THÔNG BÁO

  THỜI GIAN GẦN ĐÂY MỘT SỐ BẠN LỢI DỤNG  WEBSITE NÀY ĐỂ ĐƯA RA NHỮNG PHÁT NGÔN KHÔNG TỐT. CHO NÊN CHÚNG TÔI TẠM THỜI ĐÓNG WEBSITE LẠI ĐỂ NÂNG CẤP NHẰM HẠN CHẾ MỘT SỐ HÀNH VI KHÔNG TỐT LÀM ẢNH HƯỞNG ĐẾN DIỄN ĐÀN .CÁC BẠN CÓ THẮC MẮC XIN LIÊN HỆ : phanthanhhung90@gmail.com
VI.Các ḍng văn học:
1. Văn học yêu nước và cách mạng :
1.1- Lực lượng sáng tác :
Lực lượng sáng tác chủ yếu của ḍng văn học yêu nước và cách mạng giai đoạn 1900 - 1930 là các nhà Nho. Nhưng đây là những nhà nho có tư tưởng tiến bộ. Họ là những người trực tiếp hoặc gián tiếp tham gia vào các phong trào cách mạng lúc bấy giờ. Họ cũng từng là những "chí đồ đệ" của Khổng Tử nhưng lập trường tư tưởng của họ khác với lớp nhà nho trước kia. Họ đă được tiếp nhận các luồng tư tưởng tiến bộ từ nước ngoài truyền vào, thông qua sách báo, mà tiêu biểu là tân thư và tân văn. Họ quan niệm văn chương cũng là một loại vũ khí đánh giặc cứu nước, cho nên họ đă sáng tác văn chương để phục vụ cho hoạt động chính trị. Đó là những người như Phan Bội Châu, Nguyễn Thượng Hiền, Nguyễn Quyền,..... Quần chúng lao động cũng là những người sáng tác tích cực của bộ phận văn học yêu nước và cách mạng ở giai đoạn này. Ngoài ra c̣n có một lực lượng không nhỏ những tác giả mà chúng ta chưa được biết tên tuổi. Tác phẩm của họ có nội dung thể hiện tinh thần yêu nước thiết tha, ư chí đấu tranh chống giặc đến cùng, V́ muốn tránh sự theo dơi của mật thám, họ thường dấu tên họ và bí mật phổ biến tác phẩm của ḿnh. 1.2- Những bước thăng trầm của văn học yêu nước và cách mạng giai đoạn 1900 - 1930 :
- Từ năm 1905 đến 1908, thơ văn yêu nước và cách mạng theo xu hướng dân chủ tư sản phát triển cao. Có văn thơ của phong trào Đông Du, có văn thơ của Đông Kinh nghĩa thục, văn thơ chống thuế ở Trung Kỳ. Người sáng tác bao gồm cả sĩ phu và quần chúng lao động. Văn thơ Đông Du chủ yếu từ nước ngoài gửi về nên có điều kiện nói mạnh, nói trực tiếp những vấn đề muốn nói, nh́n chung thể hiện tinh thần lao động chống Pháp. Hai cây bút trụ cột của văn thơ Đông Du là Phan Bội Châu và Nguyễn Thượng Hiền. Văn thơ của phong trào Duy Tân, tiêu biểu là Đông kinh nghĩa thục thiên vào nội dung cải cách xă hội, thể hiện tinh thần yêu nước, nêu lên các quan niệm mới mẻ về đất nước, xă hội, nhân sinh... Đóng góp nhiều cho văn thơ của phong trào Duy Tân phải kể đến Phan Chu Trinh, Nguyễn Phan Lăng, Lê Đại, Huỳnh Thúc Kháng, Ngô Đức Kế... Bên cạnh đó c̣n có một số tác giả không cho biết tên, như tác giả của các bài "Văn minh tân đọc sách", "Cáo hủ lậu văn", Bài ca Aï tế á"...... Văn thơ của phong trào chống thuế ở Trung Kỳ phần lớn không rơ tên tác giả và dần dần nó đă ḥa nhập vào kho tàng văn học dân gian. Số văn thơ này như: Ca dao chống áp bức bóc lột, Bài vè sưu thuế lạm thu, Vè thuế nặng, Bài hát xin xâu.v.v...
Đặc điểm nổi bật của bộ phận thơ văn chống thuế ở Trung Kỳ là phản ánh một cách sâu sắc nỗi khổ của nhân dân. Nh́n chung, trong khoảng thời gian này số người tham gia sáng tác thơ văn yêu nước rất đông, lượng tác phẩm ra đời cũng rất nhiều. Hơn nữa, vấn đề lưu truyền phổ biến cũng khá rầm rộ. Người ta làm đủ mọi cách để các tác phẩm đến được với độc giả. Người ta dịch ra quốc âm, chép tay rồi chuyền cho nhau hoặc c̣n đưa vào chương tŕnh giảng dạy ở trường Đông Kinh nghĩa thục.v.v... Với nội dung yêu nước tiến bộ, hừng hực tinh thần cách mạng, ư chí quyết tâm đánh giặc, thơ văn yêu nước ra đời trong giai đoạn này đă tạo ra những ảnh hưởng lớn, có lợi cho phong trào cách mạng.
- Từ năm 1908 đến năm 1912, văn thơ yêu nước và cách mạng rơi vào t́nh trạng bế tắc. Cuối năm 1908, cách mạng bị khủng bố, chính lúc đó thơ văn yêu nước cũng bắt đầu lâm vào t́nh thế khó khăn. Số lượng tác phẩm ra đời rất ít, chất lượng cũng giảm sút rơ rệt. Các nhà nho tham gia phong trào Đông Du, trong cơn thất vọng nhất thời, không c̣n cảm hứng để sáng tác. Phan Bội Châu phải chạy trốn sang Thái Lan, nghiên mực tàu của ông dường như khô cạn. Các sĩ phu thuộc nhóm Đông kinh nghĩa thục th́ phần lớn bị bắt, bị đày ra Côn Đảo. Lúc đầu thơ văn yêu nước theo các chí sĩ vào nhà tù cũng được phát triển khá cao, nhưng dần dần về sau cũng giảm sút cả về số lượng lẫn chất lượng.
- Năm 1912, Việt Nam quang phục hội ra đời, khí thế cách mạng có chiều hướng bùng lên sau những ngày tạm lắng. Một số thơ văn hiệu triệu cách mạng lại xuất hiện. Văn học yêu nước và cách mạng ra đời trong thời điểm này, tiếp tục thể hiện những nội dung cũ, nhưng đă bắt đầu mang âm điệu khác trước, tính chất cổ động, khích lệ đấu tranh có phần giảm sút, để rồi sau đó bộ phận văn học này trở về với t́nh trạng lơ thơ, khí thế sôi nổi, hừng hực tinh thần cách mạng mất dần. Nh́n chung thơ văn cách mạng từ sau khủng bố của giặc Pháp, năm 1909 vẫn tồn tại, nhưng chất lượng và số lượng không bằng những năm trước đây. Trong khi đó văn thơ châm biếm thời thế, đả kích bọn quan lại, tay sai, thổ lộ chút ḷng thương nước, thương dân, khóc những nhà cách mạng hy sinh trong các cuộc khủng bố của quân thù.... của những cây bút không tham gia cách mạng nhưng ít nhiều có tinh thần dân tộc vẫn tiếp tục ra đời, mặc dù không có những bài thật xuất sắc. Tuy nhiên, số tác phẩm nói trên chưa sưu tầm được đầy đủ, nói chung là chưa thể khôi phục lại đầy đủ bộ mặt văn học của quần chúng yêu nước hồi này. Nhưng có thể khẳng định ở chặng này cũng như các chặng khác, ḍng văn học dân gian tố cáo sự bóc lột của kẻ thù, phơi bày tội ác của quần chúng vẫn không vơi cạn.
