văn bản và CTC, đoạn văn, tiết, mục, chương, phần... là các kết cấu văn bản. Ở một b́nh diện khác, các kết cấu văn bản này sẽ được coi là các đơn vị văn bản ở cấp độ cao hơn. Tiếp theo, liệu câu và các đơn vị trên câu ấy có thể được coi là các đơn vị ngôn ngữ không? Xuất phát từ quan niệm về mối quan hệ thống nhất biện chứng giữa ngôn ngữ và tư duy, một đơn vị ngôn ngữ bao giờ cũng là một đơn vị hai mặt: mặt nội dung ư tưởng và mặt h́nh thức ngôn từ. Nếu h́nh vị là đơn vị hai mặt (ngữ âm và ngữ nghĩa) nhỏ nhất của ngôn ngữ, là thành tố cấu tạo từ; từ là đơn vị hai mặt nhỏ nhất và độc lập của ngôn ngữ dùng để cấu tạo câu; th́ câu là đơn vị do các từ kết hợp lại theo một quy tắc ngữ pháp nhất định làm được chức năng thông báo tất nhiên phải được coi là đơn vị ngôn ngữ - hiểu theo nghĩa tiếng nói của một tộc người, bao gồm hai mặt cụ thể và trừu tượng (ngôn và ngữ). Không nên coi câu chỉ là đơn vị chức năng, thuộc lời nói, bởi v́, dù có là đơn vị chức năng th́ cũng là chức năng của ngôn ngữ và lời nói lại cũng chính là ngôn ngữ đang ở dạng hoạt động. Như vậy, đơn vị văn bản do các câu cấu tạo nên cũng phải được coi là một đơn vị hai mặt: có một cấu trúc được tổ chức theo những quy tắc nhất định được xă hội chấp nhận (nghĩa là có một cấu trúc ngữ pháp) và mang một nội dung thông báo tương đối trọn vẹn. Mặt khác, xuất phát từ quan niệm ngôn ngữ là công cụ giao tiếp quan trọng nhất của con người, đơn vị văn bản c̣n là đơn vị trực tiếp làm được chức năng giao tiếp, trong khi các đơn vị khác như h́nh vị, từ, ngữ, tiểu cú chỉ là những đơn vị dùng để cấu tạo nên đơn vị giao tiếp, gián tiếp làm chức năng giao tiếp. Nói một cách chung nhất, đơn vị văn bản phải là một đơn vị ngôn ngữ xét cả về ba mặt: ngữ nghĩa - ngữ pháp - thông báo. Vấn đề hai, nghĩa của các từ: tế bào, cơ sở, cơ bản, chủ yếu và điển h́nh. Tế bào là đơn vị cơ sở cấu tạo nên cơ thể sinh vật. Như thế đơn vị tế bào của văn bản là lối nói ẩn dụ, có ư nói đến đơn vị cơ sở tạo nên văn bản. Cơ sở là một từ nhiều nghĩa trong đó có nghĩa ở cấp dưới cùng, nơi trực tiếp thực hiện các hoạt động của một lĩnh vực hoạt động nhất định (Chi đoàn là tổ chức cơ sở của Đoàn. Phường, xă là tổ chức cơ sở của bộ máy chính quyền của nước ta). Cho nên, nói đơn vị tế bào hay cơ sở cũng là nói đến đơn vị nhỏ nhất, ở cấp dưới cùng và được coi là đơn vị làm nền tảng để cấu tạo nên các đơn vị ở cấp độ cao hơn. Cơ bản là có tác dụng làm cơ sở cho những cái khác trong toàn bộ hệ thống. Mét là đơn vị đo lường cơ bản nghĩa là mét có tác dụng làm cơ sở cho các đơn vị khác trong hệ thống đơn vị đo lường. Hiện nay, thuật ngữ đơn vị cơ bản của ngôn ngữ được hiểu không giống nhau. Có thể t́m thấy trong nhiều sách ngôn ngữ học các quan niệm như: h́nh vị là đơn vị hai mặt - ngữ âm và ngữ nghĩa - cơ bản của ngôn ngữ, là đơn vị có nghĩa nhỏ nhất dùng để cấu tạo từ hoặc từ là đơn vị ngôn ngữ cơ bản và quan trọng nhất hoặc như M. A. Halliday quan niệm: Đơn vị cơ bản của ngôn ngữ trong sự vận hành của nó không phải là từ hay câu mà chính là văn bản (1) . Chủ yếu là quan trọng nhất, phân biệt với thứ yếu (điểm/ưu điểm chủ yếu), cũng có nghĩa khác là chiếm số đông, đa số (Lớp này chủ yếu là nữ). Mét là đơn vị đo lường cơ bản th́ hectomét là đơn vị chủ yếu để đo ruộng đất, kilomét là đơn vị chủ yếu để đo quốc lộ và mét là đơn vị chủ yếu để đo chiều dài vải vóc, c̣n centimét, milimét lại là đơn vị chủ yếu dùng để đo các chi tiết trên các bản vẽ kĩ thuật. Từ đó có thể suy ra đơn vị văn bản chủ yếu sẽ chỉ là chủ yếu trong một lĩnh vực, một phạm vi nhất định nào đó. Điển h́nh là một thuật ngữ lí luận văn học. Ngoài ra, nó c̣n được dùng với nghĩa biểu hiện tập trung và rơ nhất bản chất của một nhóm đối tượng hoặc hiện tượng. Liệu đơn vị nào sẽ là đơn vị văn bản điển h́nh? Câu, CTC hay đoạn văn hay mục, tiết ?... Phải chăng tập, quyển là đơn vị văn bản điển h́nh của văn bản đồ sộ; chương, hồi là