THÔNG BÁO

  THỜI GIAN GẦN ĐÂY MỘT SỐ BẠN LỢI DỤNG  WEBSITE NÀY ĐỂ ĐƯA RA NHỮNG PHÁT NGÔN KHÔNG TỐT. CHO NÊN CHÚNG TÔI TẠM THỜI ĐÓNG WEBSITE LẠI ĐỂ NÂNG CẤP NHẰM HẠN CHẾ MỘT SỐ HÀNH VI KHÔNG TỐT LÀM ẢNH HƯỞNG ĐẾN DIỄN ĐÀN .CÁC BẠN CÓ THẮC MẮC XIN LIÊN HỆ : phanthanhhung90@gmail.com
IV. LỖI LIÊN KẾT VĂN BẢN VÀ CÁCH SỬA CHỮA

Tính liên kết của văn bản nói chung và trong đoạn văn nói riêng thể hiện ở hai bình diện : liên kết nội dung và liên kết hình thức. Liên kết nội dung bao gồm hai nhân tố : liên kết chủ đề và liên kết lô-gích. Dựa trên cơ sở đó, có thể quy các hiện tượng vi phạm tính liên kết thành ba loại lỗi : lỗi liên kết chủ đề, lỗi liên kết lô-gích và lỗi liên kết hình thức.
1. Lỗi liên kết chủ đề.
Xem xét các đoạn văn sau đây :
(a) Ðọc tác phẩm Tắt đèn, chúng ta thấy : người nông dân Việt Nam dưới chế độ thực dân phong kiến đã bị áp bức, hành hạ hết sức tàn tệ. Gia đình chị Dậu không một ai là không bị hành hung. Anh Dậu đang ốm liệt giường liệt chiếu cũng bị trói bị đánh đập dã man. Cái Tí bé bỏng cũng bị roi đòn. Tên lí trưởng còn bắt dân nộp lễ vật khi đến xin con dấu vào đơn (BVHS).
(b) Bên cạnh chị Út, còn có biết bao người phụ nữ Việt Nam anh hùng khác. Ðó là chị Sứ, người con gái xứ Hòn bất khuất. Chị đã tô thêm vẻ đẹp của người phụ nữ Việt Nam với phẩm chất anh hùng, bất khuất trung hậu đảm đang. Ngày xưa, nhà thơ Xuân Diệu (?) đã từng mơ ước : Ví đây đổi phận làm trai được. Nhưng bây giờ chị Út không những thừa kế được sự bất khuất của người xưa mà còn được sự giúp đỡ của thời đại. Chị vượt hơn người xưa về mọi mặt. Chị không cần như Xuân Diệu mơ ước đổi phận làm trai mới nên sự nghiệp mà chị cứ làm đàn bà, người mẹ sáu con, nhưng sự nghiệp anh hùng của chị chẳng phải chàng trai nào cũng sánh kịp. (BVHS).
(c) Bác Lê là một nông dân nghèo, đói khổ và nhiều bất hạnh. Khi gia đình lâm vào cảnh đoúi rét, bác Lê một mình đi kiếm cách cứu nguy cho gia đình. Bằng cách bác đến vay tiền nhà ông phú hộ, nhưng bị từ chối. Hơn thế nữa, bác Lê còn bị cậu Phúc con ông phú hộ thả chó ra cắn. Thật là ác tâm, cũng là người với nhau nhưng sao lại đối xử như vậy ? phải chăng lương tâm của họ là gỗ đá. Lẽ ra cậu Phúc phải giúp đỡ người hoạn nạn, đói khổ mà trái lại còn thả chó ra cắn quả là ác tâm và đáng thương xót cho bác Lê đói khổ nhưng còn gặp điều không may (BVHS).
(d) Quang Dũng là nhà văn, nhà thơ... ở thời kỳ kháng chiến chống Pháp. Thơ ông chủ yếu ca ngợi, nêu cao tinh thần người chiến sĩ trong giai đoạn này. Quang Dũng là con gia đình nhà nho nghèo lớn lên ông theo đoàn lính Tây Tiến. Họ là những người bảo vệ biên giới lào, Việt. Sống trong rừng sâu núi thẩm, ăn mặc thiếu thốn nhưng họ vẫn kiên cường bất khuất. Khi chuyển đi nơi khác công tác quang dũng nhớ lại những hình ảnh của người lính Tây tiến nên đã sáng tác bài thơ nhớ Tây Tiếnsau này khi phát hành, ông bỏ bớt từ nhớcó thể cho là thừa... (BVHS).
(e) Phần lớn các nhân vật lãng mạng của Khái Hưng và Nhất Linh đều được phóng đại và lý tưởng hóa. Dũng là một khách tình si. Tuyết là một gái giang hồ, Quang Ngọc, Phạm Thái, Nhị Nương là một bọn thanh niên quý tộc suy tàn đã được thi vị hóa, lãng mạn hóa. Thậm chí bọn địa chủ tây học cũng được Khái Hưng và Hoàng Ðạo xây dựng thành những mẫu người lý tưởng (Hạc, Bảo trong Gia đình, Duy, Thơ trong Con đường sáng). Nguyễn Tuân cũng lý tưởng hóa, thi vị hóa những người giang hồ lãng tử sống cuộc đời sóng gió (Nguyễn, Vi Bạch) và đối lập họ với những kẻ chỉ biết chôn chân ở mảnh đất quê hương (Dung, Lâm Hồ).(P.C.Ð - TTVNHÐ, T.I).
Trong đoạn văn (a), câu thứ nhất nêu lên một nhận định mang tính chất khái quát, trong đó, đối tượng nhận định chính là người nông dân Việt Nam dưới chế độ thực dân phong kiến, nội dung nhận định là đã bị áp bức, hành hạ hết sức tàn tệ. Câu thứ hai liên hệ đến một đối tượng khác : Gia đình chị Dậu. Ðối tượng mới này có quan hệ chặt chẽ với đối tượng cũ, được nêu trong câu thứ nhất ; đó là mối quan hệ cái chung - cái riêng. Cũng theo chiều hướng ấy, câu thứ ba liên hệ đến Anh Dậu, câu thứ tư liên hệ đến Cái Tí bé bỏng. Ðó là các thành viên trong Gia đình chị Dậu. Như vậy, câu thứ nhất, thứ hai, thứ ba và thứ tư liên kết chặt chẽ với nhau về chủ đề (và lô-gích). Nhưng câu thứ năm lại đề cập đến Tên lí trưởng, một đối tượng không có quan hệ chặt chẽ với các đối tượng cũ, đã được nêu ra : người nông dân Việt Nam dưới chế độ thực dân phong kiến, Gia đình chị Dậu, Anh Dậu, Cái Tí bé bỏng.
Trong đoạn văn (b), câu thứ nhất vừa nhắc lại đối tượng đã được bàn luận trong phần văn bản trước : chị Uït Tịch, vừa giới thiệu một đối tượng mới, mang tính chất khái quát : biết bao người phụ nữ Việt Nam anh hùng khác. Trên cơ sở đối tượng mang tính chất khái quát chung này, câu thứ hai liên hệ đến một đối tượng cụ thể : chị Sứï. Câu thức ba tiếp tục bàn về chị. Câu thứ tư lại liên hệ đến một đối tượng khác nữa : nhà thơ Xuân Diệu(Ở đây, học sinh đã nhớ sai. Tác giả của hai câu thơ đã được dẫn ra là Hồ Xuân Hương, chớ không phải là Xuân Diệu). Các câu tiếp theo trong đoạn quay trở lại bàn luận về chị Uït”.