- Sau đại chiến thế giới lần thứ nhất, phong trào ái quốc dân chủ lại sôi nổi trong cả nước nhưng chỉ giới hạn ở các đô thị. Văn thơ yêu nước lại phát triển cùng với phong trào cách mạng mang tính chất đ̣i tự do dân chủ theo xu hướng tư sản. Văn thơ cách mạng bấy giờ trở lại thời kỳ sôi nổi, rầm rộ, có thơ văn trong nước và cả thơ văn từ nước ngoài đưa về, có thơ văn phổ biến bí mật và cả thơ văn phổ biến công khai. Văn thơ công khai phần lớn xuất hiện trong phong trào ái quốc dân chủ 1925 - 1926, xoay quanh các sự kiện chính, đ̣i thả Phan Bội Châu, để tang Phan Chu Trinh, học sinh băi khóa, cùng với việc Khải Định đi Pháp và việc hắn làm lễ tứ tuần đại khánh. Ngoài ra, trên văn đàn công khai, Ngô Đức Kế và Huỳnh Thúc Kháng c̣n đả kích quyết liệt bọn bồi bút của Pháp. Mặc dù văn học cách mạng ở giai đoạn này có chiều hướng khởi sắc, phát triển về số lượng và chất lượng, mang nhiều sắc thái mới nhưng vẫn không sao sánh bằng giai đoạn 1905 - 1908.
- Những năm cuối của thập niên thứ ba, văn học yêu nước và cách mạng theo xu hướng cách mạng tư sản dần dần xuống dốc. Trước khi mất hẳn, nó cũng góp phần sưởi ấm cho những tâm hồn buốt lạnh và là tiếng nói của dân tộc trong những ngày chờ đón luồng tư tưởng mới nhất của thời đại, tư tưởng cách mạng vô sản. Cũng trong thời gian này, mầm mống của văn học cách mạng theo xu hướng vô sản đă được nảy nở. Đặc điểm của văn học này là c̣n ít tính chất văn nghệ, nhiều tính chất chính trị nhưng nội dung đă tiến bộ hơn hẳn ḍng văn học tư sản cùng giai đoạn.
1.3- Nội dung của văn học yêu nước và cách mạng :
* Thể hiện tư tưởng yêu nước tiến bộ:
Văn học yêu nước và cách mạng đă nêu lên quan niệm mới về đất nước, về yêu nước. Các nhà nho yêu nước và cả nhân dân ta sống trong điều kiện ư thức hệ phong kiến thống trị không thể nào quan niệm có nước lại không có vua. Nước là của vua, yêu nước tất phải yêu vua, yêu vua là yêu nước. Vấn đề là cần có vua sáng để có tôi hiền. Sang đến đầu thế kỷ XX, chế độ thực dân nửa phong kiến đă ra đời và thay thế chế độ phong kiến, trạng thái ư thức của xă hội cũng chuyển biến theo. Sự có mặt của ư thức hệ tư sản là một nhân tố mới có vai tṛ quan trọng trong đời sống tinh thần của xă hội. Quan niệm của các tác giả văn thơ cách mạng về quốc gia đă khác trước. Nước không c̣n là của vua, vua và nước không c̣n là một. Có thể có nước mà không có vua. Yêu nước không nhất thiết phải yêu vua. "Trung quân ái quốc" hai cái tách rời nhau. Chủ nghĩa tôn quân đang dần dần bị loại trừ và như thế, nói đến nước sẽ là nói đến non sông, ṇi giống, nói đến dân tộc, đồng bào. Trước kia, nghĩa quân thần, đạo thần tử có thể là động lực kích thích tinh thần đấu tranh: Kiến nghĩa ninh cam bất dũng vi Toàn bằng trung hiếu tác nam nhi bắt đầu trở thành vô nghĩa. Văn thơ yêu nước đi t́m sức mạnh từ nhiều nguồn. Từ những truyền thuyết thần thoại đề cao ṇi giống, từ ḷng tha thiết với vẻ đẹp của non sông gấm vóc, từ thái độ trân trọng cái địa vị của đất nước, cơ nghiệp của cha ông đă nhiều thế hệ nối tiếp nhau xây dựng, đặc biệt là niềm tự hào về truyền thống anh hùng chống giặc ngoại xâm. Nọ thưở trước đánh tàu mấy lớp Cơi trời Nam cơ nghiệp mở mang Sông Đằng lớp sóng Trần vương Núi Lam rẽ khói mở đường nhà Lê Quang Trung đế từ khi độc lập Khí anh hùng đầy lấp giang san Tự hào về đất nước các tác giả không c̣n ca ngợi các bậc thánh đế anh hùng xuất chúng, mà họ đă đi đến khẳng định vai tṛ của nhân dân, của "ức triệu anh hùng vô danh." Nh́n chung, văn thơ yêu nước đă khẳng định một vấn đề rất mới mẻ: Đất nước là của dân, yêu nước là phải yêu dân. "Nước Việt Nam là của gia tài, Cả quyền lợi với đất đai Của dân nào phải riêng ai một nhà." (Lời tuyên cáo của Việt Nam quang phục hội- Hoàng Trọng Mậu).
Hoặc : Nước có mạnh th́ dân mới mạnh Dân có khôn th́ nước mới khôn ( Kinh đạo nam _ khuyết danh ) Trong thơ văn yêu nước ở đầu thế kỷ XX, vấn đề yêu nước c̣n được gắn liền với vấn đề cách mạng. Chống giặc ngoại xâm, giải phóng đất nước đó là chuyện chung của nhiều thời đại có ngoại xâm. Nhưng chống giặc để rồi không trở lại chế độ phong kiến mà tiến lên xây dựng chế độ dân chủ tư sản là một đổi mới trong lịch sử của dân tộc. Đó cũng là nội dung chủ yếu của văn thơ cách mạng giai đoạn 1900 - 1930.
Điều này đă được khẳng định trong "Lời tuyên cáo của Việt Nam quang phục hội": Muốn cho ích nước lợi nhà Muốn cho ích nước lợi nhà (Hoàng Trọng Mậu) nhưng chuẩn bị cho nó th́ đă từ văn thơ của phong trào Duy Tân, Đông Kinh Nghĩa Thục và phần nào cả văn thơ Đông Du.... Ở đây song song với nội dung kêu gọi chống Pháp, c̣n có nội dung cải cách xă hội nhằm làm cho nước giàu dân mạnh. Hai nhiệm vụ đó quan hệ mật thiết với nhau, hỗ trợ cho nhau. Yêu nước bấy giờ được biểu hiện bằng hành động cụ thể là tham gia đánh giặc cứu nước và tiến hành cải cách xă hội. Vào đầu thế kỷ XX ,vấn đề căi cách xă hội được đặt ra với mục đích làm cho dân giàu nước mạnh , được thực hiện song song với nhiệm vụ đánh Pháp Trong thơ văn yêu nước, đầu thế kỷ XX, yêu nước và vấn đề dân chủ gắn liền nhau. Xuất phát từ quan niệm mới về đất nước, yêu nước các tác giả đă đi đến khẳng định quyền làm chủ của người dân trong xă hội, đồng thời cũng khẳng định vai tṛ của người dân trong sự nghiệp cứu nước. Mục đích cứu nước lúc bấy giờ là v́ dân chứ không phải v́ vua. Phan Bội Châu đề cao địa vị của người dân trong công cuộc xây dựng nước nhà : Ngh́n muôn ức triệu người chung góp Xây dựng nên cơ nghiệp nước nhà. Người dân ta của dân ta, Dân là dân nứơc , nước là nước dân Và khẳng định : Sông xứ Bắc ,bể phương Đông Nếu không dân cũng là không có ǵ Người dân đứng lên chống giặc ngoại xâm, bảo vệ đất nước là thực hiện bổn phận đồng thời thể hiện tinh thần làm chủ của ḿnh. Thơ văn yêu nước thường nhắc đến các khái niệm "đồng bào, đồng quốc" xác lập nên một chữ "nghĩa" - nghĩa đồng bào khác hẳn với chữ "nghĩa" trong văn học trung đại.
