THÔNG BÁO

  THỜI GIAN GẦN ĐÂY MỘT SỐ BẠN LỢI DỤNG  WEBSITE NÀY ĐỂ ĐƯA RA NHỮNG PHÁT NGÔN KHÔNG TỐT. CHO NÊN CHÚNG TÔI TẠM THỜI ĐÓNG WEBSITE LẠI ĐỂ NÂNG CẤP NHẰM HẠN CHẾ MỘT SỐ HÀNH VI KHÔNG TỐT LÀM ẢNH HƯỞNG ĐẾN DIỄN ĐÀN .CÁC BẠN CÓ THẮC MẮC XIN LIÊN HỆ : phanthanhhung90@gmail.com
I. CÁC LOẠI CÂU TRONG VĂN BẢN XÉT VỀ MẶT TÍNH HOÀN CHỈNH
Xét về mặt tính hoàn chỉnh của đơn vị văn bản, các câu trong cụm câu có hai loại: câu tự nghĩa và câu không tự nghĩa. Câu không tự nghĩa gồm hai tiểu loại: câu hợp nghĩa và câu dưới bậc.
1. Câu tự nghĩa
1.1 Khái niệm:
Câu tự nghĩa là câu hoàn chỉnh về cấu trúc ngữ pháp và mang tính chất có thể hiểu được mà không cần có sự hỗ trợ của bất cứ một yếu tố hoặc một phát ngôn nào khác. Người đọc có thể hiểu được lí do tồn tại và nghĩa của từng từ ngữ trong câu cũng như ư tưởng chung của toàn câu mà không cần phải nại đến ngữ cảnh hoặc đọc thêm bất ḱ một câu nào khác ngoài chính nó. Cố nhiên, người đọc phải là người có một vốn văn hóa nhất định để có thể hiểu được những nội dung của câu viết, nếu không, ngoại diên của khái niệm câu tự nghĩa sẽ trở nên quá rộng. Chẳng hạn, câu "Hà Nội đă làm nên một chiến công lịch sử vẻ vang vào năm 1972" phải được coi là một câu tự nghĩa. Không thể vin vào lí do câu văn không cho biết chiến công lịch sử đó là ǵ, diễn ra như thế nào để cho rằng câu văn trên là không tự nghĩa.
1.2 Các loại câu tự nghĩa thường thấy:
a. Câu có sở chỉ, đặc trưng rơ ràng và mọi từ ngữ đều được thuyết minh đủ rơ trong nội bộ câu.
 Thí dụ: - Dê đen và dê trắng cùng qua một chiếc cầu hẹp - Ở Mỹ Tho, trong Khởi nghĩa Nam Kỳ, hầu như nhà nào cũng có mơ mù u. - Chúng ta hăy nh́n nhận vấn đề một cách tỉnh táo, chàng chủ tịch Chi hội sinh viên Trà Ôn nói. - Rộng xét năm châu, trải xem lịch sử, dọc ngang mấy vạn dặm, trên dưới mấy ngàn năm, từ Đông sang Tây, từ xưa đến nay, hễ nước nào khi vận nước cường th́ tất là khi ấy chánh học sáng rệt, nước nào khi vận nước suy đồi, tất là khi ấy trong nước tà thuyết lưu hành. b. Câu nêu các phán đoán đơn nhất, các chân lí, lẽ thường hoặc các phán đoán toàn thể (Loại này thường chứa đại từ phiếm chỉ). Thí dụ: - An là sinh viên Trường Đại học Cần Thơ. (phán đoán đơn nhất) - Không có ǵ quư hơn độc lập tự do. (Chân lí, ǵ là đại từ phiếm chỉ) - Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền b́nh đẳng. (Lẽ thường, Tất cả là đại từ chỉ toàn thể, mọi là phụ từ chỉ toàn thể) - Không ai không biết một cộng một là hai. (Lẽ thường, ai là đại từ phiếm chỉ) 2. Câu không tự nghĩa:
2.1 Khái niệm:
Câu không tự nghĩa là câu phải liên hợp với câu khác hoặc với một yếu tố nào khác bên ngoài nó mới đủ nghĩa, mới đạt tính chất có thể hiểu được. Câu không tự nghĩa có hai tiểu loại: - Một, hoàn chỉnh về cấu trúc ngữ pháp gọi là câu hợp nghĩa; - Hai, không hoàn chỉnh về cấu trúc ngữ pháp gọi là ngữ trực thuộc hay câu dưới bậc. Những câu không hoàn chỉnh về cấu trúc ngữ pháp thường chỉ là một ngữ nên giáo sư Trần Ngọc Thêm gọi là ngữ trực thuộc (chỉ là một ngữ nhưng trực tiếp tham gia cấu tạo văn bản, trực thuộc văn bản). Giáo sư Diệp Quang Ban cho rằng câu là đơn vị văn bản nhỏ nhất, dù nó có dạng một ngữ hoặc một từ th́ nó vẫn có tư cách câu nên đề xuất tên gọi câu dưới bậc hoặc là biến thể dưới bậc của câu. Gần đây, PTS Phan Mậu Cảnh lại đề xuất gọi loại câu này là phát ngôn tách biệt (1) và nêu lên những đặc điểm "tách biệt" của nó. Ngữ trực thuộc hay câu dưới bậc hay phát ngôn tách biệt không phải là các câu đặc biệt theo quan niệm của ngữ pháp truyền thống, chúng có quy luật cấu tạo và sử dụng riêng.
2.2 Các loại câu hợp nghĩa thường thấy:
a. Câu chứa từ không có định tô,ú bổ tố đủ rơ nên sở chỉ không rơ ràng, ư nghĩa quá chung.
Thí dụ: - Ngoài khung cửa sổ, trời xanh ngắt ánh sáng. Một thân cây vút cao lên trước mặt. - Mẹ Lan cho Lan. Lan cầm lấy, bỏ vào túi.
b. Câu chứa kết cấu phi lí, chỉ rơ nghĩa nhờ yếu tố bên ngoài câu.
Thí dụ: - Tân có ngờ đâu chính tảng đá ấy là em ḿnh. - Quang Trung đă dùng lê đánh tan một đại đội lính Mĩ trong trận Núi Thành.
c. Câu chứa đại từ, phải nhờ yếu tố ngoài câu mới rơ nghĩa.
Thí dụ: - Dân ta có một ḷng yêu nước nồng nàn. / Ta là một là riêng là thứ nhất. - Thế là khỏi bệnh. - Cô ấy liền tổ chức một bữa ăn thịnh soạn. - Chẳng biết tôi cười ǵ, anh thanh niên cũng nhe những chiếc răng vẩu ra cười. - Trời bắt đầu tối, trăng đă lên mà chàng vẫn cứ đi. d. Câu chứa kết ngữ, kết từ, phụ từ, trợ từ, tính từ chỉ rơ nghĩa hoặc lí do tồn tại khi biết các yếu tố ở bên ngoài câu. Thí dụ: - Như thế, phải cố gắng lắm mới thành công được. (chứa kết ngữ như thế) - Tới thời đánh Mĩ, dân Bến Tre xài mơ mù u nhiều. (chứa kết ngữ Tới) - Cả thủ trưởng cũng đồng ư nốt. (chứa trợ từ cả và phụ từ cũng...nốt) - Kiều càng sắc sảo mặn mà, So bề tài sắc lại là phần hơn. (chứa 2 phụ từ càng, lại và tính từ hơn có tác dụng liên kết)
2.3 Các loại câu dưới bậc thường thấy:
a. Câu chỉ có chủ ngữ.
