THÔNG BÁO

  THỜI GIAN GẦN ĐÂY MỘT SỐ BẠN LỢI DỤNG  WEBSITE NÀY ĐỂ ĐƯA RA NHỮNG PHÁT NGÔN KHÔNG TỐT. CHO NÊN CHÚNG TÔI TẠM THỜI ĐÓNG WEBSITE LẠI ĐỂ NÂNG CẤP NHẰM HẠN CHẾ MỘT SỐ HÀNH VI KHÔNG TỐT LÀM ẢNH HƯỞNG ĐẾN DIỄN ĐÀN .CÁC BẠN CÓ THẮC MẮC XIN LIÊN HỆ : phanthanhhung90@gmail.com
CHƯƠNG II:
QUAN HỆ GIỮA VĂN NGHỆ VÀ HIỆN THỰC PHẢN ÁNH HIỆN THỰC LÀ THUỘC TÍNH CỦA VĂN NGHỆ NHẬN THỨC VÀ BIỂU HIỆN TƯ TƯỞNG, T̀NH CẢM TRƯỚC HIỆN THỰC LÀ PHẨM CHẤT CỦA VĂN NGHỆ. TÍNH HIỆN THỰC VÀ TÍNH CHÂN THỰC CỦA VĂN NGHỆ
I. PHẢN ÁNH HIỆN THỰC LÀ THUỘC TÍNH CỦA VĂN NGHỆ.
Đứng ở góc độ nhận thức luận, phản ánh hiện thực là quy luật khách quan của văn nghệ. Cách giải quyết vấn đề cơ bản trong triết học - quan hệ giữa vật chất và ư thức, giữa tồn tại xă hội và ư thức xă hội có ư nghĩa phương pháp luận cho việc t́m hiểucơ sở khách quan của vấn đề quan hệ giữa hiện thực và văn nghệ, trong mĩ học, trong lí luận văn nghệ. Phản ánh luận Marx - Lénine khẳng định rằng: bản chất thế giới là vật chất, tồn tại khách quan, độc lập với ư thức con người. Vật chất là cái có trước, ý thức là cái có sau, vật chất quyết định ư thức. Ý thức là sự phản ánh của thế giới khách quan vào đầu óc con người. Lénine viết: "Kết luận duy nhất của mọi người nhất định phải rút ra trong đời sống thực tiễn, kết luận mà chủ nghĩa duy vật lấy làm cơ sở cho nhận thức luận của ḿnh một cách tự giác là: có những đối tượng, vật, vật thể tồn tại ở ngoài chúng ta, và cảm giác của chúng ta là h́nh ảnh thế giới ở ngoài chúng ta, và cảm giác của chúng ta là h́nh ảnh thế giới bên ngoài". Triết học Marx - Lénine đă giải thích một cách đúng đắn, sâu sắc thuộc tính phản ánh của ư thức. ta biết rằng mọi vật chất đều có thuộc tính phản ánh. Bộ óc con người là tổ chức cao nhất của vật chất, nó chẳng những mang thuộc tính phản ánh chung của vật chất mà nó c̣n là sự biểu hiện đầy đủ nhất, cao nhất của đặc tính phản ánh. Ư thức con người chính là sản phẩm của bộ óc, tức ư thức con người là sự phản ánh thế giới vật chất của bộ óc. Tiếp xúc với thế giới vật chất bên ngoài, con người dùng các giác quan: thị giác, thính giác, xúc giác, vị giác … các giác quan - những "khí quan" của bộ óc trực tiếp tiếp xúc với thế giới bên ngoài làm nảy sinh ra kinh nghiệm cảm giác. Không có vật thể bên ngoài th́ không thể có cảm giác nảy sinh trong cơ thể con người. Chính nhờ có hiện thực khách quan và hiện thực đó phản ánh vào óc con người thông qua các giác quan nên người ta mới có kinh nghiệm cảm giác. Kinh nghiệm cảm giác là tài liệu để h́nh thành ư thức con người. Quan hệ giữa vật chất và ư thức, giữa tư duy và tồn tại là quan hệ giữa cái được phản ánh và cái phản ánh. Lénine viết : "cảm giác của chúng ta, ư thức của chúng