* Thời sự chính trị trong văn chương đầu thế kỷ XX.
Xă hội Việt Nam vào những năm cuối thế kỷ XIX là một bầu trời đen kịt. Chính quyền phong kiến đương thời có thể làm ngơ, ngồi yên trên ngai vàng để hưởng thụ, nhưng nhân dân Việt Nam những người yêu nước Việt Nam th́ không thể nào nhắm mắt, khoanh tay. Ngọn cờ Cần vương vừa ngă xuống, thanh niên lại xông xáo đi t́m một hướng cứu nước mới. Phong trào yêu nước Duy Tân và cách mạng như một tia sáng bừng lên vào đầu thế kỷ XX. Tia sáng ấy dù mong manh, yếu ớt và sớm tắt đi nhưng cũng đủ xoa dịu những khó khăn, căng thẳng, đợi chờ của đồng bào Việt Nam sau nhiều năm dài chống giặc liên tiếp thất bại. Văn chương yêu nước và cách mạng đầu thế kỷ đă phản ánh kịp thời và phát ngôn cho các phong trào cách mạng lúc bấy giờ. Đó là phong trào yêu nước dưới sự lănh đạo của các sĩ phu cấp tiến đi theo con đường cách mạng dân chủ tư sản. Như những thước phim thời sự hấp dẫn, sinh động, văn chương yêu nước đầu thế kỷ XX đă ghi nhận kịp thời các diễn biến và tái hiện trọn vẹn gương mặt của xă hội Việt Nam vào những năm đầu thế kỷ XX. Sau khi kết thúc công cuộc b́nh định ở cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, Pháp đă bắt tay ngay vào việc khai thác thuộc địa tại Việt Nam. Một chế độ cai trị và bóc lột hà khắc đă diễn ra. Người dân Việt Nam mất hết chủ quyền. Mọi thứ đều do người Pháp cai quản, giai cấp thống trị phong kiến đương thời chỉ giữ nổi vai tṛ bù nh́n mà thôi. Để thực hiện chủ trương vơ vét, bóc lột ở các thuộc địa, thực dân Pháp đă thi hành chính sách thuế khóa rất nặng nề, hàng trăm thứ thuế cay nghiệt đă được áp dụng. Nó như những sợi dây tḥng lọng vô h́nh xiết chặt lấy người dân Việt Nam vô tội. (Hải ngoại huyết thư- Phan Bội Châu).
Thực dân Pháp c̣n t́m cách đẩy những người dân vô tội vào nơi ma thiêng nước độc để đào sông, đào mỏ, làm đường. Thân phận của người đi phu không khác ǵ anh tù khổ sai: "Ông Tây áp trước Cậu lính áp sau." do bị vắt kiệt sức lao động, sống trong màn trời chiếu đất, "ăn cơm với muối, uống nước chè trâm." Điều đáng sợ, làm cho con người kinh hăi là chính sách ngu dân bằng con đường "khai hóa" của thực dân. Song song với những lời lẽ mỵ dân thâm độc là hàng loạt chủ trương nham hiểm, xảo quyệt được thực hiện. Một mặt chúng tỏ ra như muốn bảo vệ những giá trị văn hóa của dân tộc, nhưng mặt khác chúng lại ra sức xây dựng một nền giáo dục mới. Nội dung của chương tŕnh học mới tất nhiên là nhằm mục đích đào tạo những phần tử tay sai trung thành, phục vụ cho chế độ bảo hộ. Ngoài ra các cơ quan báo chí do Pháp thành lập lần lượt ra đời ở cả ba kỳ Nam, Trung, Bắc. Báo chí là cơ quan tuyên truyền của thực dân, nơi phổ biến đường lối, chính sách cai trị của chúng. Tất cả những việc làm của thực dân đă biến Việt Nam từ một quốc gia phong kiến tự chủ trở thành một thuộc địa của chủ nghĩa tư bản. Đó là tấn bi kịch của dân tộc Việt Nam khi bước vào thế kỷ XX.
Thế kỷ XX được mở đầu bằng trang sử đau thương mà rất hào hùng. Cao trào cách mạng đầu thế kỷ XX như một làn gió mạnh thổi khắp ba miền của đất nước. Các nhà nho ta trước kia chỉ biết nghiên cứu sách vở thánh hiền, "Chăm chăm theo lối học Tàu", không biết ǵ xa hơn ngoài văn minh Á Đông, tiêu biểu là Trung Quốc. Ngày nay, qua Tân thư, Tân văn, tầm nh́n của các cụ mở rộng ra tận năm châu bốn biển. Các cụ được biết đến khoa học kỹ thuật hiện đại. Các cụ đă thấy được một điều rất quan trọng: Cứu nước không chỉ là đánh đuổi giặc ngoại xâm mà c̣n là đánh đuổi nghèo nàn và lạc hậu, là xây dựng một xă hội cường thịnh bắt kịp đà tiến triển của văn minh Âu Mỹ. Cũng chính v́ vậy mà nếu như phong trào yêu nước ở cuối thế kỷ XIX kết hợp với tinh thần bài ngoại th́ tư tưởng Duy Tân ở giai đoạn đầu thế kỷ XX lại đi đôi với tinh thần vọng ngoại. Chủ nghĩa yêu nước thời này thắm đượm màu sắc duy tân. Tinh thần dân tộc được đi đôi với ư thức cách mạng. Duy tân và cách mạng là tinh thần của thời đại, và duy tân và cách mạng cũng là xu thế hiện đại của tư tưởng và văn hóa dân tộc. Thực tế đă được phản ánh trong văn chương giai đoạn này. Đó là một không khí cách mạng đầy hào hứng. "Đội tiên phong đâu tá, gió duy tân từ Đông hải thổi vào Gương ngoại quốc kia là, sóng cách mạng bởi Âu châu dồn tới." ("Văn tế Phan Chu Trinh" - Phan Bội Châu)
Nh́n chung, thơ văn yêu nước giai đoạn đầu thế kỷ XX nổi bật nội dung khai sáng dân tộc đúng như nhận định của ông Trần Thanh Đạm: "Có người gọi rất đúng rằng văn học đầu thế kỷ XX có tính chất của một phong trào ánh sáng như ở Âu châu vào thế kỷ XVIII". (Chuyên đề "Sự chuyển biến của văn học Việt Nam sang thời kỳ hiện đại" trang 37). Có thể khẳng định rằng thời sự là một đặc điểm của văn chương yêu nước và cách mạng giai đoạn này. Khi làn sóng cách mạng trong nước lên cao, thơ văn yêu nước được sống trong không khí chính trị sôi nổi, quyết liệt cho nên không ngừng phát triển về số lượng lẫn chất lượng. Các sáng tác đó đă dơi theo hoạt động của các tổ chức yêu nước, cùng với Đông Kinh nghĩa thục, Đông Du, đến với mọi người qua những buổi diễn thuyết, b́nh văn hay hiện diện ngay trong bài học của các học sinh ở những trường học do các nhóm này tổ chức. Khi các tổ chức cách mạng lần lượt bị thất bại, những người tham gia bị cầm tù. Văn thơ yêu nước theo bước chân của người tù chính trị đi vào nhà giam. Văn thơ trong tù có thời điểm đă được phát triển về số lượng và chất lượng, nhưng rất tiếc là đến nay số lượng đó c̣n lại rất ít, chủ yếu là văn vần.