đơn vị văn bản điển h́nh của tiểu thuyết chương hồi; t́nh tiết là đơn vị văn bản điển h́nh của văn bản truyện; tiết, bài là đơn vị văn bản điển h́nh của văn bản giáo khoa và tiểu đoạn, CTC là các đơn vị văn bản điển h́nh của các văn bản ngắn, dạng bài; khổ thơ là đơn vị văn bản điển h́nh của các bài thơ ? Có thể thấy, không nên đồng nhất đơn vị cơ sở với đơn vị cơ bản, đơn vị chủ yếu hoặc đơn vị điển h́nh. Đơn vị văn bản cơ sở hay tế bào cần được hiểu là đơn vị nhỏ nhất có thể làm thành tố để cấu tạo nên những đơn vị văn bản thuộc cấp độ cao hơn. Những đơn vị thuộc cấp độ cao này thường là những kết cấu văn bản gồm nhiều đơn vị cơ sở. Cố nhiên, trong quan hệ tôn ti, đơn vị ngôn ngữ thuộc cấp độ thấp hơn là thành tố để cấu tạo nên đơn vị thuộc cấp độ cao hơn và đơn vị thuộc cấp độ cao hơn bao giờ cũng gồm ít nhất một đơn vị thuộc cấp độ thấp hơn. Nghĩa là có văn bản một tập, có tập một chương, có chương một tiết, có tiết một mục, có mục một đoạn văn, có đoạn văn một tiểu khúc, có tiểu khúc một phát ngôn... Cái quyết định tên gọi cho một đơn vị văn bản chính là chức năng mà nó đảm nhận trong văn bản. Cấu tạo nội bộ của đơn vị văn bản, tuy có ư nghĩa nhất định nhưng không có vai tṛ quyết định. Bốn ḍng lục bát có thể chỉ là một câu ngữ pháp, có thể là một tiểu khúc, có thể là một đoạn văn gồm hai tiểu khúc, cũng có thể là một bài thơ hoặc ca dao nghĩa là một văn bản hoàn chỉnh. Thậm chí, chỉ một câu lục bát, một câu tục ngữ hay khẩu hiệu cũng có thể được coi là một văn bản với lí do một ḿnh nó, chỉ một ḿnh nó, đă làm xong chức năng giao tiếp.
b. Ngữ pháp văn bản là một bộ phận của hệ thống ngôn ngữ.
Tính hệ thống của ngôn ngữ đ̣i hỏi văn bản và các đơn vị văn bản phải được xem xét trong toàn bộ hệ thống các đơn vị ngôn ngữ. Việc xem xét các đơn vị văn bản tách rời hệ thống các đơn vị ngôn ngữ sẽ có thể dẫn tới những sai sót không nên có. Đây là quan điểm có tính chất phương pháp luận xem xét. Nó cần được quán triệt trong suốt quá tŕnh t́m hiểu và xác định các đơn vị văn bản cả về mặt bản chất cũng như về mặt tên gọi. Trước đây, trong việc phân định từ loại tiếng Việt, sách giáo khoa phổ thông đă có thời nêu lên 9 phạm trù. Đó là: danh từ, động từ, tính từ, số từ, đại từ và từ phụ, từ nối, từ đệm, từ cảm. Cách gọi tên này đă không quán triệt tính hệ thống của ngôn ngữ về mặt gọi tên các phạm trù từ loại (lúc th́ dùng từ Hán Việt, lúc th́ dùng cụm từ thuần Việt) và đă được sửa chữa. Một điểm nữa, trong ngôn ngữ học, thuật ngữ ngôn ngữ có khi được hiểu là tiếng nói của một tộc người gồm hai mặt: mặt trừu tượng là các quy ước có tính xă hội, tồn tại ở thế tiềm năng trong trí óc của cộng đồng tộc người ấy (tạm gọi tắt là ngữ); và mặt cụ thể là các ngôn phẩm do các cá nhân nói tiếng nói ấy tạo ra (tạm gọi tắt là ngôn). Saussure đă gọi hai mặt đó là ngôn ngữ và lời nói. Như thế, từ ngôn ngữ theo Saussure, chỉ là mặt trừu tượng (phần ngữ) trong tiếng nói của một tộc người, không bao gồm mặt cụ thể là lời nói (phần ngôn). Saussure đă nói đến ngôn ngữ học của lời nói như một bộ phận thứ yếu và ngôn ngữ học đích thực mà đối tượng duy nhất và chân chính là ngôn ngữ (phần ngữ) xét trong bản thân nó và v́ bản thân nó. Với hai nghĩa khác nhau ấy, cụm từ đơn vị ngôn ngữ cũng sẽ có hai cách hiểu khác nhau dẫn đến ít nhất là hai quan niệm khác nhau về hệ thống đơn vị ngôn ngữ. Đây cũng là chuyện có ư nghĩa phương pháp luận. Nếu không nhận thức rơ điều này sẽ dễ bị sa vào những tranh căi không hữu ích, bởi v́, vấn đề cơ bản nhiều khi nằm ở việc không thống nhất tên gọi chứ không phải ở nội dung quan niệm về các đơn vị ngữ pháp văn bản. Có thể thấy: Nếu hiểu từ ngôn ngữ với nghĩa là ngữ, là phần trừu tượng tồn tại ở thế tiềm năng trong trí óc của cộng đồng người sử dụng ngôn ngữ ấy, th́ hệ thống đơn vị ngôn ngữ chỉ gồm: h́nh vị và từ. Từ sẽ là đơn vị ngôn ngữ lớn nhất. Trong hệ thống ngôn ngữ, không c̣n đơn vị nào cũng có