Trong đoạn văn (c), bốn câu đầu tập trung bàn luận về bác Lê, một nhân vật trong truyện ngắn Nhà mẹ Lê của Thạch Lam. Bốn câu này liên kết chặt chẽ với nhau về chủ đề, mặc dù có vài sai sót về từ ngữ và ngữ pháp. Nhưng ba câu tiếp theo lại chuyển sang bàn luận về một đối tượng khác : ông phú hộ(thật ra là ông Bá) và cậu Phúc. Mặc dù câu cuối có liên hệ trở lại với đối tượng cũ, nhưng nhìn chung, đối tượng chính được bàn luận trong ba câu này vẫn là ông phú hộ và cậu Phúc. (Ngoài ra, câu cuối cùng trong đoạn còn sai ngữ pháp : rối cấu trúc và chập cấu trúc.)
Trong đoạn (d), ba câu đầu đề cập đến nhà thơ Quang Dũng. Nhưng câu thứ tư và thứ năm lại chuyển sang bàn luận về những người lính Tây Tiến. Câu cuối quay trở lại trình bày về Quang Dũng. (Bên cạnh đó, đoạn văn này còn mắc nhiều lỗi sai khác).
Trong đoạn (e), câu thứ nhất nêu lên một nhận định khái quát về các nhân vật lãng mạn của Khái Hưng và Nhất Linh, đối tượng bàn luận chính của đoạn. Câu thứ hai, thứ ba đề cập đến những nhân vật cụ thể của Khái Hưng và Nhất Linh : Dũng, Tuyết, Quang Ngọc, Phạm Thái, Nhị Nương. Như vậy, mối quan hệ giữa các đối tượng bàn luận được đề cập đến trong câu thứ nhất, thứ hai và thứ ba là chặt chẽ, mạch lạc. Nhưng sang câu thứ tư, người viết lại đề cập đến bọn địa chủ tây học- các nhân vật của Khái Hưng và Hoàng Ðạo. Và ở câu cuối, người viết còn liên hệ đến Nguyễn Tuân cùng với các nhân vật của ông.
Hiện tượng chệch choạc, tản mạn, thiên thẹo, thiếu mạch lạc về đối tượng trần thuật, bàn luận trong các đoạn văn vừa dẫn và phân tích chính là những biểu hiện cụ thể của lỗi liên kết chủ đề trong đoạn văn.
Như vậy, lỗi liên kết chủ đề trong đoạn văn là loại lỗi liên kết thể hiện qua hiện tượng phân tán tản mạn, chệch choạc, thiên thẹo, thiếu tập trung về mặt đối tượng được đề cập đến giữa các câu trong đoạn văn.
Lỗi liên kết chủ đề xuất hiện rải rác trong khá nhiều bài viết của học sinh THPT mà chúng tôi đã khảo sát. Trong bài viết của học sinh THCS, loại lỗi này xuất hiện phổ biến hơn. Bài viết của sinh viên đại học vẫn mắc phải loại lỗi này.
Có hai nguyên nhân chính dẫn đến sai liên kết chủ đề. Nguyên nhân thứ nhất, mang tính chất gián tiếp, là ở giai đoạn lập chương trình biểu đạt, tức lập dàn bài, học sinh đã không triển khai được vấn đề mà đề bài nêu ra thành các luận điểm, luận cứ một cách rạch ròi, cụ thể và có hệ thống. Do đó, trong quá trình tạo văn bản, học sinh viết lan man, không xác định và hạn định được đối tượng bàn luận, trần thuật trong từng đoạn, từng phần. Nguyên nhân thứ hai, nguyên nhân trực tiếp, là do học sinh không nắm vững kiến thức Ngữ pháp văn bản, cụ thể là các cách thức tổ chức, liên kết chủ đề trong đoạn văn, dẫn đến tình trạng nghĩ sao viết vậy, viết câu sau quên câu trước, không bao quát được đối tượng bàn luận, trần thuật trong toàn đoạn.
Sai liên kết chủ đề dẫn đến hệ quả là đoạn văn chệch choạc, tản mạn, thiên thẹo về đối tượng bàn luận, trần thuật ; do đó, đoạn văn trở nên thiếu mạch lạc.
Sai liên kết chủ đề có biểu hiện khá phức tạp, nhất là trong những đoạn văn dài. Tuy nhiên, có thể quy loại lỗi này về ba kiểu lỗi chính :
Ðoạn văn phân tán về chủ đề :
Ðây là kiểu lỗi sai có biểu hiện : đoạn văn có một số câu liên kết chặt chẽ với nhau trong việc bàn luận, trần thuật về một đối tượng nào đó, nổi bật lên như là đối tượng chính. Nhưng bên cạnh đó, đoạn văn lại có một hay một vài câu liên hệ đến và triển khai đối tượng khác, làm cho toàn đoạn trở nên tản mạn, thiếu tập trung về mặt đối tượng bàn luận, trần thuật. Ðoạn văn (c) và (d) đã dẫn thuộc kiểu lỗi sai này. Trong đoạn văn (c), đối tượng bàn luận chính là bác Lê. Ðối tượng triển khai tản mạn, lệch hướng là họ, cậu phúc. Trong đoạn văn (d), đối tượng triển khai tản mạn là họ, tức những người lính Tây Tiến.
Ðoạn văn thiên thẹo, chồng chéo về chủ đề :
Ðây là kiểu lỗi sai có biểu hiện : đoạn văn đề cập đến nhiều đối tượng, từ đối tượng này liên hệ sang đối tượng khác một cách tùy tiện, luẩn quẩn, thiên thẹo, chồng chéo lên nhau, làm cho đoạn văn trở nên mất phương hướng về đối tượng bàn luận, trần thuật. Ðoạn văn (b) đã dẫn thuộc kiểu lỗi sai này.
Ðoạn văn vượt quá phạm vi giới hạn của chủ đề chính :
Ðây là trường hợp đoạn văn nổi rõ lên đối tượng bàn luận, trần thuật chính, mang tính khái quát, trừu tượng, thường được nêu lên trong câu thứ nhất của đoạn[1] . Trong các câu tiếp theo, đối tượng khái quát này được người viết triển khai bằng cách cụ thể hóa qua một số đối tượng cụ thể. Nhưng trong quá trình triển khai đối tượng khái quát, người viết lại liên hệ đến một hay một vài đối tượng cụ thể nào đó, vượt ra ngoài phạm vi giới hạn của đối tượng khái quát, làm cho đối tượng bàn luận, trần thuật của toàn đoạn trở nên chệch choạc, thiếu thống nhất. Ðoạn văn (a) và (e) thuộc kiểu lỗi sai này.
Sửa chữa lỗi liên kết chủ đề, phải căn cứ vào kiểu lỗi sai cụ thể.
