THÔNG BÁO

  THỜI GIAN GẦN ĐÂY MỘT SỐ BẠN LỢI DỤNG  WEBSITE NÀY ĐỂ ĐƯA RA NHỮNG PHÁT NGÔN KHÔNG TỐT. CHO NÊN CHÚNG TÔI TẠM THỜI ĐÓNG WEBSITE LẠI ĐỂ NÂNG CẤP NHẰM HẠN CHẾ MỘT SỐ HÀNH VI KHÔNG TỐT LÀM ẢNH HƯỞNG ĐẾN DIỄN ĐÀN .CÁC BẠN CÓ THẮC MẮC XIN LIÊN HỆ : phanthanhhung90@gmail.com

Ý NGHĨA CỦA TỪ

I. HOẠT ĐỘNG GIAO TIẾP VÀ CÁC CHỨC NĂNG CƠ BẢN CỦA CÁC TÍN HIỆU NGÔN NGỮ
1. Hoạt động giao tiếp.
1.1. Lược đồ Lyons:
1.2. Các nhân tố tham gia vào hoạt động giao tiếp.
a. Mục đích giao tiếp.
b. Nhân vật giao tiếp.
c. Thực tế được nói tới.
d. Hoàn cảnh giao tiếp.
e. Hệ thống tín hiệu được sử dụng.
2. Các chức năng cơ bản của các tín hiệu ngôn ngữ.
2.1. Nhóm chức năng miêu tả:
Tín hiệu chỉ ra và diễn đạt những hiểu biết về sự vật, hiện tượng được nói tới trong giao tiếp. Chức năng này bao gồm các chức năng nhỏ:
a. Chức năng biểu vật:
Chỉ ra thực tế khách quan được đề cập đến. Chức năng biểu vật gồm 3 chức năng nhỏ:
- Chức năng dẫn xuất: Nêu ra hoặc xác định cho người ta biết cái chúng ta đang đề cập đến.
- Chức năng định danh: Ðặt cho sự vật, sự việc, hành động,... một tên gọi nào đó.
- Chức năng biểu hiện (tái hiện): Là chức năng tạo hình của ngôn ngữ. Thông qua tín hiệu có chức năng biểu hiện, ta hình dung được sự vật hiện tượng như nó đang diễn ra. Trong hệ thống ngôn ngữ, những từ tượng thanh, tượng hình đều có chức năng biểu hiện. b. Chức năng biểu niệm: Thông thường, chức năng này gợi cho chúng ta hiểu biết về những sự vật, hiện tượng đã được khái quát. Chức năng biểu niệm có liên quan mật thiết với chức năng biểu vật nhưng không thể đồng nhất. 2.2. Nhóm chức năng dụng học:
Chức năng lộ quan hệ về xã hội, quan hệ về thời gian, không gian giữa các nhân vật giao tiếp và cả thái độ của họ đối với sự vật, hiện tượng được nói tới và với bản thân sự giao tiếp. Chức năng dụng học gồm chức năng biểu thái và chức năng bộc lộ.
a.Chức năng biểu thái:
Biểu thị thái độ, tình cảm, cách đánh giá của người nói đối với người giao tiếp hoặc hiện thực khách quan.
b. Chức năng bộc lộ:
Biểu thị quan hệ giữa người nói và sự vật, đối tượng được nói tới. Ðấy là những quan hệ xã hội, quan hệ về không gian, thời gian,...
Ngoài ra, chức năng này còn bộc lộ trực tiếp trạng thái tâm lí, sinh lí của người nói đối với hiện thực khách quan.
3.3. Nhóm chức năng phát ngôn:
Chức năng chỉ ra những loại hành vi ngôn ngữ mà người phát sử dụng khi giao tiếp. Chức năng này gồm 2 nhóm chính:
a. Chức năng hiệu lệnh:
Ðây là một chức năng có liên quan với hành vi ngôn ngữ. Chức năng này nhắm trực tiếp vào hành động của giao tiếp hoặc hướng dẫn hành động của người giao tiếp, tức yêu cầu ở người nghe một thái độ hoặc hành động nào đó.
b. Chức năng đưa đẩy:
Chức năng duy trì sự giao tiếp. Ðây không phải là chức năng trọng tâm nhưng cần thiết cho một giao tiếp bắt đầu, tiếp diễn hoặc kết thúc.
c. Chức năng cú học:
Chức năng liên kết các từ trong câu tạo nên thông điệp.