Thí dụ: (Hai người qua đường đuổi theo nó.) Rồi ba bốn người, sáu bảy người.
b. Câu chỉ có vị ngữ.
Thí dụ: - Có khi được trưng bày trong tủ kính, trong b́nh pha lê rơ ràng dễ thấy. - (Tôi nhớ chuyện vua Thuấn, v́ muốn đích thân tai nghe mắt thấy dân có bằng ḷng ḿnh không, nên cải trang làm dân cày đi ḍ la khắp xứ.) Lại nhớ chuyện vua Pi-e nước Nga đi làm thợ và đến làm việc ở các công trường nước Anh.
c. Câu chỉ có một vế của câu ghép hay một thành phần phụ của câu.
Thí dụ: - Th́ cũng có sao đâu? (một vế của câu ghép) - Giá mà tôi là đàn ông... (một vế của câu ghép) - (Người ta đến càng đông. Vẫn đánh nó.) Cả đ̣n càn, đ̣n gánh nữa. (chỉ có bổ tố) - (...) Để đánh giặc, giặc Tây, giặc trộm cướp. Để họp dân, triệu tập dân quân.(...) - (Nhạc điệu câu thơ cũng khác.)V́ những chỗ ngắt hơi không nhất định. (như trên) - (Từ trong bóng tối dày đặc, ánh sáng vẫn ngời lên.) Ánh sáng tâm hồn của một người chiến sĩ cách mạng vĩ đại. (ngữ danh từ, giải ngữ của câu trước tách ra) Tương tự, xét về mặt tính hoàn chỉnh, các cụm câu, các đoạn văn cũng được phân thành hai loại: cụm câu tự nghĩa, và cụm câu hợp nghĩa, đoạn văn tự nghĩa và đoạn văn hợp nghĩa. (1) Có thể thấy: Cụm câu mô tả vẻ đẹp Thúy Vân là một cụm câu tự nghĩa; cụm câu mô tả tài sắc Thúy Kiều là cụm câu hợp nghĩa (do chứa phụ từ càng và tính từ hơn ở câu mở đầu cụm câu). Đoạn văn gia cảnh Vương Ông là đoạn văn hợp nghĩa (do chứa kết ngữ Rằng ở câu mở đầu của đoạn; c̣n đoạn văn mô tả chị em Vân, Kiều lại là đoạn văn tự nghĩa. Nhiều đoạn văn được trích giảng in trong các sách giáo khoa văn học phổ thông là các đoạn văn tự nghĩa. Chúng có dáng vẻ của một văn bản hoàn chỉnh và được gọi là bài văn.
II. CÁC MỐI QUAN HỆ NỘI BỘ TRONG MỘT KẾT CẤU VĂN BẢN
Xét các mối quan hệ giữa các đơn vị cùng cấp độ trong quá tŕnh kết hợp với nhau để tạo nên kết cấu văn bản bậc trên chính là xét cấu trúc nội bộ của các kết cấu văn bản. Hai mối quan hệ cơ bản giữa các đơn vị văn bản cùng cấp độ trong kết cấu văn bản là quan hệ ngữ pháp và quan hệ thông báo. Quan hệ ngữ pháp và thông báo giữa các câu trong cụm câu có tính phong phú và đủ dùng để xem xét mối quan hệ ngữ pháp và thông báo giữa các kết cấu văn bản trong văn bản. Dưới đây là quan hệ ngữ pháp và thông báo giữa các câu trong cụm câu.
1. Quan hệ ngữ pháp văn bản giữa các câu trong cụm câu
Quan hệ ngữ pháp là quan hệ giữa các đơn vị ngữ pháp, cụ thể hơn là giữa các ư nghĩa ngữ pháp của các đơn vị trong ḷng kết cấu ngữ pháp do các đơn vị ấy tạo nên. Trong tiếng Việt, thuộc cấp độ từ, các đơn vị cấu tạo từ trong từ ghép có thể có một trong hai mối quan hệ ngữ pháp: quan hệ đẳng lập như trong các từ xây dựng, thành thị, đền đài, ăn nói, gàn dở, tranh ảnh... quan hệ chính phụ như trong các từ máy may, bút ch́, ngăn kéo, đầu nằm, ghế bố, tù treo...; thuộc cấp độ câu, các đơn vị cấu tạo câu có thể thuộc một trong ba mối quan hệ ngữ pháp: quan hệ đẳng lập (hay song song), quan hệ chính phụ (hay phụ thuộc), quan hệ chủ-vị (hay vị ngữ tính). Vấn đề là: thuộc phạm vi văn bản, giữa các câu có thể có các mối quan hệ ngữ pháp nào? Có cả ba quan hệ ngữ pháp ấy không? Có thể thấy: 1. Quan hệ ngữ pháp giữa các câu trong cụm câu có sự gần gũi với quan hệ cú pháp giữa các thành tố cú pháp trong phạm vi câu.
2. Trong phạm vi văn bản, giữa các câu có thể có một trong hai mối quan hệ ngữ pháp: quan hệ đẳng lập và quan hệ chính phụ. Làm nên giá trị thông báo cho cụm câu không thể là quan hệ ngữ pháp chủ - vị, mà sẽ là quan hệ thông báo.
1.1 Quan hệ đẳng lập giữa các đơn vị và kết cấu văn bản:
Tương tự quan hệ đẳng lập giữa các thành phần câu trong câu, giữa các đơn vị và kết cấu văn bản trong kết cấu văn bản bậc trên cũng có thể có mối quan hệ ngữ pháp đẳng lập.
a. Đặc điểm của các câu có quan hệ ngữ pháp đẳng lập trong cụm câu:
- Về mặt ngữ pháp:
Các câu hay phát ngôn trong cụm câu được coi là có quan hệ ngữ pháp đẳng lập khi chúng có vai tṛ ngang bằng nhau trong việc thể hiện ư chung, ư khái quát của cụm câu. Bản thân chúng, trong nội bộ, nhiều khi có cấu trúc ngữ pháp tương tự nhau.
- Về mặt nội dung:
Trong cụm câu, các câu có quan hệ ngữ pháp đẳng lập khi cùng hướng vào một chủ ư chung (cùng cụ thể hóa một ư chung hoặc cùng làm cơ sở để đi tới một kết luận chung).