ta chẳng qua là h́nh ảnh của thế giới bên ngoài, vả chăng, rơ ràng là không có cái được phản ánh th́ không có sự phản ánh. Nhưng cái được phản ánh tồn tại độc lập với cái phản ánh". Trong cơ cấu đời sống xă hội, chủ nghĩa Mác- Lênin đă chỉ ra rằng văn chương là một h́nh thái ư thức xă hội thuộc thượng tầng kiến trúc, bên cạnh các h́nh thái ý thức khác như triết học, khoa học, chính trị … Là một h́nh thái ư thức xă hội, văn chương, như mọi h́nh thái ư thức khác, phản ánh tồn tại xă hội. Quan hệ giữa văn chương và hiện thực là một biểu hiện của quan hệ giữatư duy và tồn tại, giữa cái phản ánh và cái được phản ánh. Như thế, hiện thực là nguồn gốc của nhận thức, của ý thức, văn chương là một h́nh thái ư thức; một h́nh thức nhận thức; do đó, hiện thực đời sống là nguồn gốc của văn chương, là mảnh đất nuôi dưỡng văn chương, là ch́a khóa để giải thích mọi hiện tượng , dù là phức tạp nhất của văn chương. Cũng chính từ cơ sở lí luận này mà chúng ta đă hiểu v́ sao đối tượng của văn chương là hiện thực khách quan, là con người và đời sống xă hội. Như thế, bất kỳ một nền văn chương nào cũng h́nh thành trên cơ sở một hiện thực xă hội nhất định; bất kỳ một tác phẩm nào cũng là sự khúc xạ của những vấn đề cuộc sống, bất kỳ một nhà văn nào cũng thoát thai từ một môi trường sống nhất định. Phản ánh hiện thực là thuộc tính tất yếu của văn chương. Khẳng định văn nghệ phản ánh hiện thực, nhưng không được hiểu một cách hạn hẹp khái niệm "hiện thực" để rồi hiểu sự phản ánh hiện thực của văn chương như là sự tái hiện một cách giản đơn các hiện tượng, các sự kiện lịch sử - xă hội cụ thể nào đó. Cần hiểu "hiện thực" là bao gồm cả tự nhiên bao quanh con người, con người, cả môi trường xă hội, cả các quan điểm và học thuyết chính trị, xă hội, cả tư tưởng, tâm trạng … Trung tâm hiện thực là con người, nhưng nội dung hiện thực của tác phẩmchủ yếu không phải là ở các chi tiết xă hội, ở việc ghi chép mô tả cho nhiều các sự kiện, hoạt động bên ngoài con người. Hiện thực độc đáo của văn nghệ là thế giới tinh thần, t́nh cảm, tâm lí của con người xă hội. Con người trung tâm của hiện thực là con người kết tinh của những quan hệ xă hội - "tổng ḥa của những quan hệ xă hội" nhưng không phải là con người được trừu tượng hóa với những phẩm chất người nói chung mà là con người cá nhân, con người số phận. Việc yêu cầu sáng tác hay phân tích văn nghệ theo nguyên tắc nghề nghiệp kiểu "h́nh tượng người lính", "h́nh tượng người nông dân", "H́nh tượng người phụ nữ", truyện nông nghiệp, tiểu thuyết sản xuất, truyện lâm nghiệp là một cách lăng quên nhiệm vụ của nghệ thuật - Văn nghệ hướng mục đích chủ yếu vào việc thể hiện tâm trạng, t́nh cảm, quan điểm, tâm lí của những số phận.