Ðối với kiểu lỗi phân tán tản mạn về chủ đề :
Ðối với kiểu lỗi sai này, trước hết, chúng ta xem xét một cách bao quát nội dung của đoạn văn, trên cơ sở đó xác định chủ đề chính của đoạn. Bước tiếp theo, căn cứ vào chủ đề chính, chúng ta xác định câu hay chuỗi câu nào có liên quan chặt chẽ với chủ đề chính ; câu hay chuỗi câu nào phân tán tản mạn, không có giá trị thể hiện chủ đề chính. Cuối cùng, chúng ta loại bỏ câu, chuỗi câu phân tán về mặt chủ đề, chỉ giữ lại những câu cần thiết. Tất nhiên , đối với những câu được giữ lại, chúng ta cũng cần lưu ý sửa chữa các loại lỗi sai khác như lỗi chính tả, từ ngữ, ngữ pháp, kết hợp với việc tách, ghép câu, chuyển đổi cấu trúc v.v...
Hai đoạn văn (c) và (d) có thể được sửa chữa theo cách vừa nêu : (c) Bác Lê là một người nông dân nghèo khổ và gặp nhiều bất hạnh. Khi gia đình lâm vào cảnh đói rét, bác đã đi khắp làng xin làm mướn, nhưng chẳng nhà nào mướn bác làm. Cùng đường, bác đã đến nhà ông Bá với hi vọng xin ít gạo về cứu đàn con, nhưng bác đã bị từ chối một cách tàn nhẫn. Hơn thế nữa, bác còn bị cậu Phúc, con ông Bá, thả chó ra cắn. Bác phát bệnh rồi chết, bỏ lại đàn con bơ vơ, không nơi nương tựa. (d) Quang Dũng là nhà thơ trưởng thành trong thời kì kháng chiến chống Pháp. Trong thời kì này, ông đã từng tham gia vào đoàn quân Tây Tiến - một đơn vị bộ đội được thành lập vào năm 1947, có nhiệm vụ phối hợp với bộ đội Lào bảo vệ biên giới Lào - Việt và đánh Pháp ở vùng Thượng Lào. Khi chuyển sang đơn vị khác, Quang Dũng nhớ lại những kỉ niệm về đoàn quân Tây Tiến và đã sáng tác bài thơ Nhớ Tây Tiến, về sau ông sửa lại thành Tây Tiến.
Ðối với kiễu lỗi thiên thẹo, chồng chéo về chủ đề :
Nhìn chung, những đoạn văn thiên thẹo, chồng chéo về mặt chủ đề rất khó sửa chữa. Bởi vì muốn sửa chữa kiểu lỗi này, chúng ta phải tiến hành việc phân bố, sắp xếp lại chủ đề bộ phận của đoạn, và điều đó sẽ làm thay đổi kết cấu của cả bài viết. Riêng đối với một số trường hợp sai cụ thể, chúng ta có thể sửa bằng cách loại bỏ các câu thiên thẹo, chồng chéo lên nhau về mặt chủ đề, chỉ giữ lại những câu có giá trị thể hiện chủ đề chính và sửa chữa các loại lỗi khác, nếu có.
Ðoạn văn (b) có thể sửa chữa theo cách vừa nêu : (b). Bên cạnh chị Út, còn có biết bao người phụ nữ Việt Nam anh hùng khác. Ðó là chị Sứ, người con gái xứ Hòn. Chị đã tô thêm vẻ đẹp của người phụ nữ Việt Nam với phẩm chất anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang.
Tuy nhiên, cần lưu ý rằng, việc sửa chữa theo cách vừa được tiến hành chỉ là biện pháp giải quyết tạm thời. Bởi vì, sửa chữa theo cách này sẽ làm cho đoạn văn trở nên đơn giản, sơ lược về mặt nội dung.
Ðối với kiểu lỗi vượt quá phạm vi giới hạn của chủ đề chính :
Ðối với kiểu lỗi này, nhìn chung có hai cách sửa chữa :
Cách thứ nhất : Cắt bỏ câu hay chuỗi câu vượt quá phạm vi giới hạn của chủ đề chính, chủ đề mang tính khái quát của toàn đoạn.
Cách thứ hai : Mở rộng chủ đề chính, chủ đề mang tính khái quát của toàn đoạn, nếu chủ đề toàn thể của bài viết cho phép.
Tất nhiên, sửa chữa theo hướng nào thì chúng ta cũng cần lưu ý đến các loại lỗi khác trong đoạn, kết hợp với việc tách, ghép câu, chuyển đổi cấu trúc để đoạn văn chặt chẽ, mạch lạc hơn.
Ðoạn văn (a) có thể sửa chữa theo cách thứ nhất : cắt bỏ câu cuối : (a) Ðọc tác phẩm Tắt đèn, chúng ta thấy người nông dân Việt Nam dưới chế độ thực dân nửa phong kiến đã bị áp bức hết sức tàn tệ. Gia đình chị Dậu không một ai là không bị hành hạ. Anh Dậu đang ốm liệt giường chiếu cũng bị trói, bị đánh đập dã man. Cái Tí bé bỏng cũng bị roi đòn.
Ðoạn văn (e) có thể sửa chữa theo cách thứ hai : mở rộng đối tượng nhận định trong câu thứ nhất, ghép câu thứ hai và thứ ba lại, chuyển đổi cấu trúc câu thứ tư, thứ năm để đoạn văn liên kết chặt chẽ hơn về chủ đề : (e) Phần lớn các nhân vật lãng mạn đều được phóng đại và lí tưởng hóa. Dũng là một khách tình si, Tuyết là gái giang hồ, Quang Ngọc, Phạm Thái, Nhị Nương là một bọn thanh niên quý tộc suy tàn đã được thi vị hóa, lãng mạn hóa. Thậm chí, bọn địa chủ tây học như Hạc, Bảo trong Gia đình, Duy Thơ trong Con đường sángcũng được Khái Hưng và Hoàng Ðạo xây dựng thành những mẫu người lí tưởng. Những người giang hồ lãng tử sống cuộc đời sóng gió như Nguyễn, Vi Bạch cũng được Nguyễn Tuân lí tưởng hóa, thi vị hóa, trở nên đối lập với những kẻ chỉ biết chôn chân ở mảnh đất quê hương như Dung, Lâm Hồ.
2. Lỗi Liên kết lô-gích.
Xem xét các đoạn văn sau đây :
(a) Viết về người phụ nữ, Hồ Xuân Hương thường chú ý đến những ngóc ngách éo le của cuộc đời, qua đó lên tiếng nói đồng cảm và bênh vực họ. Qua một loạt hình tượng nói về số phận hẩm hiu của người phụ nữ, nhà thơ đã nêu bật lên vẻ đẹp bên trong, vẻ đẹp tâm hồn của họ. Hồ Xuân Hương còn mạnh dạn ca ngợi vẻ đẹp thân xác của những cô gái đang xuân, trắng trong tươi mát... (BVHS).
(b) Người lính Tây Tiến khi đấu tranh chống giặc ngày xưa khi đi không có định ngày về. Họ đã thề với lòng khi giành được độc lập mới trở về. Khi đã nằm xuống thì chỉ có chiếu quấn thân để chôn chứ không có những thứ như các người khác. Các anh hùng đã hi sinh vì tổ quốc đã chống Pháp thật hiên ngang. Vẻ đẹp của hình tượng người lính Tây Tiến thật hùng vĩ (BVHS).