Thơ văn trong tù đă góp phần không nhỏ cùng với thơ văn yêu nước và cách mạng ở giai đoạn này làm tái hiện lại lịch sử chính trị xă hội Việt Nam vào những năm đầu thế kỷ XX. Đó là lịch sử của những phong trào chống Pháp theo ngọn cờ cách mạng dân chủ tư sản, có lúc sôi nổi quyết liệt nhưng cũng có hồi mất mát hy sinh, mặc dù đau thương vẫn hào hùng bất khuất. Bức tranh thời sự đầu thế kỷ XX được các tác giả chấm phá bằng những nét sinh động, chân thực thể hiện được cái đa dạng của cuộc sống, cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc đầy gian khổ đau thương mà rất hào hùng. Các thi sĩ, văn gia thời này đâu chỉ nhằm tái hiện lịch sử. Họ c̣n dùng ng̣i bút để tuyên truyền vận động cứu nước, để giác ngộ "xă hội đang c̣n mê mẩn, đánh thức cả một làng nho c̣n ch́m đắm trong ṿng danh lợi." * Văn học yêu nước và cách mạng là lời tuyên truyền vận động cứu nước. Sống trong hoàn cảnh nước mất nhà tan, dân khổ nhục, nhà nho luôn có ư thức về trách nhiệm và rất mong muốn t́m ra con đường cứu nước và làm cho đất nước giàu mạnh, sánh kịp các nước châu Âu. Nhưng họ chỉ có trong tay một thứ vũ khí là văn chương, họ muốn biến nó thành công cụ vạn năng "vừa là trống vừa là chiêng thức tỉnh người mê ngủ, vừa là gươm là súng đánh đổ cường quyền." (Thơ văn yêu nước và cách mạng đầu thế kỷ XX -Đặng Thai Mai, trang 20). Trong thời điểm này các nhà nho nhận thấy văn chương chân chính có một khả năng to lớn, một chức năng quan trọng: Tuyên truyền, giác ngộ quần chúng, tập hợp lực lượng để chống giặc cứu nước. Tuyên truyền những ǵ? Tuyên truyền cho ai? Tuyên truyền như thế nào? Đây là vấn đề cần bàn đến: Các nhà chí sĩ ái quốc thời này hướng đến lực lượng nhà nho là trước hết. V́ nhà nho là tiêu biểu cho tinh thần, văn hóa của dân tộc. Bởi nhà nho có nhiều mối thù sâu nặng với thực dân. Nhưng chủ trương khai dân trí, đoàn kết dân tộc khiến những người làm cách mạng lúc bấy giờ cần phải đưa tư tưởng mới đến đông đảo quần chúng. Nhưng xét cho cùng th́ tầng lớp trí thức phong kiến vẫn được xem là đối tượng chủ yếu. Không riêng ǵ Phan Bội Châu mà nhiều nhà cách mạng đương thời cũng đặt niềm tin và trách nhiệm lên đôi vai của nho sĩ. Điều này phản ánh đặc trưng của thời đại. Quần chúng nhân dân đă được chú ư nhưng cái nh́n toàn diện về họ, vị trí và vai tṛ của họ trong cuộc đấu tranh này c̣n bị nhiều hạn chế.
Khi đặt chân lên đất nước Việt Nam, thực dân Pháp không chỉ nhằm khai thác những tiềm lực về kinh tế mà c̣n ôm ấp ư đồ thống trị về mặt tinh thần nhân dân ta. Chúng muốn biến dân tộc Việt Nam trở thành nô lệ cho chúng. Sống trong chế độ chính trị và giáo dục của thực dân, người Việt Nam sẽ dễ dàng trở thành những kẻ ích kỷ, đê hèn, tự ti, mất gốc, không biết ǵ đến Tổ quốc, dân tộc. Nhân dân Việt Nam đang say sưa trong giấc ngủ của đêm trường nô lệ. Nhiều người quên dần cái nhục mất nước, cứ ngỡ rằng việc khai hóa của thực dân là sự thật, là hảo ư của Pháp đối với Việt Nam. Nỗi đau mất nước đă lắng dần theo năm tháng, người ta lại c̣n cảm thấy dường như sự hiện diện của Pháp lại có lợi cho người Việt Nam, Pháp mang đến cho nhân dân Việt Nam bao nhiêu là tiện nghi vật chất mà họ chưa từng có được. Người Việt Nam đă thích nghi dần và bằng ḷng với cuộc sống hiện tại. Phải đánh thức đồng bào, "gọi hồn" dân tộc trở về, phải giáo dục tư tưởng mới cho nhân dân: Yêu nước giành độc lập và cải cách xă hội. Văn học yêu nước và cách mạng đă tích cực giác ngộ xă hội, đánh thức cả dân tộc c̣n mê mẩn. Loại văn thơ gọi hồn trở thành công cụ trong giai đoạn này. (Kêu hồn nước - Nguyễn Quyền, Tỉnh hồn ca - Phan Chu Trinh). Văn chương c̣n góp phần vào việc bồi dưỡng t́nh cảm cho con người, đánh đổ tinh thần tự ti, xây dựng t́nh cảm mới, nhắc nhở rằng nhục nô lệ chỉ có thể rửa sạch và được rửa sạch bằng tinh thần đấu tranh của toàn thể đồng bào. Phan Bội Châu đă cho rằng một trong những nguyên nhân dẫn đến t́nh trạng mất nước là do nhân dân ta xung khắc, bất ḥa đă ngờ nhau chẳng biết tin nhau, coi nhau như thể quân thù́ mà "bụng có hợp th́ nhà mới hợp" c̣n "ḷng đă tan th́ nước cũng tan." Tiếp nối truyền thống văn học của các giai đoạn trước, văn học hướng tới sự phát triển vào con người cố gắng vươn lên khẳng định những giá trị chân chính của con người, đặt ra vấn đề quyền sống con người, trong đó có người phụ nữ. Đến giai đoạn này văn học đă phát triển thêm một bước: Nêu lên yêu cầu đấu tranh giải phóng phụ nữ và xem nó như một bộ phận của cách mạng dân tộc. Thanh niên cũng trở thành đối tượng được quan tâm nhiều.
Các nhà nho đă thấy rơ vai tṛ, khả năng của họ cho nên rất chú ư giáo dục đối tượng này. Trong Bài ca chúc Tết thanh niên" Phan Bội Châu đă vạch kỹ con đường đi tới cho thanh niên, kêu gọi họ phải tỉnh táo và sáng suốt trong việc chọn cho ḿnh một lư tưởng sống. Phải biết: "Đi cho êm, đứng cho vững, trụ cho gan" để làm nên việc lớn. Tác giả của văn chương yêu nước giai đoạn đầu thế kỷ XX phần lớn là những nho sĩ cấp tiến. Tầm nh́n của họ được mở rộng, họ biết đến nhiều nước trên thế giới. Họ đă nhận ra ánh sáng của văn minh hiện đại. Đứng trước sự phát triển vượt bậc về khoa học kinh tế của các nước, nh́n lại xă hội Việt Nam c̣n quá nghèo nàn, lạc hậu, họ vừa kinh ngạc vừa lo sợ. V́ vậy khi tuyên truyền cứu nước tác giả này cũng đi từ chỗ ca ngợi nước người, chỉ ra cái yếu kém của nước ḿnh để khêu gợi ḷng tự ái, tự trọng của mọi người. Người Việt Nam phải biết nhục với t́nh cảnh mất nước, phải đau đớn, phải căm hờn, phải lo lắng, hoảng hốt trước nguy cơ diệt chủng... Nh́n chung, văn chương cổ động thời này chú trọng nhiều đến việc kích thích t́nh cảm. Văn chương tuyên truyền ở giai đoạn đầu thế kỷ XX cũng nhắc nhở truyền thống nhưng chú ư đến hiện tại nhiều hơn. Các tác giả lấy hiện thực trước mắt để làm cơ sở thuyết phục, vận động cứu nước. Đó là hiện thực của xă hội thiếu dân chủ, của nền kinh tế lạc hậu thấp kém, của một hoàn cảnh chính trị rối ren, của cuộc sống khổ nhục, lầm than v́ ách thống trị hà khắc do thực dân Pháp gây ra. Chính v́ vậy mà tác dụng tuyên truyền rất cao đă khiến cho kẻ thù thấy đó là mối đe dọa nghiêm trọng đối với sự thống trị của chúng. Cho nên chúng đă t́m mọi cách để ngăn chặn. Ông Đặng Thai Mai có nhận xét: "Ư chí căm thù của của nhân dân là kho thuốc nổ, văn chương đầy nhiệt t́nh của các nhà chiến sĩ là mồi lửa làm cho kho thuốc nổ ấy bốc cháy." (Văn thơ cách mạng Việt Nam đầu thế kỷ XX, trang 100).