II. Ý NGHĨA CỦA TỪ
1 Khái niệm về ý nghĩa của từ.
1.1 Nghĩa của từ là bản thể.
Gồm có các ý kiến sau:
- Nghĩa của từ là đối tượng.
- Nghĩa của từ là những hiện tượng tâm lí (như biểu tượng, khái niệm, sự phản ánh).
- Nghĩa của từ là chức năng.
- Nghĩa của từ là sự phản ánh đối với hiện thực.
1.2. Nghĩa của từ là quan hệ:
Theo khuynh hướng này có các ý kiến đáng chú ý sau:
- Nghĩa của từ là quan hệ giữa tín hiệu và đối tượng.
- Nghĩa của từ là quan hệ giữa tín hiệu, khái niệm và đối tượng.
Như vậy, có thể hiểu về ý nghĩa của từ như sau: Nghĩa của từ là nội dung tinh thần mà từ biểu hiện, nó được hình thành do sự kết hợp và tác động của nhiều nhân tố. Trong số đó có những nhân tố nằm ngoài ngôn ngữ và những nhân tố nằm trong ngôn ngữ. Nhân tố ngoài ngôn ngữ như: sự vật, hiện tượng trong thực tế khách quan, tư duy và người sử dụng. Nhân tố trong ngôn ngữ như: chức năng tín hiệu học, hệ thống (cấu trúc) của ngôn ngữ.
2 Các thành phần ý nghĩa trong từ.
2.1. ý nghĩa biểu vật:
Những sự vật, quá trình, tính chất hoặc trạng thái mà từ biểu thị được gọi là ý nghĩa biểu vật của từ. Hay nói cách khác, ý nghĩa biểu vật của từ là các ánh xạ của các sự vật, thuộc tính ngoài ngôn ngữ vào ngôn ngữ. Có một điều cần chú ý là ánh xạ của các sự vật, hiện tượng trong thực tế khách quan được phản ánh vào ngôn ngữ không hoàn toàn đồng nhất với các ánh xạ được phản ánh trong tự nhiên. ánh xạ trong ngôn ngữ có sự cải tạo lại, sáng tạo những cái có trong thực tế theo cách nhận thức của từng dân tộc. Ta có thể chứng minh điều này dựa vào phạm vi biểu vật của các thực từ trong một ngôn ngữ cụ thể và dựa vào việc so sánh, đối chiếu phạm vi biểu vật giữa các ngôn ngữ.
- Biểu hiện thứ nhất của sự không trùng nhau đó là: trong thực tế, sự vật luôn luôn tồn tại trong dạng cá thể và cụ thể, còn ý nghĩa biểu vật trong ngôn ngữ lại mang tính đồng loạt, khái quát ...
- Biểu hiện thứ hai của sự không trùng nhau đó là sự chia cắt hiện thực khách quan khác nhau về nghĩa biểu vật của các ngôn ngữ.
2.2. ý nghĩa biểu niệm:
* Sự vật, hiện tượng trong thực tế khách quan có các thuộc tính, các thuộc tính đó phản ánh vào tư duy hình thành các khái niệm. Hay nói cách khác, khái niệm là một phạm trù của tư duy, được hình thành từ những hiểu biết trong thực tế. Ðấy là những dấu hiệu bản chất về sự vật, hiện tượng.
* Các thuộc tính đó phản ánh vào ngôn ngữ hình thành các nét nghĩa. Tập hợp của các nét nghĩa đó trong ngôn ngữ, hình thành ý nghĩa biểu niệm. Như vậy, ý nghĩa biểu niệm một mặt thông qua các ý nghĩa biểu vật mà liên hệ với hiện thực khách quan, mặt khác, lại có quan hệ với khái niệm, qua khái niệm mà liên hệ với hiện thực ngoài ngôn ngữ. Các nét nghĩa bắt nguồn từ các thuộc tính của các sự vật trong thực tế, tuy nhiên ngôn ngữ của mỗi dân tộc chỉ chọn một số thuộc tính cơ bản có tác dụng xác lập ý nghĩa của từ trong hệ thống.
- Phân loại các nét nghĩa:
a. Nét nghĩa phạm trù (phạm trù vị): Là nét nghĩa lớn nhất, không thuộc một loại nét nghĩa nào lớn hơn.
b. Nét nghĩa loại (loại vị): Sự phân hóa tiếp theo của phạm trù vị là loại vị.