(c) Ông Nghị được Ngô Tất Tố vẽ ra bằng cử chỉ đặt tăm ngang miệng chén, vẽ chòm râu, đập tay xuống sậpvà bằng lời quátv.v... Ðọc những từ ngữ đầu tiên của đoạn văn, ta thấy ngay cái vẻ của ông Nghị. Ðó là con người cậy thế, khinh rẻ người dân. Ngô Tất Tố đã dựng nên một tên địa chủ đáng khinh bỉ. Với cử chỉ uống một hớp lớn... súc miệng òng ọc mấy cái rồi nhổ toẹt xuống nền nhà, tên Nghị Quế thật là xấu xa, kinh tởm ! Chỉ qua hành động đầu tiên ấy thôi, ta cũng đủ thấy thái độ thô bỉ của hắn. Nghị Quế cậy thế, cậy chức ông Nghịđể ức hiếp mọi người. Trước mặt người dân nghèo, Nghị Quế cố tăng thêm uy thế hòng bóp hầu bóp cổ người dân nghèo khổ dễ hơn (NBVH).
(d) Trước bọn cường hào độc ác, bất nhân, chị Dậu không chỉ nhẫn nhục, chịu đựng. Vì thương chồng, chị đã hứng chịu bao điều cơ cực, bị đánh đập tàn nhẫn. Chị đã phải đi ở vú, lại bị tên quan già dâm đãng toan cưỡng hiếp. Số phận của người lao động nghèo trong xã hội thực dân nửa phong kiến là như thế, một phần cũng là do khi bị áp bức, họ chỉ biết chịu đựng, không dám đứng dậy đấu tranh. (BVHS).
(e) Mùa xuân, cây gạo gọi đến bao nhiêu là chim. Từ xa nhìn lại, cây gạo sừng sững như một tháp đèn khổng lồ. Hàng ngàn bông hoa là hàng ngàn ngọn lửa hồng. Hàng ngàn búp nõn là hàng ngàn ánh nến xanh. Tất cả đều lóng lánh, lung linh trong nắng (TV9).
(f) Không phải ngay từ đầu Tô Hoài đã thành công. Núi cứu quốclà một dẫn chứng. Tác giả đã có cái nhìn lạc quan, khỏe khoắn khi miêu tả triền núi cứu quốc vươn lên như một cánh tay áo xanh bát ngát. Viết về những đồng bào miền núi, tác giả xúc động trước cảnh bà con làm lụng chật vật, túng thiếu, chịu đựng bênh sốt rét vàng quanh năm. Và nhà văn đã kịp ghi nhận những nét đổi mới trong tư tưởng, tình cảm của những đồng chí Hùng Vương, Pẻo, Chẩn, Pin, Liễn (...)(VHVN 1945 - 1975, T. II).
Trong đoạn văn (a), đối tượng bàn luận là nhà thơ Hồ Xuân Hương. Tất cả ba câu trong đoạn đều tập trung bàn luận về Hồ Xuân Hương. Như vậy, các câu trong đoạn liên kết chặt chẽ với nhau về chủ đề.
Nhưng về nội dung bàn luận, ba câu lại rời rạc, tản mạn. Trong câu thứ nhất, nội dung bàn luận về Hồ Xuân Hương là : thường chú ý đến những ngóc ngách éo le của cuộc đời, qua đó lên tiếng nói đồng cảm và bênh vực họ; trong câu thứ hai, là đã nêu bật lên vẻ đẹp bên trong, vẻ đẹp tâm hồn của họ; trong câu thứ ba, lại là : còn mạnh dạn ngợi ca vẻ đẹp thân xác của những cô gái đang xuân, trắng trong tươi mát.
Trong đoạn văn (b), về chủ đề, các câu liên kết khá chặt chẽ với nhau : cùng tập trung đề cập đến người lính Tây Tiến, ngoại trừ câu thứ tư. Trong câu văn này, học sinh đã mở rộng đối tượng một cách tùy tiện : đang trần thuật, bàn luận về người lính Tây Tiến, lại liên hệ đến Các anh hùng đã hi sinh vì tổ quốc, một đối tượng có tính khái quát cao, làm cho đoạn văn trở nên chệch choạc về liên kết chủ đề.
Nhưng đáng lưu ý hơn là mối quan hệ về nội dung bàn luận, trần thuật giữa các câu. Trước hết, chúng ta thấy có sự mâu thuẫn giữa câu thứ nhất với câu thứ hai : khi đi không có định ngày về- khi giành độc lập mới trở về. Kế đến là sự rời rạc, tản mạn giữa câu thứ ba, thứ tư và thứ năm : đã nằm xuống thì chỉ có chiếu quấn thân để chôn chứ không có những thứ như các người khác- đã chống Pháúp thật hiên ngang- thật hùng vĩ(Bên cạnh đó, trong đoạn văn này, học sinh còn sai lỗi ngữ pháp, lỗi từ ngữ và lỗi về kiến thức).
Trong đoạn văn (c), học sinh đã đảm bảo được liên kết chủ đề : các câu trong đoạn tập trung bàn luận về nhân vật Nghị Quế. Nhưng về nội dung bàn luận, có sự đan xen lộn xộn, thiếu mạch lạc giữa các câu.
Nhìn chung, trong đoạn văn này, có hai nội dung bàn luận về Nghị Quế :
- Bản chất cậy quyền ỷ thế, ức hiếp dân lành.
- Tư cách xấu xa thô bỉ.
Liên quan đến nội dung thứ nhất là các câu thứ nhất, thứ ba, thứ bảy và thứ tám. Liên quan đến nội dung thứ hai là các câu thứ tư, thứ năm và thứ sáu. (Riêng câu thứ ba thì nội dung nghĩa không rõ ràng, ta không xác định được một cách cụ thể cái vẻ của ông Nghị là vẻ gì.).
Trong đoạn văn (d), ta thấy có sự mâu thuẫn giữa nội dung bàn luận của câu thứ nhất với nội dung bàn luận của các câu còn lại. Nội dung nhận định về nhân vật chị Dậu trong câu thứ nhất là : không chỉ nhẫn nhục, chịu đựng. Thế nhưng, trong các câu tiếp theo, nội dung trần thuật, bàn luận về chị Dậu và người lao động nghèo trong xã hội thực dân nửa phong kiến hoàn toàn ngược lại : đã phải đi ở vú, lại bị tên quan già dâm đãng toan cưỡng hiếp, chỉ biết chịu đựng, không dám đứng dậy đấu tranh.
Trong đoạn văn (e), nội dung miêu tả của các câu thứ hai, thứ ba, thứ tư và thứ năm hoàn toàn tương hợp, lô-gích với nhau. Ðó là sự tương hợp về màu sắc, ánh sáng của cây gạo, nhìn một cách bao quát, và của bông hoa, búp nõn trên cây gạo: sừng sững như một tháp đèn khổng lồ- hàng ngàn ngọn lửa hồng- hàng ngàn ánh nến xanh- lóng lánh, lung linh trong nắng. Tuy nhiên, nội dung miêu tả của các câu văn này lại không có liên quan gì đến nội dung miêu tả của câu thứ nhất : gọi đến bao nhiều là chim.
Ðoạn văn (f) rơi vào tình trạng tương tự như đoạn văn (d) : nội dung nhận định nêu trong câu thứ nhất hoàn toàn mâu thuẫn với nội dung nhận định nêu trong các câu còn lại. Trong câu thứ nhất, người viết đánh giá rằng : Không phải ngay từ đầu Tô Hoài đã thành công, nghĩa là Tô Hoài thất bại. Thế nhưng, trong các câu tiếp theo, người viết lại nêu lên hàng loạt thành công của Tô Hoài trong tác phẩm Núi cứu quốc : đã có cái nhìn lạc quan, khỏe khoắn..., xúc động trước cảnh bà con làm lụng chật vật, túng thiếu..., đã kịp thời ghi nhận những nét đổi mới trong tư tưởng, tình cảm của những đồng chí Hùng Vương, Pẻo, Chẩn, Pin, Liễn.