Sau biến cố năm 1908, phong trào cách mạng bị lắng xuống do sự đàn áp quá dă man của kẻ thù. Tổ chức cách mạng không c̣n cơ sở trong nội địa, vậy mà văn thơ tuyên truyền vẫn tiếp tục ra đời để triển khai những chủ trương lớn của hội duy tân ngày trước. Các sáng tác này do những ngựi yêu nước c̣n lại đang lẫn trốn hoặc chạy ra nước ngoài t́m cách hoạt động và sáng tác. Nội dung không có ǵ thay đổi, có khác là ở chỗ khẳng định dứt khoát cái chính thể mà cuộc cách mạng ái quốc sẽ thành lập cho nước Việt Nam là chế độ dân chủ cộng ḥa theo quốc dân Đảng Trung Quốc; xác nhận quyền làm chủ của nhân dân. Chính chỗ này đă làm cho tư tưởng của nó có tác dụng rơ rệt đối với độc giả hiện đại. Phong trào cách mạng dân tộc dân chủ tư sản không giành được thắng lợi hoàn toàn nhưng thơ văn cổ xúy cho phong trào ấy cũng kèo dài thời gian tồn tại và phát triển đến khoảng hai mươi năm. Nó đă đóng góp không nhỏ cho hoạt động chính trị cứu nước thời bấy giờ. 1.4. Vấn đề cách tân nghệ thuật trong văn học yêu nước và cách mạng.
Lực lượng sáng tác văn chương đầu thế kỷ XX chủ yếu là các nhà nho, nhà khoa bảng. Đối với họ chữ Hán, chữ Nôm là phương tiện thông dụng nhất và quen thuộc đến thành nề nếp. Nhà Nho "cũng chỉ quen với văn, thơ, phú, lục... thứ văn học cao quí viết bằng thứ ngôn ngữ khó hiểu, rất khó nói chuyện thực tế, khó đi vào quần chúng đông đảo." (Văn học yêu nước và cách mạng - Đặng Thai Mai, trang 122). Trước yêu cầu mới của xă hội, người sáng tác phải đưa tác phẩm của ḿnh đến với phong trào cách mạng, dùng văn chương để tuyên truyền giáo dục tư tưởng mới cho quần chúng. T́nh h́nh mới lại có nhiều phức tạp: giữa lực lượng nhà nho và nhân dân chưa có sự thống nhất với nhau về h́nh thức nghệ thuật, ngôn ngữ văn học... vẫn c̣n tồn tại hai dạng công chúng khác nhau. Làm sao để tất cả nội dung cần tuyên truyền đều đến với mọi tầng lớp nhân dân? Đạt được điều này phải giải quyết nhiều vấn đề quan trọng và cấp thiết: Cải cách văn tự, cải cách ngôn ngữ, nghệ thuật của văn chương, việc vận dụng chữ quốc ngữ trong sáng tác văn chương giúp cho quần chúng dễ dàng đến với các tác phẩm văn chương nghệ thuật lúc bấy giờ. Để đạt được hiệu quả tuyên truyền, các tác giả thời này vận dụng đủ mọi thể loại sáng tác. Các thể loại truyền thống như: Thơ (lục bát, song thất lục bát) ca trù, hát dặm... lẫn các h́nh thức mới phù hợp với mục đích tuyên truyền, cổ động (tiểu thuyết, h́nh thức diễn ca).
Phan Bội Châu được mệnh danh là một người "có lẽ từ xưa đến nay trong văn học Việt Nam chưa có nhà văn nào đă chịu khó và có gan đem ng̣i bút ra thử thách trên nhiều loại văn khác nhau như Sào Nam" (Đặng Thai Mai). Người sáng tác thời này đă chú ư đến yếu tố hiện thực trong tác phẩm. Họ thường đi thẳng vào các vấn đề chính trị xă hội trước mắt để đưa ra lập luận nhằm mục đích giáo dục hay tuyên truyền vận động. Văn xuôi Nôm đến đầu thế kỷ XX vẫn c̣n rất ấu trĩ, lủng củng, nghèo nàn, mà nhà nho cũng quen dùng chữ Hán hơn chữ Nôm. V́ vậy việc cải cách văn xuôi trước hết tiến hành trong văn chữ Hán. Các nhà nho tiến bộ đă bỏ bớt âm hưởng biền ngẫu, cố gắng đưa tri thức mới, thuật ngữ mới vào trong sáng tác. Họ học cách viết của báo chí Trung Quốc lúc đó là tŕnh bày ư kiến rơ ràng, mạch lạc, chặt chẽ. Các nhà nho thời nay chịu ảnh hưởng của văn tân thư Trung Quốc đặc biệt là họ thường lấy văn của Lương Khải Siêu làm mẫu mực. Do yêu cầu sáng tác để tuyên truyền nên các tác phẩm thời này thường chú ư đến việc nói cho dân nghe, viết cho dân hiểu. V́ vậy họ phải viết bằng tiếng nói, âm điệu mà nhân dân quen thuộc, ưa thích. Muốn cổ động có tác dụng họ phải chú ư tŕnh bày rành mạch, khúc chiết, phải mô tả thực tế, phải khêu gợi, phải lâm li, giàu t́nh cảm, phải có sức kích động. Bởi thế văn chương thời này cũng trút bỏ hết giọng uỷ miñ, yếu đuối, trở nên hùng tráng, đanh thép để cảm động, lôi cuốn. "Dây! Dậy! Bên án tiếng gà vừa gáy... Đi cho êm! Đứng cho vững! Trụ cho gan!..." (Bài ca Chúc Tết thanh niên). Văn vần vẫn là h́nh thức được ưa chuộng nhất trong thời này. Đầu thế kỷ XX phổ biến h́nh thức diễn ca. Có những văn bản chính luận đă được diễn ca nhằm mục đích đưa tư tưởng mới đến với quần chúng được dễ dàng. Đó là trường hợp của "Hải ngoại huyết thư" của Phan Bội Châu. Diễn ca được các nhà yêu nước dùng để thể hiện những nội dung tuyên truyền cứu nước rất phù hợp với điều kiện xă hội lúc bấy giờ. Người ta có thể đọc cho nhau nghe, nhớ lâu, dễ thuộc không cần phải in thành sách vở... Để đạt được hiệu quả trong tuyên truyền, các tác giả văn thơ yêu nước và cách mạng đầu thế kỷ XX đă cách tân nghệ thuật sáng tác, tạo nên những đổi mới so với trước kia. Tuy nhiên văn phong của họ tỏ ra rất bề bộn, chữ Hán, chữ quốc ngữ pha tạp, các thể loại truyền thống và hiện đại đan xen. Tuy hô hào sử dụng chữ quốc ngữ nhưng đại đa số các nhà nho lại thích dùng chữ Nôm để sáng tác. Họ chưa bỏ được lối viết văn biền ngẫu, nhiều bài thơ thời này c̣n bị pha trộn một vài câu hoặc một đoạn thơ chữ Hán cầu kỳ khó hiểu ("Bài hát khuyên nhà nho", Hú hồn thanh niên). Nhiều từ ngữ xa lạ, tên đất, tên người thật đặc biệt được mang vào trong tác phẩm một cách tuỳ tiện, làm cho bài văn, bài thơ trở nên nặng nề tạo cảm giác khó chịu đối với người đọc (T́nh phu phụ - Khuyết danh). Có thể khẳng định đây là một đặc điểm chỉ t́m thấy ở văn học giai đoạn này.