- Về mặt lôgic:
Trong cụm câu miêu tả, các câu có quan hệ đẳng lập thường là các câu miêu tả từng bộ phận của một chỉnh thể. Trong cụm câu tự sự, các câu có quan hệ đẳng lập thường là các câu diễn tả các sự việc tiếp nối theo lôgic của sự t́nh trong không gian, thời gian. Trong cụm câu nghị luận, các câu có quan hệ đẳng lập thường có quan hệ ngang hàng, quan hệ đối lập (là hai kiểu quan hệ giữa các hạng trong loại dùng trong liệt kê, dẫn chứng, tuyển chọn, bổ sung - phát triển, nhượng bộ - tăng tiến, tương phản v. v...) và quan hệ tiếp nối theo một trật tự lôgic nào đó.
- Về mặt trật tự trước sau:
Tương tự quan hệ đẳng lập giữa các thành phần câu trong câu, quan hệ đẳng lập giữa các câu trong cụm câu, có thể là quan hệ liên hội giản đơn hoặc liên hội tiếp nối trong không gian, thời gian hay theo một tŕnh tự ngữ âm hoặc lôgic nhất định. Nếu là quan hệ liên hội giản đơn, tŕnh tự giữa các câu trong cụm câu có thể hoán đổi mà thông báo cơ bản của cụm câu không thay đổi. Nếu là quan hệ tiếp nối trong không gian, thời gian hay theo một tŕnh tự ngữ âm hoặc lôgic nhất định, trật tự giữa các câu trong cụm câu là không thể hoán đổi. Tương tự, giữa các cụm câu, các đoạn văn, các mục, tiết, chương, phần... trong văn bản cũng có thể có các mối quan hệ đẳng lập liên hội giản đơn hoặc tiếp nối. Cụm câu về Thúy Vân và Thúy Kiều trong đoạn văn Tài sắc chị em Thúy Kiều có quan hệ đẳng lập tiếp nối (v́ cụm câu nói về Kiều chứa phụ từ càng, lại và tính từ hơn có tác dụng liên kết). Cả hai cụm câu này có cùng chức năng là cụ thể hóa cho cụm bốn câu giới thiệu khái quát về hai chị em Vân, Kiều đứng trước chúng. Các chương hồi trong tiểu thuyết chương hồi xưa, các tiết trong chương của một luận văn khoa học, các mục trong tiết hay trong phần giải quyết vấn đề của một văn bản vài trang thường có quan hệ ngữ pháp đẳng lập.
b. Các dạng cụm câu chứa các câu có quan hệ đẳng lập:
Trong mỗi câu thường có đối tượng chủ đề là sự vật được đề cập trong câu và đặc trưng chủ đề là nội dung nói về đối tượng chủ đề ấy. Để cho gọn, từ đây, đối tượng chủ đề sẽ được viết tắt là Đ và đặc trưng chủ đề sẽ được viết tắt là T. DẠNG 1: Mô h́nh tóm tắt: Dạng tiêu thể : Đ - T1 . Đ - T2 . Đ - T3 . (...) . Dạng biến thể: Đ - T1 . Æ - T2 . Æ - T3 . (...) . Đặc điểm nội dung: Các câu nói về cùng một đối tượng chủ đề và mỗi câu có đặc trưng chủ đề riêng; các đặc trưng này thường có cùng một quan hệ lôgic: hoặc ngang hàng hoặc đối lập hoặc tiếp nối trong không gian, thời gian. Đặc điểm h́nh thức: Lặp, thế là những phép liên kết được dùng nhiều để diễn tả đối tượng chủ đề ở các câu sau. Ở dạng biến thể, tỉnh lược là phép liên kết được sử dụng bắt buộc. Ở dạng tiêu thể, các câu thường là câu tự nghĩa hoặc câu hợp nghĩa. Thí dụ: Liên quay lại nh́n em, thấy An cũng đă ngủ say tay nắm chặt tà áo chị và đầu vẫn dựa vào vai. Liên nh́n quanh đêm tối, gió đă thoáng lạnh và đom đóm không c̣n nữa. Chị cúi xuống vực em vào trong hàng, mắt cũng ríu lại. Chị gài cửa cẩn thận và vặn nhỏ ngọn đèn đặt lên trên cái quả thuốc sơn đen. Rồi Liên đến bên em nằm xuống. Chị gối đầu lên tay nhắm mắt lại. (Thạch Lam, Hai đứa trẻ) Trong các câu trên, đối tượng chủ đề Liên hoặc được lặp lại hoặc được thế bằng từ chị trong các câu sau. Các đặc trưng chủ đề là các hoạt động theo tŕnh tự trước sau của Liên khi đêm đă về khuya. Ở dạng biến thể, câu đầu thường có cấu trúc ngữ pháp hoàn chỉnh c̣n các câu từ thứ hai trở đi thường là các câu dưới bậc (do thành phần ṇng cốt bị tỉnh lược). Các câu dưới bậc này thường là vị ngữ hoặc bổ ngữ của câu đầu được tách ra thành câu riêng và được sắp xếp theo một trật tự lôgic nhất định. Khi được tách thành câu riêng, chúng không c̣n là thành phần của câu trước, chúng có vai tṛ ngang bằng nhau trong việc thể hiện ư chung của cụm câu nên chúng có quan hệ đẳng lập. Chúng thường chứa các từ ngữ được lặp lại để biểu hiện các đặc điểm, tính chất, quan hệ, hành động hay đối tượng theo cùng một quan hệ lôgic. Thí dụ: - Đó là con người có tinh thần tự giác cao, có đầy đủ quyết tâm và nghị lực để vượt qua mọi khó khăn, hoàn thành nhiệm vụ. Là con người lao động thật thà, ghét lối ăn bám, dối trá, làm dối, nói dối. Là con người lao động có kỉ luật, có kĩ thuật, có năng suất cao... (Trích Xây dựng con người mới, Lê Duẩn, Trích giảng văn học 9) - Huấn đi về trạm máy. Một ḿnh trong đêm. (Nguyễn Thị Ngọc Tú) - Từ trong bóng tối dày đặc, ánh sáng vẫn ngời lên. Ánh sáng tâm hồn của một chiến sĩ cách mạng vĩ đại. (Hoàng Như Mai..., Văn học 12, Tập 1, GD, trang 9) Nếu các thành phần câu được tách thành câu riêng ấy không cùng một quan hệ lôgic th́ kết cấu văn bản không định h́nh và ta sẽ có các câu sai ngữ pháp. So sánh: - Văn học dân gian là những sáng tác văn học do nhân dân sáng tác và lưu truyền (dân gian có nghĩa là ở trong dân). Văn học dân gian cũng là những sáng tác nghệ thuật ngôn từ như văn học viết. Văn học dân gian lại cùng với văn học viết hợp thành nền văn học dân tộc. Nhưng so với văn học viết, văn học dân gian có những đặc điểm riêng về lịch sử phát sinh và phát triển, về người sáng tác, về cách thức sáng tác và lưu truyền, về nội dung tư tưởng và thể loại nghệ thuật. (Văn học 10, Tập 1, GD, 1966) - Văn học dân gian là những sáng tác văn học do nhân dân sáng tác và lưu truyền (...). Là những sáng tác nghệ thuật ngôn từ như văn học viết. Lại cùng với văn học viết hợp thành nền văn học dân tộc. Có những đặc điểm riêng về lịch sử phát sinh và phát triển, về người