Những hiện tượng rời rạc, mâu thuẫn hay đan xen rối rắm, thiếu mạch lạc về nội dung bàn luận, trần thuật hay miêu tả giữa các câu trong đoạn như đã dẫn và phân tích chính là những biểu hiện cụ thể của lỗi liên kết lô-gích.
Như vậy, lỗi liên kết lô-gích trong đoạn văn là loại lỗi liên kết thể hiện qua sự rời rạc, mâu thuẫn hay đan xen rối rắm, thiếu mạch lạc về nội dung bàn luận, trần thuật, miêu tả giữa các câu trong đoạn. Lỗi liên kết lô-gích xuất hiện khá phổ biến trong bài làm của học sinh THPT. Trong bài viết của học sinh THCS, lỗi liên kết lô-gích xuất hiện càng phổ biến hơn. Trong bài viết của sinh viên đại học, loại lỗi này vẫn xuất hiện rải rác. Sách vở, báo chí cũng không tránh khỏi loại lỗi này.
Có hai nguyên nhân chính dẫn đến lỗi liên kết lô-gích. Nguyên nhân thứ nhất, mang tính chất gián tiếp, là ở giai đoạn phân tích đề, lập dàn bài. Ở giai đoạn này, vì thiếu ý thức phân bố, sắp xếp nội dung bàn luận, trần thuật hay miêu tả trong từng phần, từng đoạn một cách rạch ròi, cụ thể, nên đến giai đoạn tạo đoạn, tạo văn bản, học sinh viết lan man, dẫn đến lỗi sai. Nguyên nhân thứ hai, mang tính chất trực tiếp, là do học sinh không nắm vững kiến thức Ngữ pháp văn bản, đặc biệt là những hiểu biết về nhân tố liên kết lô-gích trong đoạn văn. Không nắm vững kiến thức này, học sinh không có ý thức về ý tưởng chủ đạo (controlling idea) trong quá trình tạo đoạn, dẫn đến tình trạng nghĩ sao viết vậy, viết câu sau, quên câu trước, không bao quát được nội dung bàn luận, trần thuật hay miêu tả chính trong từng đoạn, từng phần văn bản.
Lỗi liên kết lô-gích có biểu hiện khá phức tạp. Tuy nhiên, có thể quy loại lỗi này về ba kiểu sai chính :
- Nội dung nghĩa của các câu rời rạc, tản mạn.
- Nội dung nghĩa của các câu mâu thuẫn với nhau.
- Nội dung nghĩa của các câu đan xen rối rắm.
Trong các ví dụ đã dẫn, thuộc kiểu lỗi thứ nhất là đoạn (a), (e). Thuộc kiểu lỗi thứ hai là các đoạn (d), (f). Thuộc kiểu lỗi thứ ba là đoạn (c). Tất nhiên, bên cạnh ba kiểu lỗi sai chính vừa nêu, trong bài viết của học sinh, cũng xuất hiện hiện tượng phức hợp hai, ba kiểu lỗi. Ðoạn văn (b) thuộc trường hợp này : nội dung nghĩa giữa các câu vừa mâu thuẫn, vừa rời rạc, tản mạn.
Ðối với lỗi liên kết lô-gích, có hai hướng giải quyết : sửa chữa hay tổ chức lại đoạn văn. Giải quyết theo hướng nào là tùy vào kiểu lỗi sai và biểu hiện sai cụ thể.
Ðối với kiểu lỗi nội dung nghĩa của các câu rời rạc, tản mạn :
Ðối với kiểu lỗi sai này, tùy biểu hiện sai cụ thể, ta sửa chữa hay tổ chức lại đoạn văn.
Nếu đa số các câu trong đoạn có nội dung nghĩa lô-gích với nhau, chỉ có một hay một vài câu rời rạc, thì chúng ta sửa chữa. Cách thức cụ thể là cắt bỏ những câu có nội dung nghĩa rời rạc, kết hợp với việc sắp xếp lại các câu, thay đổi cách diễn đạt, thay thế, thêm bớt từ ngữ..., nếu thấy cần, để đoạn văn đã sửa chữa đảm bảo được các nhân tố liên kết.
Ðoạn văn (e) có thể sửa theo cách vừa nêu : (e) Mùa xuân, từ xa nhìn lại, cây gạo sừng sững như một tháp đèn khổng lồ. Hàng ngàn bông hoa là hàng ngàn ngọn lửa hồng. Hàng ngàn búp nõn là hàng ngàn ánh nến xanh. Tất cả đều lóng lánh, lung linh trong nắng.
Nếu đa số các câu trong đoạn đều có nội dung nghĩa rời rạc thì chúng ta không thể sửa chữa, mà chỉ có thể tổ chức lại đoạn văn. Tất nhiên, đây là một công việc khá phức tạp và tế nhị. Vì thế cho nên việc tổ chức lại đoạn văn phải được tiến hành từng bước.
Trước hết, dựa vào văn cảnh rộng, chúng ta xác định nội dung nghĩa cơ bản của đoạn văn cần được tổ chức lại.
Tiếp theo, chúng ta xem xét đoạn văn cần tổ chức lại để xác định nội dung nghĩa cơ bản của nó có được biểu đạt qua câu văn nào hay không. Nếu có, thì câu văn này được xem như là cơ sở để triển khai, tổ chức lại đoạn văn. Ðoạn văn (a) thuộc trường hợp này : câu thứ nhất trong đoạn có thể được xem như câu nêu lên nội dung nghĩa cơ bản. Nếu không, chúng ta phải tạo một đoạn văn mới hoàn toàn dựa trên nội dung nghĩa cơ bản đã xác định được. Chẳng hạn như đối với đoạn văn (b). Dựa vào văn cảnh rộng, có thể xác định được nội dung nghĩa cơ bản của đoạn là : sự hi sinh mất mát của người lính Tây Tiến.
Cuối cùng, chúng ta vận dụng kiến thức về từ ngữ, ngữ pháp, đặc biệt là kiến thức về đoạn văn (các nhân tố liên kết, các loại câu có chức năng khác nhau, các kiểu kết cấu của đoạn...) kết hợp với kiến thức về văn chương, xã hội, lần lượt hiển ngôn hóa nội dung cơ bản của đoạn thành đoạn văn hoàn chỉnh.