h́nh thức ngữ âm và ư nghĩa cụ thể mà lại lớn hơn từ. Đối với những đơn vị như mắt lá răm, một nắng hai sương, chúng là những tập hợp từ có tính sẵn có, cố định, bắt buộc và nhỏ nhất để tạo câu(1), là các cụm từ cố định hoặc thành ngữ và được coi là các đơn vị tương đương với từ. Theo quy tắc ngữ pháp nhất định, các từ kết hợp lại tạo thành cụm từ, câu, nghĩa là các kết cấu ngữ pháp làm được chức năng thông báo thuộc lời nói; trong đó câu là kết cấu ngữ pháp lớn nhất. Rồi các câu lại kết hợp với nhau theo những quy tắc nhất định để tạo nên các kết cấu lớn hơn câu và văn bản. Văn bản thuộc lời nói và là kết cấu ngôn ngữ lớn nhất. Nếu hiểu từ ngôn ngữ là tiếng nói của một tộc người gồm cả hai mặt trừu tượng và cụ thể, gồm cả ngôn và ngữ, th́ hệ thống đơn vị ngôn ngữ sẽ gồm toàn bộ các đơn vị và các kết cấu ngôn ngữ nói trên. Chúng sẽ được gọi là các đơn vị ngôn ngữ thuộc các cấp độ khác nhau. Hệ thống đơn vị ngôn ngữ sẽ gồm: H́nh vị - Từ - Cụm từ - Câu - Các đơn vị trên câu - Văn bản; hoặc là: Tiếng - Từ - Ngữ đoạn (Ngữ và Cú) - Câu - Các đơn vị trên câu - Văn bản; Trong hệ thống này: Các đơn vị từ pháp gồm: h́nh vị + từ (hoặc tiếng + từ) Các đơn vị cú pháp gồm: cụm từ + câu (hoặc ngữ đoạn + câu ) Các đơn vị văn pháp gồm: các đơn vị trên câu + văn bản. Nhưng theo quan hệ tôn ti, đơn vị ngôn ngữ ở bậc trên do các đơn vị ở bậc dưới cấu tạo nên và có thể chỉ gồm ít nhất một đơn vị ở bậc dưới, cho nên cũng có thể nói: Các đơn vị cú pháp gồm: từ + cụm từ + câu (hoặc từ + ngữ đoạn + câu) Các đơn vị văn pháp gồm: câu + các đơn vị trên câu + văn bản. Có thể h́nh dung hệ thống các đơn vị ngôn ngữ trong sơ đồ sau: Một cách kĩ lưỡng có thể nói: Các đơn vị từ pháp gồm: h́nh vị, từ vị; Các đơn vị cú pháp gồm: từ h́nh (hay từ trong câu), cụm từ, câu; Các đơn vị văn bản gồm: câu trong văn bản hay phát ngôn, các thể thống nhất trên câu và văn bản. Câu - đơn vị cú pháp - là cú vị, câu tiêu mẫu, câu điển dạng (phrase-étalon), có h́nh thức độc lập hoàn chỉnh thuộc phạm trù siêu ngôn (metalanguage), thuộc ngôn ngữ "bậc hai" được dùng trong việc miêu tả ngôn ngữ đối tượng được nghiên cứu. Câu trong văn bản hay phát ngôn - đơn vị ngữ pháp văn bản - là câu trong ngôn ngữ tự nhiên, có thể bị biến đổi dạng thức do sự chi phối của của ngữ cảnh và văn cảnh. Về tên gọi, hệ thống đơn vị văn bản đă được quan niệm như sau: - ... - Chỉnh thể trên câu - Văn bản (đoạn văn không phải đơn vị ngữ pháp văn bản nhưng là đơn vị cấu trúc - phong cách) (Nguyễn Trọng Báu, Nguyễn Quang Ninh, Trần Ngọc Thêm; Đỗ Hữu Châu, Bùi Minh Toán; Diệp Quang Ban, Hoàng Văn Thung); hoặc là: - ... - Lời (phát ngôn) - Đoạn văn - Văn bản (Lưu Vân Lăng); hoặc là: - ... - Câu - Cụm câu - Đoạn văn [rộng hơn đoạn văn c̣n có thể là mục, chương, phần, khoản, tiết...] - Văn bản (Nguyễn Đức Dân); hoặc là: - ... - Câu (phát ngôn) - Đoạn văn (gồm tiểu khúc, tiểu đoạn, tiểu mục, mục, đại mục, tiết, chương, phần) - Văn bản (Hồ Lê); Để có tính hệ thống, nếu ở cấp độ cú pháp có đơn vị cụm từ th́ ở cấp độ văn pháp, có đơn vị cụm câu là cách gọi tên hợp lí. Nhưng có quan niệm cho rằng: ở cấp độ dưới, đă không có đơn vị cụm âm vị, cụm h́nh vị th́ cũng không thể chấp nhận cái gọi là cụm từ ở cấp độ cú pháp; cái lâu nay được gọi là cụm từ là một sự lẫn lộn v́ thực chất đó chỉ là một ngữ đoạn bất ḱ làm được chức năng thành phần câu. Vậy th́, phải chăng có thể dùng các tên gọi khác như lời, hay chỉnh thể trên câu, hay đoạn văn ... như đă được nhiều tác giả đề xuất? Hay là cứ dùng đơn vị cụm câu v́ tên gọi cụm từ trong cú pháp học đă quá quen thuộc với mọi người? Có lẽ trước mắt:
1. Nên tạm dùng tên gọi cụm câu v́ các tên gọi chỉnh thể cú pháp phức hợp, thể thống nhất trên câu hay chỉnh thể trên câu có phần dài ḍng và gợi ra một ngoại diên quá rộng; c̣n từ lời trong đời thường th́ nghĩa lại có áp lực quá mạnh, khiến cho nghĩa thuật ngữ mà ta gán cho nó, rất dễ bị hiểu sai lạc đi.