sáng tác, về cách thức sáng tác và lưu truyền, về nội dung tư tưởng và thể loại nghệ thuật. Trong cụm câu in thẳng này có các câu sai ngữ pháp. Ở đây, đặc trưng chủ đề của bốn câu thuộc những b́nh diện lôgic khác nhau và được diễn đạt bằng những kiểu ṇng cốt câu khác nhau. DẠNG 2: Mô h́nh tóm tắt: Dạng tiếu thể: Đ1 - T . Đ2 - T' . Đ3 - T'' . (...) . Dạng biến thể: Đ1 - T . Đ2 - Æ . (...) . Đặc điểm nội dung: Các câu nói về các đối tượng khác nhau nhưng đặc trưng của các đối tượng ấy hoặc giống nhau hoặc cùng hạng về mặt lôgic. Đặc điểm h́nh thức: Lặp, thế và nối là các phép liên kết thường được sử dụng. Ở dạng biến thể, tỉnh lược là phép liên kết được sử dụng bắt buộc. Thí dụ: - An rất khổ v́ gia đ́nh nghèo đói, con cái thất học. B́nh cũng thế. (Phép thế và nối) - Thúy Vân rất đẹp. Thúy Kiều c̣n đẹp hơn. (Phép lặp từ và nối bằng phụ từ) - Chị Lan là sinh viên học giỏi nhất lớp tôi. C̣n chị Hồng là cầu thủ bóng chuyền xuất sắc của trường tôi và tất nhiên là của cả lớp tôi nữa. (Phép nối bằng kết từ, phép lặp từ, lặp cấu trúc cú pháp và phép thế bằng từ đồng nghĩa) - Người Pháp đổ máu đă nhiều. Dân ta hi sinh cũng không ít. (Phép thế bằng từ đồng nghĩa, bằng phủ định, lặp cấu trúc cú pháp và phép nối bằng phụ từ) - Hai người qua đường đuổi theo nó. Rồi ba bốn người, sáu bảy người. (Tỉnh lược VN) DẠNG 3: Mô h́nh tóm tắt: Đ1 - T1 . Đ2 - T2 . Đ3 - T3 . (...) . Đn - Tn . Đặc điểm nội dung: Các câu có đối tượng chủ đề và đặc trưng chủ đề khác nhau nhưng có quan hệ lôgic nhất định để góp sức diễn tả một chủ ư xuyên suốt. Đặc điểm h́nh thức: Các phương tiện liên tưởng thường được sử dụng: liên tưởng nghịch đối, liên tưởng tương cận, liên tưởng tương đồng, liên tưởng đồng hạng cùng hướng vào một chủ ư: hoàn cảnh - con người; con người - hành động, đặc điểm, tính chất của họ; con người - đồ vật, phương tiện sản xuất, sinh hoạt... Thí dụ: - Trong câu đối hoặc các câu có đối, các đối tượng chủ đề đối nhau c̣n các đặc trưng của các đối tượng ấy th́ hoặc là lời đối, ư đối hoặc là lời đối, ư nối để biểu thị một ư chung: - Cha áo thâm, con áo thâm, phụ tử hữu t́nh thâm chi nghĩa. Chị trằm bạc, em trằm bạc, tỉ muội vô phận bạc chi duyên. - Ḿnh nhớ ta như cà nhớ muối / Ta nhớ ḿnh như cuội nhớ trăng. - Trong văn miêu tả, các câu đẳng lập trong cụm câu nói về các đối tượng đồng hạng về mặt lôgic (cùng bị bao hàm bởi một khái niệm loại hoặc cùng là bộ phận của một chỉnh thể). Thí dụ: - Quang cảnh đầu đêm của một phố huyện: Trời đă bắt đầu đêm, một đêm mùa hạ êm như nhung và thoảng qua gió mát. Đường phố và các ngơ con dần dần chứa đầy bóng tối. Các nhà đă đóng cửa im ỉm, trừ một vài cửa hàng c̣n thức nhưng cửa chỉ để hé ra một khe ánh sáng. (Thạch Lam) - Quang cảnh chiều tối của một vùng sơn cước: Chim mỏi về rừng t́m chốn ngủ / Mây côi trôi nhẹ giữa tầng không / Xay ngô cô gái miền sơn cước / Ngô lúc xay xong bếp cũng hồng. (Hồ Chí Minh) - Ở trên là các cụm câu chứa các câu đẳng lập với nhau cùng góp sức thể hiện một ư chung không được diễn đạt bằng một câu có mặt trong cụm câu. Nhưng nhiều khi, câu diễn đạt ư chung có mặt trong cụm câu, đặc biệt là trong cụm câu nghị luận. Trong các cụm câu này, các câu có quan hệ đẳng lập với nhau là các câu cùng minh chứng cho một nhận định hoặc các câu diễn đạt tiền đề cùng làm cơ sở để suy ra một kết luận. Thí dụ: [xem các câu in nghiêng] - Nhưng người đàn bà ấy lại là Thị Nở, một người ngẩn ngơ như những người đần trong cổ tích và xấu ma chê quỷ hờn. Cái mặt của thị thực là một sự mỉa mai của hóa công... Cái mũi th́ vừa ngắn, vừa to, vừa đỏ, vừa sần sùi như vỏ cam sành... (Nam Cao, Chí Phèo) - Lời thơ trong "Nhật kí trong tù"thật sinh động. Khi bàn đến các vấn đề lớn của thế giới, của nhân loại, tác giả dùng những lời trang nghiêm, đĩnh đạc, khiến người đọc phải tập trung tâm trí ngẫm nghĩ:(...). Khi cần vạch trần những sự bất công vô lí của bọn cầm quyền lúc đó, th́ lời thơ của Người chắc nịch, sắc bén như một lời tố cáo: (...) (Văn học 12, Tập 1, GD, 1992) - Nhân dân ta tốt thật. Nhưng ta nên nhớ câu chuyện anh Tăng. Địch tuyên truyền thâm độc và bền bỉ, ngày này đến ngày khác, năm này đến năm khác, "giọt nước nhỏ lâu, đá cũng ṃn". Cho nên không khỏi có một số đồng bào bị địch tuyên truyền măi mà hoang mang. (Hồ Chí Minh) - Trong cụm câu tự sự, các câu đẳng lập thường biểu thị các sự t́nh nối tiếp trong không gian, thời gian nhất định. - A Phủ ra quỳ giữa nhà. Lập tức, bọn trai làng xô đến, trước nhất chắp tay lạy lia lịa tên thống lí Pá Tra rồi quay lại đánh A Phủ. A Phủ quỳ chịu đ̣n, chỉ im như cái tượng đá. (Tô Hoài, Vợ chồng A phủ) - Hơi xe bọc thép chạy mỗi lúc một gần. Pháo bầy nổ càng gần hơn, nghe rào rào cành cây đổ. Việt day họng súng về hướng đó. Nếu mày đổ quân th́ súng tao c̣n đạn. (Nguyễn Thi, Những đứa con trong gia đ́nh). DẠNG 4: Mô h́nh tóm tắt: Đ1 - T1 . Đ2 (=T1) - T2 . Đ3 (=T2) - T3 . (...) . Đặc điểm nội dung: Đối tượng chủ đề trong câu sau chính là đặc trưng chủ đề hoặc một phần của đặc trưng chủ đề trong câu trước. Mỗi câu có đặc trưng chủ đề riêng và các đặc trưng này có một mối quan hệ lôgic nhất định. Đặc điểm h́nh thức: Lặp và thế là các phép liên kết thường được sử dụng. Đây chính là dạng liên kết móc xích. Thí dụ: [câu in chữ nhỏ không thuộc thí dụ] - Thị Nở nh́n hắn, lắc đầu thương hại. Hắn muốn làm nũng với Thị như với mẹ. - Tỏa ánh sáng của một tâm hồn lớn, Nhật kí trong tù cũng tỏa ánh sáng của một trí tuệ lớn. Đó là ánh sáng của thế giới quan, nhân sinh quan