Dưới đây là hai đoạn văn (a) và (b) đã được tổ chức lại : (a) Viết về người phụ nữ, Hồ Xuân Hương thường chú ý đến những ngóc ngách éo le của cuộc đời, qua đó lên tiếng nói đồng cảm và bênh vực họ. Bà thông cảm sâu sắc với những người phụ nữ làm lẽ, năm thì mười họa mới được gần chồng, mà cũng chỉ là được chăng hay chớ, cho nên bà đã thốt lên tiếng chửi đầy phẫn nộ đối với cái kiếp lấy chồng chung, cái kiếp tôi đòi không công. Bà mạnh dạn lên tiếng khẳng định và bênh vực những người con gái, vì cả nể nên có mang với người mình yêu, điều mà luân lí phong kiến và dư luận xã hội khắt khe không chấp nhận : Quản bao miệng thế lời chênh lệch Không có, nhưng mà có, mới ngoan. Chính tiếng nói đồng cảm và bênh vực ấy đã làm cho những vần thơ viết về người phụ nữ của Hồ Xuân Hương có giá trị nhân đạo sâu sắc. (b) Khi ra đi chiến đấu, người lính Tây Tiến có ý thức sẵn sàng hi sinh vì Tổ quốc, nên họ đã chẳng tiếc ngày xanh.. Ðối với họ, sự hi sinh, mất mát chẳng phải là chuyện tưởng tượng xa vời mà là một thực tế hiển nhiên : những nấm mồ của đồng đội nằm rải rác ở biên cương. Nhưng điều đó không làm cho người lính Tây Tiến nao núng, run sợ. Vì thế cho nên, cái chết đối với họ hết sức nhẹ nhàng, thanh thản, mà cũng rất đỗi hào hùng: Aïo bào thay chiếu anh về đất Sông Mã gầm lên khúc độc hành.
Ðối với kiểu lỗi nội dung nghĩa của các câu mâu thuẫn với nhau :
Ðối với kiểu lỗi sai này, hướng giải quyết chung là sửa chữa, nhưng mức độ sửa chữa, cách thức cụ thể phải tùy vào biểu hiện sai cụ thể.
Trước hết , cần phải xem xét, xác định câu hay chuỗi câu nào mâu thuẫn với nhau và mâu thuẫn như thế nào.
Bước tiếp theo, căn cứ vào văn cảnh rộng, chúng ta xác định nội dung nghĩa cơ bản của đoạn văn cần sửa chữa, xác định câu hay chuỗi câu nào tương ứng với nội dung nghĩa đó, câu hay chuỗi câu nào có nội dung nghĩa mâu thuẫn.
Cuối cùng, trên cơ sở câu hay chuỗi câu có giá trị thể hiện nội dung nghĩa cơ bản, chúng ta sửa chữa, điều chỉnh các câu có nội dung nghĩa mâu thuẫn bằng cách thay thế, thêm bớt từ ngữ, thay thế nội dung diễn đạt, kết hợp với việc chuyển đổi cấu trúc, tách ghép câu, thay đổi vị trí các câu, nếu thấy cần.
Hai đoạn văn (d) và (f) có thể được sửa chữa theo cách vừa nêu : (d) Trước bọn cường hào độc ác, bất nhân, chị Dậu không chỉ nhẫn nhục, chịu đựng. Khi bị dồn vào bước đường cùng, chị đã chống trả lại bọn chúng một cách quyết liệt. Chị nghiến hai hàm răngthách thức tên cai Lệ khi hắn định hành hạ anh Dậu : Mày trói ngay chồng bà đi, bà cho mày xem!. Không chỉ bằng lời nói, chị còn túm lấy cổ hắn, dúi hắn ngã chỏng quèo trên mặt đất. Khi tên hầu cận ông lígiơ gậy lên chực đánh chị, chị đã túm tóchắn, lẳng cho một cái, ngã nhào ra thềm. (f) Ngay từ đầu, Tô Hoài đã có những thành công đáng ghi nhận. Núi cứu quốc là một dẫn chứng. Tác giả đã có cái nhìn lạc quan, khỏe khắn khi miêu tả triền núi cứu quốc vươn lên như một cánh tay áo xanh bát ngát. Viết về đồng bào miền núi, tác giả xúc động trước cảnh bà con làm lụng chật vật, túng thiếu, chịu đựng bệnh sốt rét vàng quanh năm. Và nhà văn đã kịp ghi nhận những nét đổi mới trong tư tưởng, tình cảm của những đồng chí Hùng Vương, Pẻo, Chẩn, Pin, Liễn...
Ðối với kiểu lỗi nội dung nghĩa của các câu đan xen rối rắm :
Hướng sửa chữa chung đối với kiểu lỗi sai này là tách đoạn văn ra, tổ chức lại thành nhiều đoạn.
Trước hết, chúng ta xem xét, xác định : Ðoạn văn có bao nhiêu nội dung nghĩa cơ bản ? Nội dung nghĩa cơ bản nào được biểu đạt trong những câu văn nào?
Kế đến, chúng ta đặt những nội dung nghĩa cơ bản đã xác định được trong văn cảnh rộng, phần văn bản hay cả văn bản, để xét xem : Có sự chồng chéo, thừa thãi hay không ? Trật tự phân bố các nội dung nghĩa có hợp lí không ? Nếu nội dung nào chồng chéo lên nhau, trở nên thừa thãi, thì loại bỏ. Nếu không thừa, thì giữ nguyên và phân bố theo trật tự cũ hay phân bố lại theo trật tự mới cho kết cấu toàn bài chặt chẽ hơn.
Cuối cùng, chúng ta tách đoạn bằng cách phân bố, sắp xếp lại các câu, kết hợp với việc thêm bớt, thay thế từ ngữ, thay đổi cách diễn đạt..., và sửa chữa các loại lỗi khác, nếu có.
Áp dụng cách sửa chữa vừa nêu, ta có thể tách đoạn văn (c) thành hai đoạn văn như sau : Ông Nghị được Ngô Tất Tố vẽ ra bằng cử chỉ đập tay xuống sập, rung đùi, vuốt chòm râu tây cong vắt trên mép miệng ngậm tămvà bằng những lời quát... Những chi tiết được miêu tả thoáng qua ấy đã cho ta thấy rõ cái bản chất cậy quyền ỷ thế, ức hiếp dân lành của Nghị Quế. Trước mặt người nông dân nghèo khổ, thấp cổ bé miệng, hắn luôn ra oai, làm tăng thêm uy thế hòng bóp hầu bóp họng họ dễ hơn. Bên cạnh bản chất cậy quyền ỷ thế, Nghị Quế còn là một tên địa chủ có tư cách hết sức xấu xa, đáng khinh bỉ. Cái cung cách ăn uống của hắn đã chứng minh rõ điều đó. Hắn bưng bát canh, trợn mắt, húp một cái đánh soạt, vừa nhai, vừa nuốt, vừa giục thằng nhỏ lấy tăm. Hắn bưng tách nước uống một hớp lớn, súc miệng òng ọc mấy cái, rồi nhổ tọet xuống nền nhà..
3. Lỗi liên kết hình thức.
Lỗi liên kết hình thức là loại lỗi liên kết có biểu hiện : các phương tiện liên kết[1] phản ánh sai lệch mối quan hệ về mặt nội dung giữa các câu trong đoạn.
Như đã trình bày, liên kết nội dung trong văn bản với hai nhân tố - liên kết chủ đề và liên kết lôgích - có vai trò quyết định và quy định liên kết hình thức. Do đó, khi đoạn văn sai liên kết chủ đề hay liên kết lô-gích, tất nhiên dẫn đến sai liên kết hình thức. Chẳng hạn như đoạn văn (a) đã dẫn trong mục 2.1 (Lỗi liên kết chủ đề). Trong đoạn văn này, học sinh đã sử dụng phép liên tưởng để tổ chức liên kết chủ đề như sau : người nông dân Việt Nam dưới chế độ thực dân phong kiến- Gia đình chị Dậu- Anh Dậu- Cái Tí bé bỏng- Tên lí tưởng. Nhưng Tên lí trưởngkhông có quan hệ ngang hàng (đồng loại) với Anh Dậu và Cái Tí bé bỏng, nên cũng không bao hàm trong Gia đình chị Dậuvà trong người nông dân Việt Nam dưới chế độ thực dân phong kiến. Ðó là lỗi liên kết hình thức : sử dụng sai phương tiện liên tưởng.