2. Văn học hợp pháp
2.1. Lực lượng sáng tác:
Lực lượng sáng tác tiêu biểu của ḍng văn học hợp pháp là nhà nho và các bậc trí thức tân học. Dù là nhà nho hay trí thức tân học phần lớn họ là những người chú trọng đến văn hoá hơn chính trị. Việc đọc sách của họ là để hướng đến mục đích mở mang tầm nh́n cho người sáng tác, nhằm phát triển văn hoá nước nhà. Họ không chỉ đọc tân thư, tân văn mà c̣n đọc cả những sáng tác văn học phương Tây. Khách quan mà đánh giá th́ họ là những người mạnh dạn đến với cái mới, tuy ở họ không tránh khỏi những dằn vặt, trăn trở khi chọn cho ḿnh một hướng đi để phù hợp với sự phát triển của thời đại. Nh́n chung, họ đă tỏ ra là người nhanh chóng vứt bỏ cái cũ phong kiến lạc hậu. Họ đến với cái mới không v́ muốn thỏa hiệp với Pháp mà v́ sự phát triển của nền văn hoá dân tộc, v́ ước nguyện muốn dung ḥa hai nền văn hoá Âu - Á.
2.2. Điều kiện ra đời và phát triển của văn học hợp pháp:
Văn học công khai hợp pháp là một bộ phận văn học quan trọng của nền văn học dân tộc trong giai đoạn này. Văn học công khai hợp pháp phát triển trong lúc văn học yêu nước đang bị trấn áp mạnh. Văn học hợp pháp ở buổi đầu đă được phát động từ hai phía đối lập nhau, nhằm hai mục đích trái ngược nhau nhưng lại đạt cùng một kết quả: Phía Pháp muốn có một công cụ để tuyên truyền cho chúng, để phục vụ cho việc khai hoá, do đó mở báo chí xây dựng nhà in, thành lập một số trường dạy quốc ngữ và chữ Pháp, cho dịch các tác phẩm văn học Pháp; phía Việt Nam, người yêu nước muốn thực sự khai hoá cho dân để t́m cách giải phóng dân tộc khỏi ách nô lệ, cho nên cổ động học chữ quốc ngữ, giới thiệu tân thư, dạy và khuyên học khoa học kinh tế hiện đại.... Lúc đầu việc làm của hai bên tuy ư đồ đối lập nhau nhưng công việc được tiến hành có những điểm gần nhau. Khi mục đích chính trị của các nhà yêu nước lộ rơ th́ Pháp đă t́m cách đối phó. Một đợt càn quét dă man được thực hiện đối với các nhà yêu nước. Các sĩ phu yêu nước rơi vào t́nh trạng tan tác, nhưng sức sống của dân tộc ta đă tiếp nhận những thành quả ban đầu và đẩy măi nó lên. Nhất là trong lĩnh vực văn học, chúng ta đă tiến những bước lớn. Văn học hợp pháp đă được phát triển trong những điều kiện thuận lợi lớn:
- Chữ quốc ngữ, báo chí, dịch thuật:
+ Vấn đề chữ quốc ngữ: Chữ quốc ngữ đă có mặt ở Việt Nam từ các thế kỷ trước, nhưng đến đầu thế kỷ XX nó mới được đưa vào trong sáng tác văn học một cách phổ biến. Chữ quốc ngữ là một hệ thống ngôn ngữ - văn tự lư tưởng của văn học mới, v́ nó mô tả cuộc sống b́nh thường, nó có thể đến với bất cứ loại độc giả nào từ tầng lớp quí tộc đến b́nh dân. Đi đôi với vấn đề sử dụng chữ quốc ngữ trong sáng tác là việc xây dựng văn xuôi quốc ngữ. Trong quá tŕnh h́nh thành và phát triển của nền văn học mới, các tác giả không tránh khỏi việc ghi chép khẩu ngữ. Mặt khác, do ảnh hưởng của cách viết văn cũ (văn biền ngẫu), văn xuôi quốc ngữ trong giai đoạn này thường đối nhau. Ngoài ra c̣n có những trường hợp chịu ảnh hưởng của lối văn dịch, câu văn xuôi trở nên dài ḍng, nửa Tây nửa Tàu như văn xuôi của Phạm Quỳnh. Trải qua những thí nghiệm, t́m ṭi, người Việt Nam đă làm cho kho từ vựng tiếng Việt ngày thêm phong phú bằng cách sáng tạo thêm từ mới, tiếp nhận thêm từ mới của Trung Quốc, Nhật Bản đọc theo âm Hán Việt, Việt hóa một số từ Pháp, làm cho ngữ pháp tiếng Việt ngày càng mạch lạc, sáng sủa hơn nhờ nắm vững qui luật của ngôn ngữ dân tộc, đẩy lùi câu văn biền ngẫu, đồng hoá vào hệ thống ngữ pháp tiếng Việt một số yếu tố của ngữ pháp tiếng Pháp. Sau bao nhiêu cố gắng của các nhà báo, nhà văn, câu văn nghệ thuật nhằm mô tả chân thật cuộc sống b́nh thường được h́nh thành như chúng ta đă thấy trong tác phẩm của Phạm Duy Tốn, Hoàng Ngọc Phách, Hồ Biểu Chánh.
+ Báo chí: Báo chí đă đóng vai tṛ rất quan trọng trong việc phát triển ḍng văn học hợp pháp ở giai đoạn này. Báo chí chính là nơi để các nhà văn công bố tác phẩm của ḿnh, cũng là nơi để các nhà văn thử nghiệm, rèn luyện văn xuôi quốc ngữ. Báo chí là nơi sưu tầm và giới thiệu văn học trung đại Việt Nam, giới thiệu văn học Pháp và văn học Trung Quốc. Báo chí có tác dụng khích lệ, mơ ước về sự nghiệp văn học, kích thích những người cầm bút phỏng tác, sáng tác. Báo chí c̣n là nơi trao đổi ư kiến, t́m ṭi cách làm giàu ngôn ngữ, và cũng là nơi để các nhà văn rèn luyện cách mô tả cuộc sống bằng các thể loại và h́nh thức mới để h́nh thành nhà văn và tập hợp thành đội ngũ nhà văn. Báo chí ở giai đoạn này đă đi từ chỗ là một công cụ tuyên truyền của Pháp dần dần ngày càng gắn chặt hơn với văn học, thúc đẩy văn học phát triển.
+ Dịch thuật: Phong trào dịch thuật bắt đầu ở Nam bộ và nhanh chóng phát triển trong phạm vi cả nước. Công việc dịch thuật được thúc đẩy bởi nhiều động cơ và các tác phẩm dịch đă có sức hút lớn đối với độc giả thành thị lúc đó. Việc dịch thuật đă buộc các nhà văn vay mượn, sáng tạo làm cho tiếng ta thêm phong phú, rèn luyện văn xuôi nhanh chóng trưởng thành. Việc dịch thuật cũng giúp cho các nhà văn tiếp nhận nghệ thuật sáng tác mới, cụ thể là loại h́nh mới, từ đó các tác giả bắt đầu viết bút kư, truyện ngắn, tiểu thuyết, kịch....