Mác - Lênin, là ánh sáng của những kinh nghiệm đấu tranh cách mạng phong phú được tổng kết sâu sắc của một lănh tụ vĩ đại. - Nguyên nhân của tất cả những đau khổ ấy là v́ đâu? Thúy Kiều và Nguyễn Du nói là v́ số mệnh. Nhưng số mệnh ở đây lại diễn ra dưới h́nh thức con người. Bọn người ấy khá đông. (Hoài Thanh) - Muốn xây dựng chủ nghĩa xă hội th́ phải tăng gia sản xuất. Muốn tăng gia sản xuất tốt th́ phải có kĩ thuật tiên tiến. Muốn sử dụng tốt kĩ thuật th́ phải có văn hóa. V́ vậy công việc bổ túc văn hóa là cực ḱ quan trọng. (Hồ Chí Minh) DẠNG 5: Bốn dạng trên có thể được dùng không thuần nhất nghĩa là có thể sử dụng pha trộn nhiều dạng trong một đoạn viết. Thí dụ: - Ngày xưa ở một làng nọ có một trái núi. Trên núi có một cái hang. Trước cửa hang có một tảng đá h́nh con thỏ. Giữa các câu vừa có yếu tố móc xích (dạng 4) vừa có yếu tố song hành (dạng 3). - Hơn trăm bài thơ của Nhật kí trong tù có nhiều bài thật tài hoa. Căn cứ vào những bài hay và tiêu biểu của tập thơ, người ta thấy màu sắc đậm đà nhất của hồn thơ Hồ Chí Minh là màu sắc cổ điển: giàu t́nh cảm đối với thiên nhiên, bút pháp chấm phá như muốn ghi lấy linh hồn của tạo vật, h́nh tượng nhân vật trữ t́nh ung dung, nhàn nhă, tâm hồn ḥa hợp với thiên nhiên vũ trụ. Nhưng cổ điển mà vẫn thể hiện tinh thần thời đại: h́nh tượng thơ luôn luôn vận động hướng về sự sống, ánh sáng và tương lai. (Văn học 12, Tập 1, Sách chỉnh lí hợp nhất năm 2000). Giữa hai câu cuối vừa có yếu tố móc xích (dạng 4) vừa có yếu tố cùng nói về một đối tượng (Hồn thơ HCM) nhưng với hai đặc trưng khác nhau (biến thể dạng 1). Tóm lại: 1) Cụm câu chứa các câu có quan hệ ngữ pháp văn bản đẳng lập có thể thuộc một trong 5 dạng: - Dạng 1: Cụm câu kết chuỗi các đặc trưng chủ đề. - Dạng 2: Cụm câu kết chuỗi các đối tượng chủ đề. - Dạng 3: Cụm câu kết chuỗi cả đối tượng và đặc trưng chủ đề. - Dạng 4: Cụm câu kết chuỗi theo lối móc xích. - Dạng 5: Cụm câu kết chuỗi hỗn hợp nhiều dạng. 2) Việc kết hợp ư của các câu có quan hệ đẳng lập trong cụm câu thuộc năm dạng trên có tác dụng lập ư, lập thông tin một cách phổ biến khiến các cụm câu làm được chức năng giao tiếp xă hội của ngôn ngữ. 3) Có thể từ quan hệ ngữ pháp đẳng lập giữa các câu trong cụm câu để suy ra mối quan hệ ngữ pháp đẳng lập giữa các cụm câu trong đoạn văn, giữa các đoạn văn trong mục, giữa các mục trong tiết, giữa các tiết trong chương... Ở trên là sự phân loại xuất phát từ tiêu chí đặc điểm nội dung và h́nh thức của các câu trong cụm câu. Nếu dựa vào khả năng hoán đổi vị trí giữa các câu có quan hệ ngữ pháp đẳng lập trong cụm câu, cụm các câu đẳng lập có thể được chia thành hai loại: có thể và không thể hoán đổi vị trí. Loại 1: Cụm câu trong đó có các câu có quan hệ đẳng lập có thể hoán đổi vị trí mà ư của cụm câu không đổi nếu không xét quan hệ giữa cụm câu này với các cụm câu xung quanh. Thí dụ: - Trời đă bắt đầu đêm, một đêm mùa hạ êm như nhung và thoảng qua gió mát. Đường phố và các ngơ con dần dần chứa đầy bóng tối. Các nhà đă đóng cửa im ỉm, trừ một vài cửa hàng c̣n thức nhưng cửa chỉ để hé ra một khe ánh sáng. (Thạch Lam) - Chó sủa xa xa. Chừng đă khuya. Lúc này là lúc trai đang đến bên vách làm hiệu, rủ người yêu rỡ vách ra rừng chơi. Mị nín khóc, Mị lại bồi hồi. (Tô Hoài) - Chúng lập ra nhà tù nhiều hơn trường học. Chúng thẳng tay chém giết những người yêu nước thương ṇi của ta. Chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong những bể máu. (Hồ Chí Minh) Ba cụm câu miêu tả, thuật sự và nghị luận ở trên là ba cụm câu chứa các câu đẳng lập liên hội giản đơn, các câu trong các cụm câu này có thể hoán đổi vị trí. Trong hai cụm câu trên, mỗi câu có đối tượng và đặc trưng chủ đề riêng. Trong cụm câu cuối, ba câu có chung đối tượng chủ đề và có đặc trưng chủ đề khác biệt. Trong từng cụm câu, các câu có quan hệ lôgic ngang hàng và cùng hướng vào chủ ư chung của từng cụm câu. Loại 2: Cụm câu trong đó có các câu có quan hệ đẳng lập không thể hoán đổi vị trí. Thí dụ: - A Phủ ra quỳ giữa nhà. Lập tức, bọn trai làng xô đến, trước nhất chắp tay lạy lia lịa tên thống lí Pá Tra rồi quay lại đánh A Phủ. A Phủ quỳ chịu đ̣n, chỉ im như cái tượng đá. (Tô Hoài) - Chim mỏi về rừng t́m chốn ngủ / Mây côi trôi nhẹ giữa tầng không / Xay ngô cô gái miền sơn cước/ Ngô lúc xay xong bếp cũng hồng. (Hồ Chí Minh) - Văn học dân gian là những sáng tác văn học do nhân dân sáng tác và lưu truyền (dân gian có nghĩa là ở trong dân). Văn học dân gian cũng là những sáng tác nghệ thuật ngôn từ như văn học viết. Văn học dân gian lại cùng với văn học viết hợp thành nền văn học dân tộc. Nhưng so với văn học viết, văn học dân gian có những đặc điểm riêng về lịch sử phát sinh và phát triển, về người sáng tác, về cách thức sáng tác và lưu truyền, về nội dung tư tưởng và thể loại nghệ thuật. (Sđd) Có thể thấy, các câu có quan hệ đẳng lập trong cụm câu thường có cấu trúc ngữ pháp ṇng cốt tương tự nhau, có vai tṛ ngang bằng nhau trong việc diễn đạt chủ đề của cụm câu. Vị trí của chúng trong cụm câu có thể được hoán đổi. Trường hợp không thể hoán đổi được th́ thường là v́ lí do phi ngữ pháp như lí do lôgic của thực tại được miêu tả, lí do ngữ âm, vần điệu của các từ trong các câu thành tố hoặc lí do câu sau có chứa kết ngữ, kết từ, đại từ, phụ từ, trợ từ́, tính từ có tác dụng liên kết. Sự liên hội giản đơn hoặc tiếp nối các ư của các câu trong cụm câu đẳng lập có tác dụng tạo ra các thông tin có mức độ hoàn chỉnh và có thể làm trọn một chức năng giao tiếp.