2. Có thể dùng tên gọi đoạn văn thay cho cái mà Hồ Lê gọi là tiểu đoạn v́ các đoạn văn khác như phần, chương, tiết, mục, tiểu mục theo cách quan niệm của ông, đă sẵn có tên gọi riêng; việc coi chúng là các tiểu loại của đoạn văn, do đó, sẽ là điều không thật cần thiết. Vả lại, quả thật như Trần Ngọc Thêm đă nhận xét, tên gọi đoạn văn rất quen thuộc với linh cảm của người Việt Nam chúng ta.
3. Vấn đề ở đây là cần phân biệt thật rơ khái niệm đoạn văn mang nghĩa một đơn vị ngữ pháp văn bản với từ đoạn văn mang nghĩa một khúc đoạn xuống ḍng bất ḱ mà Trần Ngọc Thêm gọi là tự đoạn, Nguyễn Minh Thuyết gọi là khổ viết và một số tác giả khác đă luôn lưu ư rằng: đó không phải là đơn vị ngữ pháp văn bản mà chỉ là đơn vị của ngành in hoặc đơn vị cấu trúc - phong cách. Ở trên là hai vấn đề lí thuyết, cần xem xét thêm thực tế văn bản.
c. Thử xét một thực tế văn bản
Chúng ta đều biết trích đoạn 24 ḍng giới thiệu chị em Thúy Kiều trong Truyện Kiều. Trong đoạn này, bốn ḍng đầu giới thiệu khái quát về hai chị em Kiều, Vân; bốn ḍng tiếp nối nói cụ thể về vẻ đẹp của Thúy Vân; mười hai ḍng sau đó nói về tài sắc của Thúy Kiều và bốn ḍng cuối cùng quay trở lại nói chung về cả hai chị em Kiều, Vân. Như vậy đoạn trích này có dáng vẻ như một văn bản nhỏ trong văn bản lớn là cả Truyện Kiều. Xét cả về mặt nội dung và h́nh thức, nó là thành tố thể hiện một chủ đề bộ phận tạo nên thiên truyện của cụ Nguyễn Tiên Điền và phải được coi là một đoạn văn với tư cách là một đơn vị ngữ pháp văn bản. Trong đoạn văn này có bốn nhóm ḍng lục bát, mỗi nhóm gồm nhiều câu thành tố cùng nhau thể hiện một chủ đề chung và gắn bó chặt chẽ với nhau nhờ các phương tiện liên kết h́nh thức, chúng có thể được coi là bốn nhóm câu hay bốn cụm câu thể hiện một chủ đề đơn, mang tư cách đơn vị ngữ pháp văn bản ở bậc dưới đơn vị đoạn văn. Lại có thể thấy thêm rằng trong cụm câu 12 ḍng nói về tài sắc của Thúy Kiều có chứa nhiều cụm câu thành tố: - cụm một câu hai ḍng đầu tiên giới thiệu chung về tài, sắc của Kiều, - cụm một câu hai ḍng thứ hai nói cụ thể về sắc của Kiều, - và cụm bốn câu tám ḍng c̣n lại nói cụ thể về các tài của Kiều. SỐ
CỤM CÂU VỀ TÀI SĂC KIỀU
NỘI DUNG

CỤM CÂU 1
Kiều càng sắc sảo mặn mà, So bề tài sắc lại là phần hơn. Chuyển ư và nói khái quát về tài, sắc của Kiều
CỤM CÂU 2
Làn thu thủy, nét xuân sơn, Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh. Mô tả cụ thể sắc đẹp của Kiều




CỤM CÂU 3
Một hai nghiêng nước nghiêng thành, Sắc đành đ̣i một, tài đành họa hai. Chuyển ư và nói khái quát về tài của Kiều
Thông minh vốn sẵn tính trời, Pha nghề thi họa đủ mùi ca ngâm. Tài thi, họa, ca, ngâm của Kiều
Cung thương lầu bậc ngũ âm, Nghề riêng ăn đứt hồ cầm một trương. Tài đàn của Kiều
Khúc nhà tay lựa nên xoang Một thiên bạc mệnh lại càng năo nhân. Tài soạn nhạc riêng cho ḿnh của Kiều
T́nh h́nh trên dẫn ta tới một nhận xét là: có thể có sự giống nhau nào đó về cấu tạo bên trong của cụm từ và cụm câu.
- Về mặt cấu tạo, cụm từ có thể gồm một hoặc nhiều từ th́ cụm câu cũng có thể gồm một hoặc nhiều câu. Có cụm từ đẳng lập, cụm từ chính phụ th́ cũng có cụm các câu có quan hệ đẳng lập và cụm các câu có quan hệ chính phụ. Trong cụm từ có thể có chính tố và phụ tố; phụ tố sau của chính tố có thể là một từ hay một cụm từ khác, nghĩa là trong cụm từ có những cụm từ thành tố th́ bên trong cụm câu cũng có những cụm câu thành tố.
- Về mặt chức năng đối với đơn vị ở bậc trên, cũng có thể thấy cụm từ và cụm câu có những nét tương đồng. Một cụm từ trực tiếp tham gia vào việc tạo lập văn bản th́ nó có thể được coi là có tư cách câu hay phát ngôn (đă được gọi với tên ngữ trực thuộc hoặc câu dưới bậc); một cụm câu trực tiếp tham gia vào việc tạo lập văn bản cũng có thể được coi là có tư cách một đoạn văn có vai tṛ ngang với đoạn văn khác.