Ðây là nét nghĩa cũng có ở nhiều từ nhưng nhỏ hơn phạm trù vị. Hay nói cách khác, loại vị là sự cụ thể hóa của phạm trù vị.
c. Biệt vị: Tương tự sự phân hóa ở loại vị, biệt vị là sự biệt loại hóa của loại vị. Có 2 loại biệt vị:
+ Biệt vị tận cùng: Kết quả của sự phân hóa một loại vị nào đó ở mức thấp nhất.
+ Biệt vị đặc hữu: Những nét nghĩa thấp nhất chỉ xuất hiện ở 1 từ, không phải là sự phân hóa của loại vị.
* ý nghĩa biểu niệm của từ là tập hợp của một số nét nghĩa chung và riêng, khái quát và cụ thể theo một tổ chức, một trật tự nhất định. Giữa các nét nghĩa có những quan hệ nhất định. Tập hợp này ứng với một số ý nghĩa biểu vật của từ. Chính vì ý nghĩa biểu niệm của từ là một tập hợp có tổ chức, có quan hệ, cho nên còn có thể gọi nó là cấu trúc biểu niệm.
* Phân biệt ý nghĩa biểu niệm và khái niệm: Có thể chỉ ra sự khác nhau giữa ý nghĩa biểu niệm như sau:
- Khái niệm là sản phẩm của tư duy, do đó chung cho mọi dân tộc còn ý nghĩa của từ là riêng cho từng ngôn ngữ. Chính vì vậy, có những ý nghĩa biểu niệm chỉ có trong ngôn ngữ này mà không có trong ngôn ngữ kia. Ví dụ, ý nghĩa của các từ ghép đẳng lập phi cá thể ( chợ búa, con cái, gà qué,...) hay ý nghĩa của các từ ghép chính phụ sắc thái hóa ( xanh lè, đỏ au, ...) có trong tiếng Việt mà không có trong tiếng Nga, tiếng Pháp.
- Khái niệm có chức năng nhận thức nên tiêu chuẩn đánh giá nó là tính chân lí, chính vì vậy cho nên những dấu hiệu trong khái niệm là những dấu hiệu phản ánh các thuộc tính bản chất của sự vật, hiện tượng trong thực tế khách quan, đồng thời mỗi khái niệm chỉ ứng với một và chỉ một loại sự vật, hiện tượng trong thực tế mà thôi. Còn ngôn ngữ có chức năng giao tiếp và tư duy nên tiêu chuẩn đánh giá nó là sự phù hợp hay không phù với hệ thống ngôn ngữ của từng dân tộc. Nghĩa biểu niệm chỉ tiếp nhận những nét nghĩa nào cần thiết để lập nên cấu trúc nghĩa của từ trong mối quan hệ với toàn bộ từ vựng, do đó nó chấp nhận cả hiện tượng nhiều nghĩa, đồng nghĩa.
Ví dụ, cắt trong hệ thống từ vựng tiếng Việt có quan hệ chặt chẽ với các từ chặt, chém, cưa, thái, hái, xẻ, ...; đồng thời cắt không những chỉ có thể diễn đạt được những hoạt động có tính chất vật lí mà còn có thể diễn đạt được những hoạt động xã hội mang tính chất trừu tượng (trong cắt hộ khẩu, cắt quan hệ,...) Song những điều vừa nói chỉ đúng với ý nghĩa biểu niệm của những từ thông thường. Trường hợp thuật ngữ khoa học và kĩ thuật, ý nghĩa biểu niệm trùng với khái niệm. Tóm lại, ý nghĩa biểu niệm và khái niệm vừa giống nhưng cũng vừa khác nhau. Cả hai cùng sử dụng những vật liệu tinh thần mà tư duy con người đạt được. Song nếu khái niệm bị chi phối bởi các quy luật của nhận thức thì ý nghĩa biểu niệm lại bị chi phối bởi quy luật của giao tiếp và tư duy. Có thể nói khái niệm quan hệ với ý nghĩa biểu niệm ở chỗ nó cung cấp những (vật liệu( tinh thần để ngôn ngữ xây dựng nên ý nghĩa biểu niệm theo những quy tắc cấu trúc của mình. Do đó, dù mọi dân tộc đều biết tư duy, nhưng hệ thống từ vựng ngữ nghĩa của các dân tộc khác nhau.