1.2 Quan hệ chính phụ giữa các đơn vị và kết cấu văn bản
Tương tự quan hệ chính phụ giữa các thành phần câu trong câu, các đơn vị và kết cấu văn bản trong văn bản cũng có mối quan hệ ngữ pháp chính phụ. Kết cấu văn bản gồm các thành tố có mối quan hệ ngữ pháp chính phụ khi trong kết cấu văn bản, có thành tố giữ vai tṛ chính về mặt ngữ pháp và các thành tố khác giữ vai tṛ phụ về mặt ngữ pháp.
a. Đặc điểm của quan hệ ngữ pháp chính phụ giữa các câu trong cụm câu:
-Về mặt ngữ pháp:
Trong cụm câu, câu chính giữ vai tṛ chính, câu phụ giữ vai tṛ phụ trong việc thể hiện ư chung của cụm câu. Câu chính quyết định quan hệ ngữ pháp văn bản của cả cụm câu với các cụm câu khác trong đoạn văn.
- Về mặt nội dung:
Câu chính diễn tả ư khái quát, toàn thể; câu phụ diễn tả ư cụ thể, bộ phận. Cần chú ư là trong phạm vi văn bản, tùy hoàn cảnh giao tiếp, các câu phụ về mặt ngữ pháp cũng có thể giữ vai tṛ chính về mặt thông báo. Tương tự như trong phạm vi câu, nhiều khi thành phần phụ về mặt ngữ pháp lại là tiêu điểm thông báo của câu. - Về mặt lôgic: Giữa ư của câu chính và ư của câu phụ có thể có mối quan hệ toàn thể - bộ phận, khái quát - cụ thể, nhận định - minh chứng, kết luận - tiền đề ... - Về mặt trật tự trước sau: Nh́n chung, trật tự giữa các câu không thể thay đổi. Muốn thay đổi trật tự, phải có sự biến cải câu, phải thay đổi hoặc/và thêm các từ có chức năng liên kết. Giữa các kết cấu văn bản cũng có thể có quan hệ ngữ pháp chính phụ. Trong trích đoạn Tài sắc chị em Thúy Kiều, cụm câu bốn ḍng giới thiệu khái quát Vân, Kiều và hai cụm câu nói cụ thể về Vân, Kiều sau đó có quan hệ chính phụ. Trong bài thơ bát cú Đường luật, phần đề và phần kết có quan hệ đẳng lập; chúng có quan hệ chính phụ với hai phần thực, luận. Trong bài làm văn của học sinh phổ thông cơ sở, thông thường, phần đặt vấn đề và phần giải quyết vấn đề có quan hệ chính phụ; phần giải quyết vấn đề và phần kết thúc vấn đề có quan hệ phụ chính; mỗi luận điểm trong phần giải quyết vấn đề thường được viết dưới dạng một đoạn văn và chúng có quan hệ đẳng lập. b. Các dạng cụm câu chứa các câu có quan hệ chính phụ DẠNG 1: Mô h́nh tóm tắt: Đ - T . Đa - Ta . Đb - Tb . Đc - Tc . (...) . Đặc điểm nội dung: Đối tượng chủ đề trong câu chính là đối tượng loại hay toàn thể. Đối tượng chủ đề trong các câu phụ là các đối tượng hạng hay bộ phận. Đặc trưng chủ đề của các câu phụ làm nhiệm vụ cụ thể hóa đặc trưng chủ đề của câu chính. Đặc điểm h́nh thức: Liên tưởng, lặp, thế, tỉnh lược là các phép liên kết thường được sử dụng. Các kiểu chính: [Trong các thí dụ, câu chính in thẳng, câu phụ in nghiêng] - Đối tượng được nói tới trong trong câu chính và các câu phụ có quan hệ tập hợp - thành tố hoặc loại - hạng. Thí dụ: Tóm lại, mỗi dạng nói hay viết có một ưu thế riêng, cần phân biệt rơ để sử dụng. Ưu thế của dạng nói là trao đổi ư kiến trực tiếp, dùng ngữ điệu kèm theo cử chỉ, nét mặt, điệu bộ. Ưu thế của dạng viết là được chuẩn bị, gọt giũa, được định h́nh trên giấy để có thể xem lại. (Tiếng Việt 11, Sách chỉnh lí và hợp nhất năm 2000, Nxb GD) - Đối tượng được nói tới trong câu chính và các câu phụ có quan hệ toàn thể - bộ phận. Thí dụ: Mười tám tuổi, Ly chợt sáng bừng lên như một đóa hồng nhung buổi sáng. Tóc Ly bóng mượt, lượn sóng sau những bước đi uyển chuyển. Thân h́nh nẩy nở, đôi mắt đen biêng biếc, long lanh, đôi môi hồng rạng rỡ. Cả giọng nói h́nh như cũng khác, một giọng nói vừa ngọt ngào như mật, vừa nhẹ êm như gió thoảng. Cả tiếng cười cũng khác: vừa ấm như nắng mùa đông, vừa trong ngần như giọt pha lê. (Lê Thúy Bảo Nhi, Hai chị em, Giải ba cuộc vận động sáng tác Văn học tuổi 20, Tuổi trẻ chủ nhật số 36/2000) DẠNG 2: Mô h́nh tóm tắt: Đ - T . Đ - Ta . Đ - Tb . Đ - Tc . (...) . Đặc điểm nội dung: Các câu cùng nói về một đối tượng chủ đề; đặc trưng chủ đề của các câu phụ cụ thể hóa đặc trưng chủ đề của câu chính. Đặc điểm h́nh thức: Lặp, thế là các phép liên kết thường được dùng nhiều để cùng diễn tả một đối tượng chủ đề; liên tưởng là phép liên kết thường được dùng để diễn tả quan hệ bao hàm hoặc chỉnh thể - bộ phận trong các đặc trưng chủ đề. Thí dụ: - Tiêu biểu cho bộ mặt giai cấp thống trị trong Tam Quốc là Tào Tháo... Khi chưa có thời cơ, y biết núp dưới lá cờ trung nghĩa. Y biết dùng các thủ thuật để mị dân, để chinh phục người tâm phúc. Song khi không cần và không thể che đậy dă tâm, y sẵn sàng tuyên bố công khai mục tiêu của kẻ anh hùng là nuốt toàn vũ trụ, phương châm sống phải là: Thà để ta phụ người chứ không để người phụ ta (1) - Chiều hôm ấy, bà Hai về nhà với vẻ khác thường. Bà bước từng bước uể oải, cái mặt cúi xuống bần thần, đôi quang thúng thơng thẹo trên hai mấu đ̣n gánh. Bà đi thẳng vào trong