- Cuộc sống ở thành thị và công chúng thành thị: Những năm đầu thế kỷ XX, cuộc sống ở thành thị Việt Nam đă thay đổi nhiều. Tầng lớp tiểu tư sản ngày càng đông đảo, nhịp độ và tốc độ cuộc sống gấp và nhanh, một lối sống tư sản hóa được lan tràn khắp các ngơ ngách của phố phường. Các tầng lớp khác nhau trong xă hội tuy có mức sống, cách sống khác nhau, thậm chí c̣n đối lập nhau nhưng vẫn gần nhau về những nét tâm lư, thị hiếu: thích đua đ̣i, ăn chơi hưởng lạc, muốn sống và giải trí trong môi trường náo nhiệt, khao khát cái lạ, cái luôn luôn thay đổi. Chính cuộc sống mới đưa đến cho con người thế giới quan và nhân sinh quan mới và cũng v́ thế đặt ra cho văn học những yêu cầu khác trước. Con người Việt Nam lúc bấy giờ đang sống giữa cuộc sống đua chen cạnh tranh, cần sống thực, không thể thỏa măn với những lời giáo huấn về đạo lư cương thường. Người ta cần hiểu rơ, hiểu kỹ cuộc sống với tất cả những t́nh tiết đầy đủ, những chi tiết cụ thể, gây được cảm giác, thỏa măn được sự ṭ ṃ. Người ta cần sống những cảnh ngộ của kịch, những số phận của tiểu thuyết, những cảnh ngộ, số phận của con người cụ thể trong cuộc sống b́nh thường. Ngựi ta muốn nếm trải cái có thật chứ không phải được khích lệ bằng những gương trung hiếu minh họa đạo nghĩa. Ngựi ta cũng muốn rút ra từ đó những bài học quí giá về cuộc sống chứ không phải là bài học đạo lư. Người ta muốn xúc cảm, muốn mở mang như những người cá nhân, chứ không phải xúc động như khi chiêm ngưỡng những tấm gương cao của vị thánh xuất chúng. Thế là vào khoảng trước và sau đại chiến thế giới lần thứ nhất, một lối sống thành thị tư sản hóa và một công chúng thành thị đă h́nh thành. Đó không chỉ là đối tượng mô tả, phục vụ mà c̣n là nhân tố làm nảy sinh nền văn học mới.
- Vấn đề đổi mới về quan niệm sáng tác: Sự thay đổi về quan niệm sáng tác đă dẫn đến nhiều đổi mới trong nền văn học giai đoạn này. Nó không chỉ là một đặc điểm của giai đoạn văn học mang tính chất giao thời như đă tŕnh bày ở phần trên, mà nó c̣n là một trong những nhân tố thúc đẩy sự ra đời của văn học mới, đẩy mạnh sự phát triển của cả bộ phận văn học hợp pháp. Bấy giờ v́ muốn đáp ứng nhu cầu thị hiếu và thẩm mỹ của công chúng thành thị nhà văn sáng tạo tác phẩm như một kế sinh nhai. Độc giả trước đây đi t́m văn phẩm, bây giờ tác phẩm phải chạy theo người tiêu thụ. Nhà văn thành một nghề, văn học trở thành hàng hoá. Người sáng tác đă xa dần quan niệm "trước thư lập ngôn" sáng tác để thể hiện "tâm, chí, đạo" dùng tác phẩm văn chương để di dưỡng tinh thần và giáo dục con cháu. Trước kia nhà nho không chú ư đến vấn đề phản ánh chân thực, cụ thể cuộc sống đời thường. Các tác giả của bộ phận văn học mới để hết tâm lực vào mô tả sao cho "chân t́nh, chân cảnh" con người và cuộc sống xă hội, chủ yếu là con người b́nh thường và cuộc sống b́nh thường. Đối tượng được tập trung miêu tả trong tác phẩm bấy giờ là cuộc sống thực, cuộc sống đời thường và những con người cũng có thực trong cuộc sống. Sự thay đổi quan niệm văn học và sự h́nh thành phương pháp sáng tác mới là cả một quá tŕnh lâu dài giằng co, tranh chấp giữa cái cũ và cái mới. Hiện tượng này t́m thấy trong toàn bộ đời sống một nền văn học mới.
- Chính sách văn hóa nô dịch của thực dân: Thực dân Pháp đă thực hiện chính sách văn hoá nô dịch ở Việt Nam, nhằm làm cho nhân dân Việt Nam đoạn tuyệt với những truyền thống tốt đẹp đồng thời phục hồi những mặt lạc hậu phản động trong văn hoá xưa. Tuy nhiên, sự mở mang tương đối của thực dân đă đem lại nhà máy giấy, nhà máy in, một số trường học mới dạy chữ quốc ngữ, báo chí... Đấy là những điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của văn học hợp pháp. Thế nhưng chính sách văn hoá nô dịch của thực dân cũng tạo nên nhiều lực cản đối với phát triển của văn học hợp pháp, làm hạn chế nội dung tư tưởng của bộ phận văn học này. V́ lưỡi kéo kiểm duyệt quá ngặt nghèo của thực dân, các tác giả khi phản ánh hiện thực cuộc sống xă hội phải bỏ qua hiện thực của cuộc đấu tranh yêu nước và cách mạng của nhân dân. Bị lôi cuốn vào quỹ đạo của chính sách văn học thực dân, nhiều nhà văn đă mang ảo tưởng dùng hoạt động nghệ thuật để bảo tồn nền văn hoá dân tộc, đó là một giải pháp cứu nước lúc bấy giờ.
2. 3. Một số nội dung tiêu biểu của văn học hợp pháp:
* Văn học hợp pháp phản ánh hiện thực xă hội trên con đường tư sản hóa Vào đầu thế kỷ XX có nhiều vấn đề mới đặt ra cho người cầm bút. Hiện thực cuộc sống ngày càng đa dạng, phức tạp với biết bao vấn đề mới lạ đập vào mắt nhà văn. Họ có thể nào làm ngơ trước nó. Cần phải mô tả chân thật, sinh động cuộc sống xă hội, đó là điều làm cho nhà văn luôn trăn trở và hướng đến. Với ư thức không "tô điểm sai cảnh thực" ư thức mô tả "chân t́nh, chân cảnh", "khiến người ta nghe câu văn như trông thấy cảnh, tai nghe thấy người mà sinh ra cái ḷng quan cảm" giúp các nhà văn viết về xă hội tư sản hoá với những con người, t́nh huống, cảnh ngộ, sự việc cụ thể. Xă hội được miêu tả trong văn học hợp pháp là một xă hội náo nhiệt, xô bồ mà đồng tiền tư sản, lối sống tư sản, đạo đức tư sản đang dần dần chiếm địa vị ưu thắng ở thành thị. Trong khi đó ở nông thôn bọn cựng hào, quan lại, địa chủ cấu kết nhau hà hiếp dân lành. Cuộc sống của người dân nghèo vốn đă lam lũ, khốn khó lại phải chịu đựng thêm bao nhiêu tai hoạ do chúng gây ra. Xă hội tư sản trong sáng tác của nhà văn lúc đó như một xă hội mục nát, không hề có những con người ưu tú. Ở vào giai đoạn này, ư thức hệ tư sản đang lấn dần vị trí của ư thức hệ phong kiến, nhưng nó vẫn chưa giành được phần thắng về ḿnh. V́ vậy khi giải quyết các vấn đề của xă hội, nhà văn thường rơi vào hiện tượng lưỡng phân. Họ chưa thể khẳng định xă hội tư sản, cũng không thể khẳng định một lư tưởng xă hội khác. Nhà văn chỉ mới nh́n thấy sự đau khổ, đổ vỡ, sự không hài ḥa của con người và xă hội. Mang tâm trạng của người trí thức tiểu tư sản bấp bênh, hoang mang, dễ dao động, lại bị lép vế trong xă hội thời đó, nhà văn chỉ dừng lại ở mức độ xót thương, cảm động và đau khổ. Hiện thực được mô tả trong văn học hợp pháp có tính chất chân thực, cụ thể đa dạng nhưng chưa phải là những vấn đề mấu chốt của xă hội hiện thời. Chưa có ai đi sâu và lưỡi kéo kiểm duyệt của thực dân cũng không cho phép đi sâu vào đời sống cùng khổ của nhân dân lao động để moi ra những mâu thuẫn sâu sắc giữa địa chủ phong kiến tư bản đế quốc với người dân cùng khổ trong xă hội. Giá trị tố cáo, phê phán của văn học hợp pháp c̣n nhiều hạn chế. Văn học hợp pháp không hề đặt vấn đề đấu tranh chống lại giai cấp phong kiến thống trị hay bọn tư bản đế quốc. Các tác giả chỉ muốn cải tạo chúng về mặt đạo đức. Nh́n chung, văn học hợp pháp phản ánh hiện thực trên lập trường đạo đức là chính. Đây là yếu tố làm nên hạn chế trong nội dung hiện thực của bộ phận văn học này, v́ nó đă giới hạn con mắt quan sát của tác giả không cho tác giả trực tiếp và toàn tâm toàn ư nh́n vào hiện thực, phân tích và lư giải hiện thực.