II. NHẬN THỨC VÀ BIỂU HIỆN TƯ TƯỞNG, TÌNH CẢM TRƯỚC HIỆN THỰC LÀ PHẨM CHẤT CỦA VĂN NGHỆ.
Nói nghệ thuật phản ánh hiện thực là xác định cơ sở khách quan của nhận thực nghệ thuật. Nhưng sẽ sai lầm nếu xem phản ánh hiện thực như là tiêu chuẩn cao nhất để đánh giá văn nghệ. Đứng ở góc độ mĩ học và lí luận nghệ thuật, văn nghệ không nhằm mục đích phản ánh cuộc sống mà là sự nhận thức, nghiền ngẫm về cuộc sống. Tác phẩm nghệ thuật là cả thế giới chủ quan của nghệ sĩ : t́nh cảm, tâm lí, tư tưởng, ước mơ, lí tưởng, cá tính, tài năng … Tác phẩm nghệ thuật là cách nh́n , cách đánh giá của nhà văn về cuộc sống, là sự khao khát công lí xă hội, là tiếng nói tâm t́nh, là lẽ ưu tư trước cuộc đời. Biélinski đă từng khẳng định: Tác phẩm sẽ chết nếu nó miêu tả cuộc sống để mà miêu tả, không có sự thôi thúc chủ quan mạnh mẽ nào đó có cội nguồn từ trong tư tưởng bao trùm thời đại, nếu nó không phải là tiếng kêu đau khổ, một lời ca sung sướng, một câu hỏi đặt ra hay câu trả lời". Giá trị nội dung của tác phẩm văn chương, trước hết, không phải ở sự chân thực các chi tiết, ở những sự kiện lịch sử - xă hội được mô tả chính xác, ở sự tái hiện máy móc các hiện tượng, t́nh huống cuộc sống hay sự chuyển dịch giản đơn những tư tưởng nào đấy sang ngôn ngữ nghệ thuật. Lénine lưu ư chúng ta câu nói sau đây của Feuerbach: "Nghệ thuật không đ̣i hỏi người ta phải thừa nhận các tác phẩm của nó như là hiện thực". Lénine thấy rơ sự vĩ đại của L.Tolstoi không phải chủ yếu ở chỗ nhà văn đă đưa ra được "những bức tranh vô song về đời sống Nga" mà trước hết là ở chỗ L.Tolstoi đă thể hiện được các tư tưởng tâm trạng, sự thay đổi quan điểm của quần chúng nhân dân Nga. Cũng cần hiểu trên tinh thần ấy ư kiến sau đây của Lénine về L.Tolstoi: "L.Tolstoi, tấm gương phản chiếu cách mạng Nga" và "nếu trước mắt chúng ta là một nghệ sĩ thật sự vĩ đại th́ thế nào trong tác phẩm của anh ta cũng phản ánh cho được vài ba khía cạnh của cuộc cách mạng". Lénine không nhằm đ̣i hỏi văn chương phải là những tấm gương phản chiếu đời sống. Bởi chính Lénine đă khẳng định rằng Tolstoi "không muốn nh́n ông ta nhắm mắt lại" trước hiện thực. Và như mọi người đều biết, trong các sáng tác nghệ thuật của L. Tolstoi không có sự phản ánh trực tiếp sự kiện cách mạng 1905 - 1907 ; nhà văn không xây dựng trên tài liệu này một tác phẩm đáng kể nào. Nhà văn thông qua việc phản ánh thế giới khách quan để biểu hiện thế giới chủ quan của ḿnh. Tác phẩm nghệ thuật là khát vọng thể hiện một quan niệm về chân lí đời sống, về cái "chân" "thiện" "mĩ" trong tự nhiên, xă hội, trong quan hệ giữa người với người và trong mỗi con người. Đó là chân lí tác giả đă thể nghiệm, tác giả muốn bày tỏ, muốn trang trải, muốn thuyết phục mọi người. Thạch Sanh và Lí Thông là mặt phải và mặt trái của chân lí đạo đức : "ở hiền gặp lành, ở ác gặp ác" mà tác giả của truyện nôm khuyết danh này muốn răn dạy chúng ta. Chân lí của tính cách Chí Phèo không phải ở chỗ Chí là con ác thú mà là ở chỗ con ác thú trong con người Chí Phèo đă chịu thất bại trước bản năng nhân tính tiềm tàng của chính Chí. Hiện thực đời sống trong tác phẩm nghệ thuật chan chứa cảm hứng Mácnh của nghệ sĩ. Nếu thơ là cây xanh th́, theo Bạch Cư Dị, gốc của thơ là t́nh cảm, (căn: t́nh, miêu: ngôn, hoa: thanh, thựa: nghĩa). Lê Quư Đôn cũng xem t́nh là điều đầu tiên trong 3 điều chính: "Thơ có 3 điều chính: một là t́nh, hai là cảnh, ba là sự …" T́nh cảm trong nghệ thuật phải là sự nồng cháy, sục sôi khẳng định điều thiện, phủ nhận điều ác, thiết tha với lẽ phải. Nguyễn Du viết Truyện Kiều là viết về "Những điều trông thấy" với một t́nh cảm nhức nhối "đau đớn ḷng". Điều đau đớn nhất đối với Nguyễn Du là thân phận của người phụ nữ trong xă hội vạn ác. Nguyễn Du phải thét lên : Đau đớn thay phận đàn bà. Hồ Xuân Hương cũng đă nguyền rủa: Chém cha cái kiếp lấy chồng chung. Hiện thực trong tác phẩm bao giờ cũng được thể hiện theo một khuynh hướng tư tưởng nhất định do những xung đột, mâu thuẫn trong đời sống gợi nên. Không phải ngẩu nhiên mà trong mĩ học có những phạm trù : đẹp và xấu, cao cả và thấp hèn, bi và hài … sự tồn tại những phạm trù đó trong mĩ học và nghệ thuật, chứng tỏ rằng nghệ sĩ bao giờ cũng có thiên hướng trong sáng tác. Kết thúc bài thơ "Đời trước làm quan" Nguyễn Khuyến viết: Có tiền việc ấy mà xong nhỉ
Đời trước làm quan cũng thế a?