nhà, lúi húi xếp hàng vào một xó, rồi lẳng lặng ra bậc cửa nồi nghĩ ngợi. DẠNG 3: Nội dung được nói tới trong câu chính và các câu phụ có quan hệ nhận định - minh chứng hoặc nhận định - lí do. Thí dụ: - Thơ Tố Hữu không gây ngạc nhiên ở những từ ngữ mới lạ, h́nh ảnh tân ḱ, mà ở những phối âm tài hoa của thanh điệu ngôn ngữ: Thác bao nhiêu thác, cũng qua / Thênh thênh là chiếc thuyền ta trên đời Nỗi niềm chi rứa Huế ơi! / Mà mưa xối xả trắng trời Thừa Thiên - Nhạc điệu câu thơ cũng khác. V́ những chỗ ngắt hơi không nhất định. Nhất là v́ cái lối dùng chữ rớt đă được nhập tịch đường hoàng. (Hoài Thanh) DẠNG 4: Các câu phụ diễn tả các ư liệt kê; các ư liệt kê này được diễn tả trong những câu riêng. Thí dụ: Đối với một Đảng nắm chính quyền phải đề pḥng hai nguy cơ. Một là, nguy cơ sai lầm trong đường lối, chủ trương, chính sách. Hai là, nguy cơ cán bộ xa ĺa quần chúng, hủ hóa về tư tưởng (2). DẠNG 5: Các câu phụ diễn tả các tiền đề (in nghiêng); câu chính diễn tả kết luận (in thẳng). Dạng này tồn tại trong các cụm câu có cấu trúc quy nạp hoặc cấu trúc kiểu lập luận ba đoạn. Thí dụ: Không phải bây giờ Việt Nam mới đặt vấn đề phát huy nội lực đâu. Vấn đề này đă được đề cập tới nhiều trong nghị quyết của Đảng và kế hoạch của Chính phủ, nhưng kết quả chưa được như mong muốn. V́ vậy trong Nghị quyết Trung ương bốn, chúng tôi nhấn mạnh phát huy nội lực. Phát huy nội lực gồm nhiều mặt: phát huy trí tuệ của nhân dân, sức lao động của con người, tài nguyên của đất nước, vốn liếng của nhân dân... chứ không đơn thuần là chỉ có huy động 5-6 tỉ USD c̣n tiềm ẩn trong nhân dân. Nếu có phát huy nội lực tốt th́ mới có thể thu hút được nguồn vốn từ bên ngoài và sử dụng chúng có hiệu quả. V́ vậy, đây không phải là sự thay đổi chính sách của Việt Nam nhằm đối phó với cuộc khủng hoảng tiền tệ ở khu vực. (Lê Khả Phiêu - Trả lời phỏng vấn - Theo Tuổi trẻ, Thứ năm 7-5-98) Tóm lại: 1) Cụm câu chứa các câu có quan hệ ngữ pháp văn bản chính phụ có thể thuộc một trong 5 dạng: - Dạng 1: Các câu phụ cụ thể hóa cả đối tượng và đặc trưng chủ đề của câu chính - Dạng 2: Các câu phụ cụ thể hóa đặc trưng chủ đề của câu chính. - Dạng 3: Các câu phụ là dẫn chứng chứng minh ư trong câu chính. - Dạng 4: Các câu phụ liệt kê các ư thuộc phạm vi ư được nêu trong câu chính. - Dạng 5: Các câu phụ là tiền đề cho kết luận trong câu chính. 2) Việc kết hợp ư của các câu có quan hệ chính phụ trong cụm câu thuộc năm dạng trên có tác dụng lập ư, lập thông tin một cách phổ biến khiến các cụm câu làm được chức năng giao tiếp xă hội của ngôn ngữ. 3) Có thể từ quan hệ ngữ pháp chính phụ giữa các câu trong cụm câu để suy ra mối quan hệ ngữ pháp chính phụ giữa các cụm câu trong đoạn văn, giữa các đoạn văn trong mục, giữa các mục trong tiết, giữa các tiết trong chương... Cần chú ư là: Trong một câu có thể tồn tại nhiều quan hệ ngữ pháp th́ giữa các câu trong một khổ viết, cũng có thể tồn tại cả quan hệ đẳng lập và chính phụ. Thí dụ 1: (1)Trước hết ta không nên quên rằng trong văn nghệ cũng như trong triết học, cũng như trong phạm vi chính trị, tự do là một vấn đề tương đối, không phải một vấn đề tuyệt đối. (2) Mọi sự lạm dụng xung quanh danh từ đó đều có thể gây nên ảnh hưởng xấu. (3) Trên quả địa cầu này, ai là người có thể muốn làm ǵ th́ làm, muốn ǵ th́ muốn? (4) Ai là người có khối óc thông minh tuyệt đối, có một nghị lực không giới hạn? (5) Phần không gian và thời gian mà ḿnh được hưởng trên trường sinh hoạt chung, lực lượng của ḿnh về phần tinh thần, thể phách đều là những giới hạn của ư muốn ḿnh. (6) Sức hành động của mọi người chỉ có thể vận dụng trong bấy nhiêu điều kiện của tự nhiên của nhân tính. (7) Tự do không phải là một quyền lợi vô hạn lượng, không phải là một năng lượng tuyệt đối. (Đặng Thai Mai, Văn học khái luận). Trong khổ viết này: - Câu (1) và câu (7) cùng diễn đạt ư khái quát của cả 7 câu. Chúng có quan hệ đẳng lập tiếp nối. Kết ngữ Trước hết trong câu (1) khiến nó có vị trí trước câu (7). Câu (7) là câu kết ư diễn giải lại ư trong câu chủ ư. - Câu (3), (4), (5), (6) có quan hệ đẳng lập v́ cùng có chức năng cụ thể hóa câu (1) (là câu diễn đạt ư hạt nhân), cùng là cơ sở cho sự hiện hữu của câu (7) kết ư. Trong đó, hai câu (3), (4) có quan hệ đẳng lập liên hội giản đơn, cả hai cùng là câu hỏi tu từ, có cấu trúc ngữ pháp tương tự; hai câu (5), (6) có quan hệ đẳng lập tiếp nối: câu (6) phải đi sau câu (5) v́ chứa đại từ chỉ lượng bấy nhiêu thay thế cho các điều kiện có mặt trong câu (5). Ngoài ra, cặp câu (3), (4) và cặp câu (5), (6) cũng có quan hệ đẳng lập liên hội giản đơn, v́ hai cặp câu này cùng có chức năng cụ thể hóa câu (1), cùng tạo cơ sở để đi đến ư trong câu (7). - Câu (2) chứa