* Cái tôi và chủ nghĩa cá nhân trong văn học hợp pháp:
Xă hội Việt Nam vào những năm đầu thế kỷ XX đang trên con đường tư sản hóa, con người không thể tiếp tục nép ḿnh vào cái ta chung, xă hội tư sản không dành chỗ cho những con người chỉ sống theo trật tự trên dưới, theo quan hệ họ tộc, làng xă. Cái tôi của chủ nghĩa cá nhân rất phù hợp với xă hội hiện thời. Nhà văn, nhà thơ cần phải đưa nó vào trong tác phẩm. Sự tiếp nhận nền văn hoá phương Tây ở các tác giả thời này có nhiều mức độ khác nhau. Riêng đối với các tác giả tân học hoặc chịu ảnh hưởng của nền học vấn mới như Hoàng Ngọc Phách, Hồ Biểu Chánh, Tản Đà, Đông Hồ, Tương Phố... hay cả Tân Dân Tử, Trần Thiên Trung... th́ cùng một lúc họ phải chịu ảnh hưởng của văn hóa phương Đông lẫn phương Tây. Điều này đặt ra cho họ một sự lựa chọn hết sức gay go. Đi theo chủ nghĩa cá nhân của ư thức tư sản hay giữ ǵn đạo đức phong kiến. Chủ nghĩa cá nhân mở ra cho con người một chân trời tự do: tự do trong quan hệ t́nh cảm, nhất là t́nh yêu đôi lứa, chủ nghĩa cá nhân giải phóng con người khỏi những ràng buộc của lễ giáo phong kiến khắt khe. Nhưng nó mới quá! Làm sao tránh được những bỡ ngỡ, người ta không thể không đến với nó trong sự dè dặt, ngại ngùng. Trong khi đó, đạo đức phong kiến lại vốn là khuôn vàng thước ngọc, quyết định mọi giá trị đạo đức trong xă hội hàng ngh́n năm qua, chưa thể dứt bỏ trong chốc lát. Người sáng tác bị đặt vào t́nh thế lưỡng phân. Đối với họ cả hai phía đều có sức hấp dẫn và thu hút lạ kỳ, ngay cả trong thị hiếu của công chúng cũng thế. Thơ văn hợp pháp giai đoạn đầu thế kỷ XX đă bắt đầu nói đến những t́nh cảm riêng tư, sâu kín của con người. Những bài thơ nặng sầu mộng lần lượt ra đời. Người ta bắt đầu nói đến cái khổ của yêu đương, xa cách, nhớ nhung. Nhà văn, nhà thơ đă cất lên tiếng than năo ruột cho những mối t́nh tan vỡ. Chủ nghĩa cá nhân đă xuất hiện nhưng mang một đặc điểm riêng biệt, nó khác với chủ nghĩa cá nhân trong văn học ở giai đoạn 30-40 và cũng không giống với chủ nghĩa cá nhân trong văn học giai đoạn 40-45. Nh́n chung, ở vào thời điểm này, cái tôi và chủ nghĩa cá nhân tuy đă xuất hiện nhưng nó chưa đủ sức để chống đối những ràng buộc của lễ giáo phong kiến.
Các tác giả c̣n chịu ảnh hưởng của nhân sinh quan phong kiến, cho nên cái tôi c̣n nhiều màu sắc phong kiến. Chủ nghĩa cá nhân c̣n rất yếu ớt bởi các tác giả c̣n đứng về phía đạo đức phong kiến can ngăn con người khỏi phải rơi vào hố cá nhân chủ nghĩa. * Nội dung yêu nước và vấn đề cứu nước của văn học hợp pháp: Các tác giả của văn thơ hợp pháp phần lớn là những người đứng ngoài cuộc đấu tranh cứu nước của dân tộc. Họ không được sưởi ấm bởi ngọn lửa của các phong trào cách mạng lúc bấy giờ. Tuy nhiên, ở họ vẫn tiềm tàng một tinh thần dân tộc cao cả. Họ sáng tác không để tuyên truyền, vận động cứu nước như các tác giả của ḍng văn học cách mạng, nhưng trong tác phẩm của họ vẫn phảng phất một tinh thần yêu nước. Chính từ những trang viết chất chứa t́nh cảm đau xót, căm hờn hay tiếc nuối về đất nước đă cho ta thấy được t́nh yêu quê hương đất nước ở họ. Nói chung, nội dung yêu nước trong văn học hợp pháp được thể hiện một cách mờ nhạt, bóng gió xa xôi. Vấn đề cứu nước cũng được đặt ra nhưng nó không mang tính thiết thực, thậm chí thể hiện tính chất cải lương.
2. 4. Đặc điểm nghệ thuật của văn học hợp pháp:
Văn học hợp pháp vừa kế thừa nghệ thuật sáng tác của các nhà nho thời trung đại, vừa tiếp nhận nghệ thuật hiện đại của nền văn học phương Tây. Các tác giả đă tiến hành một cuộc cách tân trong nghệ thuật, lấy truyền thống làm cơ sở và nền văn học hiện đại phương Tây như một chất xúc tác thúc đẩy quá tŕnh cách tân đó. Trong lịch sử văn học Việt Nam, đây là giai đoạn duy nhất có hiện tượng đan xen giữa hai h́nh thức nghệ thuật: nghệ thuật của văn học trung đại và nghệ thuật của văn học hiện đại. Chính sự lắp ghép và pha tạp các yếu tố cũ và mới đă làm cho nhiều tác phẩm ra đời trong giai đoạn này mang tính chất trung gian, vừa thể hiện chất hiện đại nhưng vẫn mang dáng dấp truyền thống. Nh́n chung, văn học hợp pháp giai đoạn này có xu hướng tiến gần đến văn học hiện đại. Đối với các tác gia,í văn học hiện đại là một khu vườn quyến rũ đầy những hoa thơm cỏ lạ. Phát hiện nó là một chuyện nhưng đến với nó là một chuyện khác. Bởi v́ họ "không có đủ độ sâu và độ đúng của lư luận, không đủ học vấn để kế thừa truyền thống và tiếp thu ảnh hưởng của văn học nước ngoài một cách hợp lư và sáng tạo" (Văn học Việt Nam giai đoạn giao thời - Trần Đ́nh Hượu và Lê Chí Dũng, trang 337). Đối với người sáng tác, cảm xúc thẩm mỹ có thay đổi, thế giới quan và nhân sinh quan đă khác trước, nhưng họ chưa được trang bị chu đáo về mặt lư luận. Họ đă đến với văn học hiện đại trong sự nhận thức chưa trọn vẹn về mọi phương diện, trong đó có cả phương diện nghệ thuật.