Tuy nhiên, cần lưu ý rằng : lỗi sai vừa nêu chỉ là hệ quả kéo theo của lỗi liên kết chủ đề. Do đó, khi sửa chữa lỗi liên kết chủ đề của đoạn văn này, chúng ta cũng đồng thời loại bỏ lỗi liên kết hình thức như đã tiến hành. Những biểu hiện sai liên kết hình thức như vừa nêu, chúng tôi không xem xét ở đây. Chúng tôi chỉ đề cập đến lỗi liên kết hình thức thuần túy, loại lỗi liên kết hình thức có tác động tiêu cực đến liên kết nội dung của đoạn văn.
Ví dụ :
(a) Tác phẩm Chí Phèo của Nam Cao, tác giả dựng lên một cảnh đời bất hạnh của Chí Phèo. Họ không chỉ chịu áp bức về vật chất mà tinh thần của họ cũng không kém phần khốn khổ. Chí Phèo muốn được làm người lương thiện nhưng không được...(BVSV).
(b) Hình ảnh quân xanh màu lá cho thấy người lính Tây Tiến chịu nhiều thiếu thốn về vật chất, ốm yếu xanh xao như màu lá. Tuy vậy nhưng họ vẫn quyết tâm không chịu lùi bước. Nhưng họ vẫn mơ ước được độc lập với màu cờ nền đỏ sao vàng.(BVHS)
(c) Trong thời kì kháng chiếng chống Pháp, có rất nhiều nhà văn nhà thơ đã nói lên lòng yêu quê hương đất nước, nói lên tình đồng đội , đồng bào ... hay nhớ lại những cuộc chiến đấu của những người lính. Trong đó, nhà thơ Quang Dũng đã sáng tác bài Tây Tiến để nhớ lại những ngày chiến đấu cùng đồng đội. (BVHS).
(d) Xuân Diệu là một nhà thơ lớn trong nền văn học Việt Nam. Ông sáng tác thơ là chính. Nhưng trong giai đoạn này thơ ông bộc lộ tâm trạng rất yêu đời, rất thiết tha với cuộc sống, nhưng đồng thời lại cũng rất chán nản, cô đơn và hoài nghi.”(BVHS).
(e) Trong hoàn cảnh trước cách mạng tháng tám, trong dòng thơ văn của dân tộc ta, nói về thơ thì ai cũng biết đến Xuân Diệu. Thế nhưng tâm hồn ông lại chứa đựng hai tâm trạng luôn trái ngước nhau là : ông rất yêu đời, rất thiết tha với cuộc sống nhưng cũng rất chán nản hoài nghi, cô đơn.(BVHS).
(f) Chủ nghĩa lãng mạn bảo thủ và lãng mạn ở Tây Âu chính là tiếng nói của giai cấp quý tộc phong kiến đã suy tàn, là thái độ thứ nhất chống lại cuộc Cách mạng Pháp và phong trào Khai sáng gắn liền với cuộc cách mạng đó. Những nhà văn lãng mạn này không những chủ trương lí thuyết duy tâm, phản động về mặt nghệ thuật, mà còn trực tiếp tham gia những phong trào chính trị chống lại Cách mạng Pháp...(P.C.Ð - PTTM).
(g) Càng về sau, con đường xuống dốc của những khách chinh phu thật thảm hại. Tuy nhiên, lúc mới xuất hiện trong thơ Thế Lữ, con người đó đã hấp dẫn khá đông thanh niên trong một thời lịch sử. (P.C.Ð - PTTM).
Trong ví dụ (a), câu thứ hai, học sinh đã dùng đại từ họ, nhưng câu thứ nhất không có yếu tố tạo tiền đề cho việc thay thế. Ðại từ họ, số nhiều, không thể thay thế cho Chí Phèo.
Trong ví dụ (b), ở đầu câu thứ hai, học sinh vừa dùng tổ hợp Tuy vậy, biểu thị mối quan hệ nhượng bộ, vừa dùng liên từ nhưng, biểu thị mối quan hệ tương phản, để nối hai câu lại. Dùng hai phương tiện nối như vậy là thiếu nhất quán, chồng chéo lên nhâu, làm cho mối quan hệ về nội dung nghĩa giữa hai câu không được xác lập rõ ràng, cụ thể. Bên cạnh đó, ở đầu câu thứ ba, học sinh còn dùng liên từ Nhưng. Nhưng nội dung nghĩa của câu thứ hai và thứ ba không tương phản với nhau. Như vậy, phương tiện nối Nhưngđã phản ánh sai mối quan hệ về nội dung nghĩa giữa hai câu.
Trong ví dụ (c), câu thứ hai, học sinh đã dùng đại từ đó để thay thế, nhưng chúng ta không xác định được đại từ này thay thế cho từ, ngữ nào trong câu thứ nhất. Từ, ngữ được thay thế ở đây là thời kì kháng chiến chống Pháp hay nhà văn nhà thơ?.
Trong ví dụ (d), phương tiện nối Nhưngở đầu câu thứ ba phản ánh sai quan hệ về nội dung nghĩa giữa câu thứ hai và thứ ba. Bên cạnh đó, chúng ta cũng không xác định được danh ngữ giai đoạn này được dùng để chỉ giai đoạn nào.
Trong ví dụ (e), tổ hợp Thế nhưng ở đầu câu thứ hai phản ánh lệch lạc mối quan hệ về nội dung nghĩa giữa hai câu.
Trong ví dụ (f), người viết đã dùng danh ngữ Những nhà văn lãng mạn nàyđể chỉ Chủ nghĩa lãng mạn bảo thủ và lãng mạn ở Tây Âu. Nhưng nội dung biểu đạt của hai danh ngữ này không hề đồng nhất với nhau.
Trong ví dụ (g), người viết đã dùng danh ngữ con người đó để thế cho những khách chinh phu. Nhưng về ý nghĩa số lượng, hai danh ngữ này lại thiếu thống nhất. Lỗi liên kết hình thức thuần túy chỉ xuất hiện rải rác trong một số bài viết của học sinh. So với lỗi liên kết chủ đề và lỗi liên kết lô-gích, lỗi liên kết hình thức thuần túy xuất hiện ít hơn.
Có hai nguyên nhân chính dẫn đến sai liên kết hình thức. Nguyên nhân thứ nhất là do học sinh thiếu ý thức rõ ràng, cụ thể về mối quan hệ về nội dung giữa các câu trong quá trình tạo đoạn, tạo văn bản, nên sử dụng sai các phương tiện liên kết câu. Nguyên nhân thứ hai là do học sinh không nắm vững kiến thức Ngữ pháp văn bản, đặc biệt là kiến thức về các phép liên kết câu, nên đã sử dụng sai các phương tiện liên kết.
Nhìn chung, lỗi liên kết hình thức trong bài viết của học sinh thường bao gồm các kiểu sai :
Sử dụng sai phương tiện thế đại từ :
Ðây là kiểu lỗi có biểu hiện : đại từ được dùng để thay thế thiếu yếu tố tạo tiền đề hay yếu tố tạo tiền đề không rõ ràng. Thuộc kiểu lỗi này là đại từ Họ trong ví dụ (a) và đại từ đó trong ví dụ (c).