2.3. ý nghĩa biểu thái:
Thuộc phạm vi ý nghĩa biểu thái của từ bao gồm những nhân tố đánh giá như (to nhỏ(, (mạnh yếu(, ... nhân tố cảm xúc như: ( dễ chịu(, ( khó chịu(, ( sợ hãi(, ... Nhân tố thái độ như: (trọng(, (khinh(,(yêu(, (ghét(, ... mà từ gợi ra cho người nói và người nghe.
III. HIỆN TƯỢNG NHIỀU NGHĨA
 Hiện tượng nhiều nghĩa có thể xảy ra ở nhiều cấp độ . Trong chương trình, ta chỉ bàn đến hiện tượng nhiều nghĩa từ vựng ở bình diện ngôn ngữ.
1. Ðịnh nghĩa.
Cùng một hình thức ngữ âm của từ có thể ứng với nhiều phạm vi sự vật, hiện tượng khác nhau và có quan hệ gắn bó chặt chẽ với nhau được gọi là hiện tượng nhiều nghĩa từ vựng.
2. Phân loại các nghĩa trong từ nhiều nghĩa.
2.1. Căn cứ vào quan điểm lịch đại (tiêu chí thời gian):
Có thể phân nghĩa của từ nhiều nghĩa ra làm hai loại: nghĩa gốc và nghĩa phái sinh.
- Nghĩa gốc là nghĩa có trước hay nghĩa đầu tiên, còn được gọi là nghĩa từ nguyên.
- Nghĩa phái sinh là nghĩa xuất hiện sau, được hình thành trên cơ sở nghĩa gốc.
2.2. Căn cứ vào quan điểm đồng đại (cách dùng hiện nay):
Có thể chia nghĩa của từ nhiều nghĩa thành nghĩa cơ bản và nghĩa phụ.
- Nghĩa cơ bản hay nghĩa chính là nghĩa biểu vật mà những người trong một cộng đồng ngôn ngữ thường sử dụng nhất đối với một từ nào đấy khi nó đứng một mình và ít lệ thuộc vào ngữ cảnh hơn cả. Nghĩa chính thường là cơ sở để giải thích nghĩa phụ.
- Nghĩa phụ là nghĩa được phát triển từ một nét nghĩa nào đó của nghĩa chính. Ðấy là nghĩa lệ thuộc vào văn cảnh, do đó muốn hiểu rõ được nó phải dựa vào văn cảnh.
2.3. Nghĩa từ vựng và nghĩa tu từ:
Nghĩa từ vựng là nghĩa đã được cố định hóa và phổ biến trong toàn dân. Nghĩa tu từ là nghĩa chưa được cố định hóa, mang tính chất cá nhân và tạm thời, được sử dụng nhằm làm cho sự diễn đạt tăng tính hình ảnh, tính biểu cảm và thêm sinh động.
3. Mối quan hệ giữa các nghĩa trong từ nhiều nghĩa.
3.1. Phân biệt hiện tượng nhiều nghĩa biểu vật và nhiều nghĩa biểu niệm.
a. Nhiều nghĩa biểu vật.
* Nhận xét:
 - Một từ có thể thích ứng với nhiều sự vật, hiện tượng khác nhau trong thực tế khách quan. Khả năng thích ứng đó là vô hạn, do đó người ta nói nghĩa biểu vật của từ là bất định.
- Căn cứ để xác định các nghĩa biểu vật là phạm vi sự vật, hiện tượng khác nhau ứng với từ.
b. Nhiều nghĩa biểu niệm.
* Nhận xét:
ứng với các phạm vi sự vật, hiện mà từ biểu thị, ta có thể xây dựng được nhiều cấu trúc biểu niệm. Như vậy, căn cứ để xác định tính nhiều nghĩa biểu niệm của từ là một hình thức ngữ âm có thể hoạt động trong bao nhiêu đặc điểm ngữ nghĩa thì có bấy nhiêu ý nghĩa biểu niệm.
c. Mối quan hệ giữa hiện tượng nhiều nghĩa biệu vật và nhiều nghĩa biểu niệm:
- Các nghĩa biểu vật trong một từ nhiều nghĩa thường chia thành từng nhóm và mỗi nhóm thường xoay quanh một cấu trúc biểu niệm nào đó.