Như vậy là có sự chuyển hóa giữa cụm câu và đoạn văn tùy thuộc vào chức năng của nó trong đơn vị thuộc bậc trên nó. Đoạn trích Truyện Kiều ở trên đă được phân tích là một đoạn văn gồm nhiều cụm câu. Nhưng nếu ta gán cho đoạn trích ấy một tựa đề, chẳng hạn, Tài sắc chị em Thúy Kiều và gọi nó là một bài văn như sách giáo khoa đă làm th́ các cụm câu thành tố (1. Giới thiệu chung về Vân, Kiều, 2. Giới thiệu cụ thể về Vân, 3. Giới thiệu cụ thể về Kiều và 4. Nói khái quát về Vân, Kiều) sẽ phải được coi là bốn đoạn văn trong bài văn ấy. Người ta cũng nói: đó là bài văn gồm ba phần: mở, thân và kết bài, trong đó, phần thân gồm hai đoạn văn, một đoạn văn nói về Vân và một đoạn văn nói về Kiều. Thực tế trên đă thực sự gây lúng túng cho các nhà nghiên cứu, dẫn đến t́nh trạng khi th́ coi đoạn văn chính là CTC, sự khác nhau chẳng qua chỉ là về tên gọi; khi th́ chỉ thừa nhận đoạn văn, phủ nhận CTC hoặc ngược lại chỉ thừa nhận CTC và phủ nhận đoạn văn; khi th́ đề nghị thừa nhận cả hai đơn vị đoạn văn và CTC (nhưng gọi với tên khác: cụm câu, tiểu khúc, lời ...) v. v... Dù chưa đủ sức vượt qua những lúng túng kể trên, nhưng trong bài giảng này, việc nêu ra một quan niệm về hệ thống đơn vị văn bản có tính chất đề xuất là điều không thể né tránh.
2.2 Hệ thống đơn vị và kết cấu văn bản
Hệ thống đơn vị văn bản có thể quan niệm gồm: Câu (phát ngôn) - cụm câu - đoạn văn - mục - tiết - chương - phần - văn bản a. Câu trong văn bản hay phát ngôn - đơn vị ngữ pháp văn bản cơ sở - Phát ngôn là ǵ? Phát ngôn là đơn vị văn bản nhỏ nhất, là thành tố nhỏ nhất của văn bản có một cấu trúc và một nội dung nhất định. Nội dung này có thể đầy đủ hoặc không đầy đủ (xem các dẫn văn ở các trang 7 và 8). Đơn vị này có ranh giới xác định, nó bắt đầu bằng chữ cái hoa và kết thúc bằng dấu ngắt câu. Đó là dấu chấm câu ( . ), dấu chấm hỏi ( ? ), dấu chấm cảm ( ! ) và đôi khi, dấu hai chấm ( : ) hoặc dấu ba chấm ( ... ) hết câu. Phát ngôn cũng được gọi là câu trong văn bản hoặc chỉ đơn giản là câu, theo thói quen. Đó là đơn vị văn bản cơ sở dùng để cấu tạo nên các đơn vị văn bản thuộc các cấp độ cao hơn tức là các kết cấu văn bản như cụm câu, đoạn văn, mục, tiết... Khi phân chia văn bản ra thành các thành tố làm được chức năng thông báo nhỏ măi th́ văn bản sẽ được chia hết thành các phát ngôn không có phần dư. Thí dụ chuỗi năm phát ngôn hay năm câu với các dấu ngắt phát ngôn khác nhau sau đây: (1) Một giáo sư ngôn ngữ học đă nói đại ư như sau: (2) Nghĩa hoûc là ngành khoa học nghiên cứu về nghĩa. (3) Thế nhưng nghĩa là gi? (4) Câu hỏi này hiện nay và nhiều năm về sau khó có được lời giải đáp nhất trí... (5) Là một sinh viên năm thứ nhất, làm sao mà tôi dám đưa ra một quan niệm riêng về nghĩa đây! - Mấy nhận xét - Quan niệm này không tương thích với quan niệm coi văn bản là tác phẩm có... một loạt đơn vị riêng (những thể thống nhất trên câu) của Galperin và nhiều nhà nghiên cứu ngữ pháp văn bản khác. - Quan niệm này, nh́n qua, có vẻ không tương thích với lí thuyết về đối tượng nghiên cứu của ngữ pháp văn bản (nghiên cứu những vấn đề ở trên câu, ở ngoài câu). Nhưng thực tế vẫn có sự tương thích. Bởi v́ phát ngôn hay câu trong văn bản luôn được xem xét chủ yếu không phải về mặt cấu trúc nội bộ của chúng như ngữ pháp truyền thống mà được xem xét chủ yếu về mặt quan hệ của chúng với các phát ngôn khác trong văn bản tức là với cái bên ngoài chúng. - Quan niệm này có những cơ sở thực tế không thể chối căi và rất phù hợp với cảm nhận trực tiếp của người đọc. Người ta vẫn thường nói bài thơ tám câu, bài Mơ mù u gồm tám câu, bài Hai con dê gồm năm câu... - Quan niệm này là của Trần Ngọc Thêm trong cuốn Hệ thống liên kết văn bản tiếng Việt (sđd), của Hồ Lê trong Quy luật ngôn ngữ, Quyển 2 (1) và của nhiều sách giáo khoa, giáo tŕnh môn Tiếng Việt. Quan niệm này cũng gần gũi với học sinh phổ thông từ cấp I đến cấp III. b. Cụm câu, kết cấu văn bản nhỏ nhất, đơn vị ngữ pháp văn bản chủ yếu - Cụm câu là ǵ? Cụm câu là đơn vị ngôn ngữ ở bậc trên phát ngôn và là tập hợp phát ngôn gắn bó chặt chẽ về nội dung và h́nh thức nhờ các phương tiện liên kết liên câu và thể hiện một chủ đề đơn nghĩa là một chủ đề nhỏ nhất thường không có khả năng chia thành các chủ đề nhỏ hơn. Chủ đề đơn này sẽ bao quát ư tưởng của các phát ngôn thành tố. Trích đoạn giới thiệu gia đ́nh Vương Ông có ba đoạn nhỏ: đoạn nhỏ nói về gia tư Vương Ông là một cụm câu có một phát ngôn, đoạn nhỏ nói về Vương Quan là một cụm câu cũng có một phát ngôn và đoạn nhỏ nói về hai người con gái Vân, Kiều là bốn cụm câu mỗi cụm câu gồm nhiều câu như đă phân tích. Như thế:
- Về mặt cấp độ: Cụm câu là thành tố của văn bản, là đơn vị văn bản ở bậc trên trực tiếp của phát ngôn.