ngữ danh từ đó thay thế cho danh từ tự do có trong câu (1), nó phải đi sau câu (1). Tuy nhiên, danh từ tự do cũng có mặt trong câu (7) nên nó cũng có thể được đặt sau câu (7) này. Như vậy nếu 7 câu trên bị xáo trộn v́ một lí do nào đó, ta có thể dựa vào quan hệ ngữ pháp giữa chúng để sắp xếp lại theo các trường hợp sau: (1), (2), (3), (4), (5), (6), (7) (cách của tác giả) (1), (2), (4), (3), (5), (6), (7) (v́ 3, 4 đẳng lập liên hội giản đơn) (1), (2), (5), (6), (3), (4), (7) (v́ 5, 6 đẳng lập liên hội gđ với 3, 4) (1), (2), (5), (6), (4), (3), (7) (v́ như trên và 3, 4 đẳng lập liên hội gđ) (1), (3), (4), (5), (6), (7), (2) (v́ đại từ đó trong 2 thay thế tự do trong 7) (1), (4), (3), (5), (6), (7), (2) (v́ như trên và 3, 4 đẳng lập liên hội gđ) (1), (5), (6), (3), (4), (7), (2) (v́ 2 có thể đi sau 7; 3 đẳng lập liên hội (1), (5), (6), (4), (3), (7), (2) với 4 và 3, 4 đẳng lập liên hội với 5, 6)́ Thí dụ 2: (1) Rồi Ly mười tám tuổi. (2) Mười tám tuổi, Ly chợt sáng bừng lên như một đóa hồng nhung buổi sáng. (3) Tóc Ly bóng mượt, lượn sóng sau những bước đi uyển chuyển. (4) Thân h́nh nẩy nở, đôi mắt đen biêng biếc, long lanh, đôi môi hồng rạng rỡ. (5) Cả giọng nói h́nh như cũng khác, một giọng nói vừa ngọt ngào như mật, vừa nhẹ êm như gió thoảng. (6) Cả tiếng cười cũng khác: vừa ấm như nắng mùa đông, vừa trong ngần như giọt pha lê. (7) Ly đẹp đến bất cứ ai cũng sững sờ. (8) Khi Ly ra phố, những người khác qua đường chợt quay lại nh́n. (9) Những thanh niên ngồi trong quán vỉa hè th́ huưt sáo. (10) C̣n những người đàn ông có tuổi cố giấu những tiếng thở dài. (Truyện đă dẫn) Trong trích đoạn trên, câu (2) có quan hệ chính phụ với các câu (3), (4), (5), (6) v́ bốn câu này có cấu trúc ngữ pháp ṇng cốt tương tự, có chức năng cụ thể hóa ư trong câu (2). Câu (2) là câu chính (diễn ư toàn thể), các câu (3), (4), (5), (6) là các câu phụ, có quan hệ đẳng lập tiếp nối theo quan hệ lôgic ngang hàng (diễn các ư bộ phận). Câu (7) có quan hệ chính phụ với các câu (8), (9), (10) v́ ba câu này có cấu trúc ngữ pháp ṇng cốt tương tự, có chức năng cụ thể hóa ư trong câu (7). Câu (7) là câu chính (diễn ư chung, khái quát), các câu (8), (9), (10) là các câu phụ có quan hệ đẳng lập tiếp nối (diễn ư cụ thể theo lôgic tiệm tiến). Câu (2) và (7) có quan hệ đẳng lập tiếp nối với nhau và với câu (1). Liên hợp ba câu (1), (2) và (7) làm nên ṇng cốt thông báo của kết cấu văn bản này. Như vậy, có thể nói kết cấu văn bản trên là một đoạn văn gồm ba cụm câu có quan hệ đẳng lập tiếp nối: cụm câu 1 gồm câu (1); cụm câu 2 gồm các câu (2), (3), (4), (5), (6); cụm câu 3 gồm các câu (7), (8), (9), (10). Mỗi cụm câu có một cấu trúc đề - thuyết riêng. Về mặt thông báo, cụm câu 1 (Rồi Li mười tám tuổi) có chức năng mở ư kết hợp chuyển ư. Hai cụm câu c̣n lại, một nói về vẻ đẹp của Li, một nói về tác động của vẻ đẹp ấy tới mọi người xung quanh. Ở quy mô lớn hơn, trong văn bản, cũng có thể có các kết cấu văn bản đẳng lập, kết cấu văn bản chính và kết cấu văn bản phụ. Bản Tuyên ngôn độc lập của Hồ Chủ tịch được mở đầu bằng năm khổ viết, bốn cụm câu như sau: Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền b́nh đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc.. (cụm câu 1 gồm hai câu) Lời bất hủ ấy ở trong bản Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của nước Mĩ. Suy rộng ra, câu ấy có nghĩa là: tất cả các dân tộc trên thế giới sinh ra đều b́nh đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do. (cụm câu 2 gồm hai câu) Bản Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của cách mạng Pháp năm 1791 cũng nói: Người ta sinh ra tự do và b́nh đẳng về quyền lợi, và phải luôn luôn được tự do và b́nh đẳng về quyền lợi.(cụm câu 3 gồm hai câu, câu sau vốn là bổ tố của câu trước) Đó là những lẽ phải không ai chối căi được. (cụm câu 4 gồm một câu) Trong trích đoạn trên, cụm câu 1 là một dẫn văn có tính chất tiền đề, cụm câu 2 nêu xuất xứ của văn dẫn và ư suy diễn, kết luận từ tiền đề được nêu trong cụm câu 1. Tương tự, cụm câu 3 nêu tiền đề và xuất xứ của nó, cụm câu 4 bàn luận, suy diễn về nội dung được trích dẫn trong cụm câu 3. Như vậy: - Cụm câu 1 và cụm câu 3 cùng có nội dung nêu tiền đề, cùng giữ vai tṛ phụ về mặt ngữ pháp; - Cụm câu 2 và cụm câu 4 cùng có nội dung suy diễn, kết luận từ cụm câu nêu tiền đề trước nó nên cùng giữ vai tṛ chính về mặt ngữ pháp. Chúng quyết định vai tṛ ngữ pháp của kết cấu chính phụ nên hai cụm câu 1, 2 và hai cụm câu 3, 4 có quan hệ đẳng lập. Ở đây, hai cụm câu 1, 2 thực tế đă tạo nên một đoạn văn, hai cụm câu 3, 4 đă tạo thành một đoạn văn khác nên chúng phải được coi là hai đoạn văn có quan hệ đẳng lập thuộc phần mở đầu của bài Tuyên ngôn.