- Các ý nghĩa biểu vật trong nhóm quanh một cấu trúc biểu niệm trung tâm thường phát triển trên cơ sở một hoặc một vài nét nghĩa nào đó trong cấu trúc biểm niệm trung tâm đó.
IV. SỰ CHUYỂN BIẾN Ý NGHĨA CỦA TỪ
Hiện tượng nhiều nghĩa là kết quả của sự chuyển biến ý nghĩa của từ.
1. Nguyên nhân:
Sự chuyển biến ý nghĩa của từ xảy ra do nhiều nguyên nhân trực tiếp và gián tiếp, bên trong và bên ngoài khác nhau như sự phát triển không ngừng của thực tế khác quan, nhận thức của con người thay đổi, hiện tựơng kiêng cữ, sự phát triển và biến đổi của hệ thống ngôn ngữ,... Tuy nhiên nguyên nhân quan trọng hơn cả là nhu cầu giao tiếp của con người. Những nhu cầu về mặt trí tuệ và những nhu cầu về mặt tu từ buộc ngôn ngữ phải luôn thay đổi và sáng tạo để biểu thị những sự vật, hiện tượng cùng những nhận thức mới, để thay thế cách diễn đạt, những tên gọi cũ đã mòn, không còn khả năng gợi tả, bộc lộ cảm xúc và gây ấn tượng sâu sắc ở người nghe nữa. Thay đổi ý nghĩa của từ có sẵn, thổi vào chúng một luồng sinh khí mới là một biện pháp tiết kiệm, sống động, giàu tính dân tộc, dễ dàng được sự chấp nhận của nhân dân, đáp ứng được kịp thời nhu cầu của giao tiếp.
2. Các dạng chuyển biến ý nghĩa.
-Dạng móc xích.
-Dạng toả ra.
3. Phương thức chuyển biến ý nghĩa của từ.
Có hai phương thức chuyển nghĩa phổ biến:
3.1. Phương thức ẩn dụ:
Là phương thức lấy tên gọi A của sự vật a để gọi tên các sự vật b,c,d vì giữa a,b,c,d có điểm giống nhau. Hay nói cách khác, ẩn dụ là phương thức chuyển nghĩa dựa vào quy luật liên tưởng tương đồng.
* Có 2 hình thức chuyển nghĩa:
- Dùng cái cụ thể để nói cái cụ thể (ẩn dụ cụ thể - cụ thể)
- Dùng cái cụ thể để gọi tên những cái trừu tượng (ẩn dụ cụ thể - trừu tượng).
* Một số cơ chế chuyển nghĩa của phương thức ẩn dụ thường thấy:
- Dựa vào sự giống nhau về hình thức giữa các sự vật, hiện tượng.
- Dựa vào sự giống nhau về vị trí giữa các sự vật, hiện tượng.
- Dựa vào sự giống nhau về cách thức thực hiện giữa hai hoạt động.
- Dựa vào sự giống nhau về chức năng giữa các sự vật, hiện tượng.
- Dựa vào sự giống nhau về tính chất, trạng thái hoặc kết quả giữa các đối tượng.
* Nhận xét:
Sự phân loại các ẩn dụ theo cơ chế trên không phải bao giờ cũng tách bạch, dứt khoát. Trong rất nhiều trường hợp không chỉ một mà có nhiều nét nghĩa cùng tác động.
3.2. Phương thức hoán dụ:
Là phương thức lấy tên gọi A của sự vật a để gọi tên cho sự vật b,c,d vì giữa a,b,c,d tuy không giống nhau nhưng có một quan hệ gần nhau gần nhau nào đó về không gian hay thời gian. Hoán dụ là phương thức chuyển nghĩa dựa vào quy luật liên tưởng tiếp cận.
* Các dạng chuyển nghĩa theo phương thức hoán dụ:
a. Hoán dụ dựa trên quan hệ giữa bộ phận và toàn thể.
Dạng chuyển nghĩa này có các cơ chế chuyển nghĩa cụ thể sau:
- Lấy tên gọi của một bộ phận cơ thể gọi tên cho người hay cho cả toàn thể.
- Lấy tên gọi của tiếng kêu, đặc điểm hình dáng của đối tượng gọi tên cho đối tượng.
- Lấy tên gọi của đơn vị thời gian nhỏ gọi tên cho đơn vị thời gian lớn.