- Về mặt nội dung thông báo: Cụm câu thể hiện một chủ đề đơn hay đơn chủ đề. Mỗi văn bản thường thể hiện một chủ đề chung. Chủ đề chung ấy có thể được chia thành nhiều chủ đề bộ phận; nếu chia nhỏ măi sẽ có các chủ đề bộ phận nhỏ nhất và chủ đề bộ phận nhỏ nhất sẽ là chủ đề của cụm câu. Như thế cụm câu sẽ là đơn vị giao tiếp trọn vẹn. Ranh giới giữa các cụm câu sẽ là chỗ chuyển tiếp từ chủ đề đơn này sang chủ đề đơn khác. Khi chia cụm câu thành các bộ phận nhỏ nhất, ta sẽ có chủ đề hay đúng hơn là ư tưởng của từng phát ngôn.
- Về mặt kết cấu: Cụm câu gồm một số câu gắn bó với nhau bởi sự liên kết nhất định, có một kết cấu nội bộ nhất định. Kết cấu này phản ánh hướng phát triển của chủ đề đơn. Nếu chủ đề đơn không được thể hiện tập trung ở một câu nào trong cụm câu, cụm câu sẽ có kết cấu song song. Nếu chủ đề đơn được thể hiện tập trung ở một câu trong cụm câu, câu ấy sẽ là câu chủ đề (hay câu chốt) của cụm câu và cụm câu sẽ có kết cấu chính phụ và có thể thuộc một trong ba dạng. Kết cấu diễn dịch: câu chủ đề ở đầu cụm câu, các câu tiếp sau cụ thể hóa câu chủ đề. Kết cấu quy nạp: câu chủ đề ở cuối cụm câu, các câu trước nó diễn đạt các nội dung cụ thể, làm cơ sở tiền đề cho sự quy nạp. Kết cấu hỗn hợp: câu chủ đề ở giữa, các câu trước và sau nó chứa các ư cụ thể của chủ đề cụm câu.
- Về mặt h́nh thức: Cụm câu có liên kết nội tại chặt: chúng có thể có liên kết móc xích hoặc liên kết song song nhờ các phương tiện liên kết văn bản. Nó có thể được phân cách với các cụm câu khác nhờ dấu chấm qua hàng hoặc không qua hàng mà đơn giản chỉ là sự chuyển đổi chủ đề.
- Các tên gọi khác của đơn vị cụm câu Tên gọi cụm câu do Nguyễn Đức Dân dùng lần đầ́u trong Tiếng Việt (thực hành), (Tủ sách đại học tổng hợp TP HCM, 1995). Tên gọi này đảm bảo tính hệ thống về mặt gọi tên các đơn vị ngôn ngữ từ thấp đến cao (có cụm từ ở cấp độ cú pháp th́ có cụm câu ở cấp độ văn bản), nó cũng gợi ra một quy mô tương đối xác định (một cụm vài ba câu). Đơn vị này c̣n được gọi bằng tên khác như chỉnh thể trên câu (CTC - Nguyễn Trọng Báu, Nguyễn Quang Ninh, Trần Ngọc Thêm), Lời (hay phát ngôn) (Lưu Vân Lăng) hoặc những tên dịch từ tiếng nước ngoài như thể thống nhất trên câu, chỉnh thể cú pháp phức hợp, khổ văn xuôi... Những tên gọi trên so với tên gọi cụm câu hoặc gợi ra một quy mô không cụ thể (mục, tiết, bài, chương, hồi, tập, cho đến văn bản cũng là các thể thống nhất trên câu cả) hoặc có những nhược điểm như đă phân tích.
c. Đoạn văn, kết cấu văn bản quan trọng, đơn vị ngữ pháp văn bản điển h́nh
- Đoạn văn là ǵ? Đoạn văn là một kết cấu văn bản, là một tập hợp các cụm câu liên kết chặt chẽ với nhau về hai mặt nội dung và h́nh thức nhờ các phương tiện liên kết nhằm thể hiện một chủ đề bộ phận trong chủ đề chung của văn bản hoặc của kết cấu văn bản thuộc cấp độ cao hơn đoạn văn. Nó là đơn vị văn bản điển h́nh. Nó có dáng vẻ như một văn bản nhỏ và có thể kết hợp với các văn bản nhỏ - đoạn văn khác để tạo nên văn bản. Việc nghiên cứu nó có tác dụng rất tích cực cho việc dạy làm văn. Từ quan niệm trên, có thể thấy:
- Về mặt cấp độ, đoạn văn là đơn vị ngữ pháp văn bản ở cấp độ cao hơn cụm câu, không phải là một khổ viết (một đoạn xuống ḍng) hay một trích đoạn ngẫu nhiên bất ḱ.