Dưới h́nh thức "ngâm vịnh" về chuyện ngày xửa ngày xưa ("đời trước"), Nguyễn Khuyến đă tỏ thái độ hết sức bất b́nh với bọn tham quan ô lại đồng thời.
III. TÍNH HIỆN THỰC VÀ TÍNH CHÂN THỰC CỦA VĂN NGHỆ
1. Tính hiện thực.
Phản ánh hiện thực là thuộc tính, c̣n biểu hiện trước hiện thực là phẩm chất của văn nghệ. Tương ứng với đặc tính đó của văn nghệ là tính hiện thực và tính chân thực của nó. tính hiện thực là khái niệm xác định cơ sở khách quan của nhận thức nghệ thuật, tính chân thực lại xác định cơ sở chủ quan của nhận thức nghệ thuật. Một bên (tính hiện thực) chỉ thuộc tính tất yếu, một bên (tính chân thực) chỉ phẩm chất, giá trị. Tác phẩm nào cũng có tính hiện thực v́ bất kỳ tác phẩm nào cũng phản ánh hiện thực. Nhưng, không phải tác phẩm nào cũng có tính chân thực. Văn nghệ có chân thực hay không, không phải tùy thuộc vào đối tượng mà tùy thuộc vào chủ thể.
2. Tính chân thực.
Vậy tính chân thực là gì? Tính chân thực của văn nghệ không hề đồng nghĩa với việc phản ánh lập lại hiện thực, giống với tự nhiên, với "tính sự thực". Bởi v́, không phải mọi sự thực trong đời sống đều chân thực. Có những sự thực ngẫu nhiên, có những sự thực tất nhiên. Chỉ có sự thực trong sự vận động tất nhiên mới là cái chân thực của đời sống. Cho nên, tính chân thực của văn nghệ, trước hết, hàm nghĩa là sự phản ánh đúng đắn bản chất và quy luật đời sống. Nhưng đó mới là một phương diện của tính chân thực. Tính chân thực lịch sử (Tính chân thực lịch sử là khái niệm chỉ sự phù hợp giữa sự phản ánh của văn chương với hiện thực đời sống). Tính chân thực của văn nghệ c̣n bao hàm một phương diện khác - Tính chân thực nghệ thuật. Tính chân thực nghệ thuật là thước đo giá trị chân thực của cảm xúc, sự đánh giá, bày tỏ thái độ của nghệ sĩ trước hiện thực, sự thể hiện bản lỉnh, nhân cách, cá tính độc đáo, tài năng sáng tạo của nghệ sĩ (Tính chân thực nghệ thuật là khái niệm chỉ sự phù hợp giữa sự sáng tạo nghệ thuật của nhà văn với yêu cầu tiếp thu của người thưởng thức). Như vậy, từ 2 phương diện trên,ta có thể xác định một cách đầy đủ khái niệm Tính chân thực của văn nghệ như sau: sự thống nhất giữa tính tất yếu và tự do sáng tạo của nghệ sĩ. Tóm lại, cần phân biết tính hiện thực và tính chân thực trong văn nghệ để tránh thái độ dung tục hóa văn nghệ, coi thường cá tính sáng tạo của nghệ sĩ, lăng quên nhiệm vụ, đặc trưng của văn nghệ.