- Lấy tên gọi của toàn bộ gọi tên cho bộ phận.
b. Hoán dụ dựa trên quan hệ giữa vật chứa và vật bị chứa hay lượng vật chất được chứa.
c. Lấy tên nguyên liệu gọi tên cho hoạt động hoặc sản phẩm được chế ra từ nguyên liệu đó.
d. Hoán dụ dựa trên quan hệ giữa đồ dùng hoặc dụng cụ và người sử dụng hoặc ngành hoạt động sử dụng dụng cụ đó.
e. Hoán dụ dựa trên quan hệ giữa cơ quan chức năng và chức năng.
f. Hoán dụ dựa vào quan hệ giữa tư thế cụ thể và hành vi hoặc trạng thái tâm - sinh lí đi kèm.
g. Hoán dụ dựa trên quan hệ giữa tác giả hoặc địa phương và tác phẩm hoặc sản phẩm của họ hoặc ngược lại. ....
Tóm lại, mỗi sự vật, hiện tượng có quan hệ với nhiều sự vật, hiện tượng khác chung quanh, do đó có thể có rất nhiều dạng hoán dụ. Vấn đề quan trọng cần chú ý là cần phải biết lựa chọn quan hệ nào là cơ bản để chuyển đổi tên gọi.
* Mối quan hệ giữa ẩn dụ và hoán dụ:
- Giống:
+ Bản chất cùng là sự chuyển đổi tên gọi.
+ Cùng dựa trên quy luật liên tưởng.
- Khác:
+ Cơ sở liên tưởng khác nhau: ẩn dụ dựa vào sự liên tưởng tương đồng.
Do đó, trong trường hợp này sự vật chuyển đổi tên gọi và sự vật được chuyển đổi tên gọi thường khác phạm trù hoàn toàn. Do đó, ta có thể nói ẩn dụ mang nhiều sắc thái chủ quan hơn. Hoán dụ dựa vào sự liên tưởng tiếp cận. Mối quan hệ giữa sự vật chuyển đổi tên gọi và sự vật được chuyển đổi tên gọi là có thật, chứ không hoàn toàn tùy thuộc vào sự suy luận chủ quan của con người. Do đó hoán dụ mang nhiều tính khách quan hơn.
* Nhận xét:
- Một từ có thể được chuyển nghĩa theo nhiều phương thức.
- Các từ có ý nghĩa biểu vật cùng một phạm vi hoặc có ý nghĩa biểu niệm cùng một cấu trúc thì sự chuyển nghĩa thường theo cùng một hướng.
- ẩn dụ và hoán dụ tồn tại ở bình diện ngôn ngữ lẫn lời nói, tuy nhiên sự chuyển nghĩa của hai bình diện này khác nhau. Cần phân biệt ẩn dụ và hoán dụ tu từ với ẩn dụ và hoán dụ từ vựng.
+ ẩn dụ và hoán dụ tu từ được sử dụng nhằm giúp cho sự diễn đạt tăng tính hình ảnh, biểu cảm, chứ không có tác dụng tạo nghĩa mới nhằm làm giàu cho hệ thống ngữ nghĩa của ngôn ngữ dân tộc. ẩn dụ và hoán dụ tu từ là sự sáng tạo của cá nhân do đó nghĩa tu từ mang tính tạm thời, lệ thuộc hoàn toàn vào văn cảnh, tách khỏi văn cảnh, nghĩa tu từ biến mất.
+ ẩn dụ và hoán dụ từ vựng có tác dụng tạo nghĩa mới cho hệ thống từ vựng - ngữ nghĩa của dân tộc, do đó sự chuyển nghĩa đó là sản phẩm của toàn dân, được cố định hóa trong kho từ vựng tiếng Việt, được ghi vào từ diển như một nghĩa sẵn có, được tái dụng một cách tự do trong lời nói. Tóm lại, hiện tượng nhiều nghĩa một mặt phản ánh độ dày của ngôn ngữ, một mặt đáp ứng quy luật tiết kiệm của ngôn ngữ; mặt khác phản ánh độ phong phú của tư duy, tình cảm, những kinh nghiệm sống của mỗi dân tộc. Hiện tượng nhiều nghĩa còn giúp ta có thêm căn cứ để hiểu sâu sắc bản chất ý nghĩa của từ cũng như tính hệ thống của chúng.