- Về mặt nội dung, ngoài mối liên kết với toàn văn bản, các cụm câu trong đoạn văn liên kết chặt chẽ với nhau và làm thành một chỉnh thể thông báo, làm nên chủ đề của đoạn văn (gọi tắt là chủ đoạn). Chủ đoạn là một chủ đề bộ phận của kết cấu văn bản cao hơn đoạn văn (mục, tiết...) hoặc của văn bản thông thường.
- Về mặt kết cấu, là thành phần cấu tạo nên văn bản, đoạn văn là đơn vị có cấu trúc nội bộ và chịu sự chi phối của văn bản hoặc của kết cấu văn bản ở cấp độ cao hơn đoạn văn. Đoạn văn thường gồm nhiều cụm câu nhưng theo quan hệ tôn ti, ít nhất có thể chỉ gồm một cụm câu. Dựa vào sự có hay không có mặt của cụm câu thể hiện tập trung chủ đề của đoạn văn và vị trí của nó trong đoạn văn mà có các đoạn văn song hành, đoạn văn diễn dịch, quy nạp hay hỗn hợp.
- Về mặt h́nh thức, các cụm câu trong đoạn văn thường liên kết chặt chẽ với nhau nhờ các phương tiện liên kết h́nh thức. Dấu hiệu h́nh thức để ngăn cách các đoạn văn thường là dấu chấm qua hàng. Nhưng cũng tương tự như với cụm câu, đó không phải là dấu hiệu h́nh thức tiên quyết. Với văn bản khoa học, đoạn văn chuẩn mực thường bắt đầu bằng chỗ thụt đầu ḍng và kết thúc bằng một dấu chấm qua hàng. Với văn bản thuộc các thể loại khác, việc xuống ḍng nhiều khi không phải v́ mục đích phân cách hai đoạn văn. Ta nói, sự xuống ḍng và viết hoa, ngoài lí do quy tắc ngữ pháp, c̣n có lí do phong cách cá nhân và đặc điểm thể loại. Việc xuống ḍng trong thơ và trong bài báo sau đây là những thí dụ. Những việc cần làm ngay Đồng chí Nguyễn Văn Linh từ trần. Ông bạn của Bút Bi nghe tin vậy, bỗng buột miệng nói: Đồng chí Nguyễn Văn Linh và những việc cần làm ngay! Ông bạn nhắc lại một dạo thiên hạ luôn nói với nhau về Những việc cần làm ngay - một chuyên mục nóng bỏng trên báo Nhân Dân, kư tên NVL. Những việc cần làm ngay chĩa mũi dùi vào tệ quan liêu bao cấp, tŕ trệ, tham nhũng, tiêu cực... Những việc cần làm ngay lên dây cót hành động để đổi thay, thay v́ chấp nhận những cái không thể chấp nhận được nữa. Những việc cần làm ngay được lan rộng và hưởng ứng. Đó là chuyện một dạo trước. - Tại sao ông nhớ về điều đó nhất bây giờ? - Bởi v́, hiện nay có quá nhiều việc cần làm ngay! Ông có thấy quá nhiều việc cần làm ngay nhưng chưa được làm ngay không? Phải làm ngay, thay v́ nói hoài, ông Bi ạ. (Bút Bi, Tuổi Trẻ thứ ba 28/4/1998) - Chú ư khi dùng, khi đọc thuật ngữ đoạn văn trên sách báo Cụm từ đoạn văn hiện nay được dùng với nhiều nghĩa khác nhau. Có thể thấy các nghĩa chính sau đây: - Nghĩa 1: Đoạn văn không phải đơn vị văn bản: a. Đoạn văn là một trích đoạn bất ḱ, thường được gọi tắt là đoạn với các quy mô rất khác nhau. b. Đoạn văn là một đơn vị cấu trúc - phong cách. Đó chỉ là một khúc đoạn được nhận diện nhờ việc viết thụt đầu ḍng ở chỗ mở đầu và việc xuống ḍng ở chỗ kết thúc. Nó c̣n được gọi là tự đoạn (Trần Ngọc Thêm) hoặc khổ viết (Nguyễn Minh Thuyết). Theo nghĩa này, chỉ CTC mới là đơn vị ngữ pháp văn bản, nó có thể có quy mô trùng, nhỏ hơn hoặc lớn hơn đoạn văn-khổ viết: CTC = ĐV, CTC < ĐV, CTC > ĐV. - Nghĩa 2:
a. Đoạn văn là đơn vị văn bản thuộc cấp độ trên phát ngôn, dưới mục. Giữa phát ngôn và đoạn văn không có đơn vị nào cả. Theo nghĩa này, đoạn văn và CTC chỉ là những tên gọi khác nhau của cùng một đơn vị văn bản.
b. Đoạn văn và cụm câu (hay lời) đều có đặc điểm ngữ nghĩa - ngữ pháp - thông báo. Đoạn văn là đơn vị thuộc bậc trên của cụm câu do cụm câu tạo nên và tối thiểu phải gồm một cụm câu. Chỗ khác nhau cơ bản giữa chúng là về́ mặt chức năng: đoạn văn thể hiện một chủ đề bộ phận của văn bản hoặc đơn vị văn bản thuộc bậc trên nó, c̣n cụm câu thể hiện một chủ đề đơn, dưới nó là ư tưởng của từng phát ngôn.