Sử dụng sai phương tiện nối :
Kiểu lỗi này thường có biểu hiện : phương tiện nối câu (quan hệ từ, tổ hợp cố định hóa hay có xu hướng cố định hóa) phản ánh sai lệch mối quan hệ về nội dung nghĩa giữa hai câu. Liên từ Nhưngtrong ví dụ (b), (d) và tổ hợp Thế nhưng trong ví dụ (e) thuộc kiểu lỗi này.
Sử dụng sai phương tiện lặp từ vựng :
Kiểu lỗi này thường có biểu hiện : phương tiện lặp (từ, ngữ) thiếu yếu tố tạo tiền đề hay thiếu sự đồng nhất về nội dung biểu đạt với yếu tố tạo tiền đề. Danh ngữ giai đoạn này trong ví dụ (d) và danh ngữ Những nhà văn lãng mạn này trong ví dụ (f) thuộc kiểu lỗi này.
Sử dụng sai phương tiện thế đồng nghĩa :
Biểu hiện thường thấy của kiểu lỗi này là phương tiện thế thiếu sự đồng nhất về nội dung biểu đạt với yếu tố tạo tiền đề. Chẳng hạn như ví dụ (g) đã dẫn.
Tiến hành sửa chữa lỗi liên kết hình thức, chúng ta phải căn cứ vào kiểu lỗi sai và biểu hiện sai cụ thể. (Tất nhiên, đối với những chuỗi câu vừa sai liên kết hình thức, vừa chệch choạc về liên kết chủ đề, liên kết lô-gích hay mắc những lỗi sai khác như lỗi dùng từ, lỗi ngữ pháp ..., khi sửa lỗi liên kết hình thức, chúng ta cũng đồng thời sửa chữa các loại lỗi sai này).
Ðối với kiểu lỗi sử dựng sai phương tiện thế đại từ :
Có hai hướng sửa chữa kiểu lỗi này. Thứ nhất là tạo thêm yếu tố tạo tiền đề. Thứ hai là điều chỉnh phương tiện thế hay chuyển sang phương tiện lặp từ vựng tùy vào mối quan hệ về nội dung giữa các câu.
Các ví dụ (a) và (c) có thể được sửa chữa theo cách vừa nêu : (a) Trong tác phẩm Chí Phèo, Nam Cao đã xây dựng thành công hình tượng Chí Phèo, một nạn nhân khốn khổ của chế độ thực dân nửa phong kiến. Chí Phèo không những bị bóc lột về mặt vật chất, mà còn bị đè nén, áp bức về mặt tinh thần, trở thành một tên lưu manh mất hết tính người. Ðến khi Chí Phèo thức tỉnh, khao khát được trở lại làm người lương thiện, thì Chí nhận ra rằng, mình không thể nào thực hiện được cái ước muốn hết sức bình thường, chính đáng ấy. (c) Trong thời kì kháng chiến chống Pháp, nhiều nhà văn, nhà thơ đã viết về tình cảm quê hương đất nước, tình đồng chí, đồng bào, hay viết về những kỉ niệm của đời lính... Trong số những nhà văn, nhà thơ ấy, Quang Dũng là một cây bút tiêu biểu. Ông đã sáng tác bài thơ Tây Tiến, ghi lại những kỉ niệm và những tình cảm sâu sắc của ông về đoàn quân Tây Tiến.
Ðối với kiểu lỗi sử dụng sai phương tiện nối :
Có hai cách sửa chữa kiểu lỗi này, tùy vào mối quan hệ về nội dung nghĩa giữa hai câu. Cách thứ nhất là loại bỏ phương tiện nối, nếu xét thấy không cần thiết. Cách thứ hai là thay thế phương tiện nối phản ánh sai quan hệ bằng phương tiện nối khác, phù hợp hơn.
Hai cách sửa chữa vừa nêu có thể áp dụng đối với hai ví dụ (b) và (e) : (b) Hình ảnh quân xanh màu lá cho thấy người lính Tây Tiến phải chịu nhiều thiếu thốn, gian khổ về vật chất, da xanh xao như màu lá. Nhưng họ không hề yếu đuối về mặt ý chí, tinh thần, mà trái lại, vẫn dữ oai hùm. Hơn thế nữa, họ còn biết mộng mơ lãng mạn, mơ về Hà Nội với dáng kiều thơm. (e) Nói về thơ ca Việt Nam giai đoạn trước Cách mạng tháng Tám, ai cũng biết đến Xuân Diệu. Thơ ông trong thời kì này thể hiện hai tâm trạng trái ngược nhau. Một mặt, ông rất yêu đời, thiết tha với cuộc sống ; nhưng mặt khác, ông lại cảm thấy bi quan, hoài nghi, cô đơn.
Ðối với kiểu lỗi sai phương tiện lặp từ vựng :
Tùy vào biểu hiện sai cụ thể, chúng ta có thể điều chỉnh yếu tố tạo tiền đề hay điều chỉnh yếu tố liên kết, sao cho các phương tiện liên kết đồng nhất với nhau về nội dung biểu đạt. Cũng có thể sửa chữa bằng cách chuyển phương tiện lặp từ vựng thành phương tiện thế đồng nghĩa.
Hai ví dụ (d) và (f) có thể được sửa chữa theo hai cách vừa nêu : (d) Xuân Diệu là một nhà thơ lớn trong nền văn học hiện đại Việt Nam. Trong giai đoạn sáng tác trước năm 1945, ông làm thơ là chính. Thơ ông trong giai đoạn này thể hiện hai tâm trạng trái ngược nhau : yêu đời, thiết tha với cuộc sống, nhưng lại bi quan, hoài nghi, cô đơn. (f) Chủ nghĩa lãng mạn bảo thủ và lãng mạn ở Tây Âu chính là tiếng nói của giai cấp quý tộc phong kiến đã suy tàn, là thái độ thứ nhất chống lại cuộc Cách mạng Pháp và phong trào Khai sáng gắn liền với cuộc cách mạng đó. Những nhà văn thuộc khuynh hướng sáng tác này / khuynh hướng lãng mạn này không những chủ trương lí thuyết duy tâm, phản động về mặt nghệ thuật, mà còn trực tiếp tham gia những phong trào chính trị chống lại Cách mạng Pháp...
Ðối với kiểu lỗi sai phương tiện thế đồng nghĩa :
Tùy biểu hiện sai cụ thể, chúng ta điều chỉnh yếu tố tạo tiền đề hay điều chỉnh yếu tố liên kết sao cho chúng hoàn toàn đồng nhất với nhau về nội dung biểu đạt. Cũng có thể sửa chữa bằng cách chuyển phương tiện thế đồng nghĩa thành phương tiện lặp từ vựng.
Có thể sửa chữa ví dụ (g) theo hai cách nêu trên : Càng về sau, con đường xuống dốc của khách chinh phu thật thảm hại. Tuy nhiên, lúc mới xuất hiện trong thơ Thế Lữ, con người đó đã hấp dẫn khá đông thanh niên trong một thời lịch sử.
Hay : Càng về sau, con đường xuống dốc của khách chinh phu thật thảm hại. Tuy nhiên, lúc mới xuất hiện trong thơ Thế Lữ, khách chinh phu đã hấp dẫn khá đông thanh niên trong một thời lịch sử