c. Đoạn văn là đơn vị văn bản có những kích thước lớn nhỏ khác nhau, gồm: tiểu khúc, tiểu đoạn, tiểu mục, đại mục, tiết, chương, phần. Cần rất thận trọng khi đọc và dùng cụm từ đoạn văn. Điều cốt yếu là khi viết một tài liệu, một cuốn sách, cụm từ ấy phải được dùng với một nghĩa xác định từ trên xuống dưới, từ trước đến sau; nếu có trích dẫn sách của các tác giả khác, cũng cần có những giới thuyết thật cẩn thận.
d. Các kết cấu văn bản trên đoạn văn Hiện nay, có thể dùng một số từ ngữ có sẵn do các ngành khoa học khác t́m ra làm tên gọi cho các đơn vị ngữ pháp văn bản trên câu. Đó là mục, tiết, bài, chương, hồi, phần và đơn vị cao nhất là văn bản. Vấn đề là xác định một nội hàm xác định cho các tên gọi đó. · Mục là phần của văn bản tŕnh bày trọn vẹn một điểm, một khía cạnh hoặc một vấn đề do đoạn văn cấu tạo nên. Trong những văn bản có quy mô lớn, có thể có đại mục, mục, tiểu mục. Lúc này tiểu mục là đơn vị bậc trên trực tiếp của đoạn văn. · Tiết, bài là phần của văn bản tŕnh bày tương đối trọn vẹn một ư tưởng thường bao gồm nhiều mục. Tiết là đơn vị văn bản thường được dùng trong các văn bản nghiên cứu khoa học, c̣n bài thường được dùng trong các văn bản giáo khoa. Ở những văn bản giáo khoa phức tạp, tiết có sự phân biệt với bài. Bài thường do các tiết tạo nên, một bài thường gồm nhiều tiết và mỗi tiết thường được dạy trong thời lượng 45 - 50 phút. Ở những tác phẩm thuộc thể loại truyện, t́nh tiết có thể được coi là đơn vị tương đương với tiết, bài trong các văn bản nghiên cứu khoa học và văn bản giáo khoa. · Chương, hồi là phần của văn bản có nội dung trọn vẹn cao, thường do nhiều tiết, bài hoặc t́nh tiết cấu tạo nên. Chương là tên gọi thường được dùng trong các văn bản khoa học, giáo khoa và truyện hiện đại, c̣n hồi là đơn vị văn bản kịch và tiểu thuyết cổ của Trung Hoa. · Phần là bộ phận của văn bản, diễn đạt một nội dung trọn vẹn cao, thường do nhiều chương cấu tạo nên. Tất nhiên, theo quan hệ tôn ti, một phần vẫn có thể chỉ gồm một chương, chương này lại có thể chỉ gồm một vài đoạn văn. · Văn bản là kết cấu văn bản lớn nhất, là đơn vị cơ bản của ngôn ngữ trong sự vận hành của nó (Halliday). Trên văn bản không c̣n đơn vị ngôn ngữ nào khác nữa. Các nhà ngôn ngữ học và mọi người có thể từ đơn vị ngôn ngữ lớn nhất này để phân xuất ra các đơn vị ngôn ngữ thuộc các bậc thấp hơn cho đến đơn vị ngôn ngữ cuối cùng là h́nh vị và đơn vị ngữ âm nhỏ nhất là âm vị. Ta cũng đă biết danh từ tập, quyển. Đó là bộ phận của văn bản đồ sộ có tính trọn vẹn rất cao, thường gồm nhiều phần, nhiều chương được đóng thành cuốn riêng. Tính độc lập của tập, quyển cao đến mức người ta có thể cho in tập hai trước tập một đến cả mấy năm. Thậm chí có khi cho in tập một hoặc tập hai rồi không thấy cho in tập tiếp theo nữa.
2.3 Mối quan hệ giữa các đơn vị và kết cấu văn bản:
Tương tự mối quan hệ giữa các đơn vị cú pháp, giữa các đơn vị ngữ pháp văn bản cũng có quan hệ tôn ti và quan hệ ngữ đoạn.
a. Quan hệ tôn ti
Theo quan hệ tôn ti, đơn vị văn bản ở cấp độ dưới dùng để cấu tạo nên đơn vị văn bản ở cấp độ cao hơn và đơn vị ở cấp độ cao hơn là các kết cấu văn bản, bao giờ cũng gồm ít nhất một đơn vị văn bản ở cấp độ thấp hơn. Quan hệ ấy được tóm tắt như sau: Câu ( Cụm câu ( Đoạn văn ( Mục ( Tiết/Bài ( Chương ( Phần (Văn bản Truyện Hai con dê phải được hiểu là một văn bản chỉ gồm một phần, phần ấy chỉ gồm một chương, chương ấy chỉ gồm một tiết, tiết ấy chỉ chứa một đoạn văn và đoạn văn ấy chỉ gồm một cụm câu do năm câu tạo nên. Trong thực tế, để cho gọn, người ta vẫn nói tắt: truyện Hai con dê gồm năm câu. b. Quan hệ ngữ đoạn Để tạo lập văn bản, chỉ các đơn vị và kết cấu văn bản cùng cấp độ mới có thể kết hợp với nhau. Nghĩa là trong văn bản, câu kết hợp với câu, cụm câu kết hợp với cụm câu, đoạn văn kết hợp với đoạn văn, mục kết hợp với mục, tiết/bài kết hợp với tiết/bài, chương kết hợp với chương,