THÔNG BÁO

  THỜI GIAN GẦN ĐÂY MỘT SỐ BẠN LỢI DỤNG  WEBSITE NÀY ĐỂ ĐƯA RA NHỮNG PHÁT NGÔN KHÔNG TỐT. CHO NÊN CHÚNG TÔI TẠM THỜI ĐÓNG WEBSITE LẠI ĐỂ NÂNG CẤP NHẰM HẠN CHẾ MỘT SỐ HÀNH VI KHÔNG TỐT LÀM ẢNH HƯỞNG ĐẾN DIỄN ĐÀN .CÁC BẠN CÓ THẮC MẮC XIN LIÊN HỆ : phanthanhhung90@gmail.com
CÁC PHONG CÁCH CHỨC NĂNG NGÔN NGỮ TIẾNG VIỆT
I- VẤN ĐỀ PHÂN LOẠI
1- Ư nghĩa:
Đứng về mặt ngôn ngữ học th́ việc phân loại và miêu tả các phong cách chức năng ngôn ngữ tiếng Việt là yêu cầu lí thuyết đặt ra cho bất ḱ ngôn ngữ nào đă và đang ở thời ḱ phát triển. Trong giao tiếp, phong cách chức năng ngôn ngữ luôn giữ vai tṛ môi giới. Tất cả những nét phong phú và sâu sắc, thâm thuư và tinh tế, tất cả những khả năng biến hoá của tiếng Việt đều thể hiện trong phong cách và qua phong cách. Tất cả những vấn đề quan trọng như Giữ ǵn sự trong sáng của tiếng Việt, Chuẩn hoá ngôn ngữ,phát triển và nâng cao tiếng Việt văn hoá... đều phải được giải quyết trong sự gắn bó mật thiết với phong cách. Mọi sự non kém, thiếu sót về ngôn ngữ đều sẽ bộc lộ khi sử dụng các phong cách chức năng ngôn ngữ. Đối với nhà trường, sự phân loại và miêu tả các PC sẽ tạo ra những cơ sở khoa học về tiếng Việt để biên soạn những tài liệu học tập, giảng dạy hoàn chỉnh về tiếng Việt. Sự phân loại và miêu tả các phong cách có ư nghĩa về nhiều mặt: ư nghĩa xă hội, ư nghĩa lí luận và ư nghĩa sư phạm.
2- Các cách phân loại PCNN:
Việc phân loại các phong cách chức năng là một vấn đề đă được đặt ra từ thời Mĩ từ pháp cổ đại với lược đồ bánh xe phong cách của Virgile. Riêng ở Việt Nam vấn đề này chỉ mới thực sự quan tâm từ khi có các giáo tŕnh về phong cách học. Cụ thể là trong quyển Giáo tŕnh Việt ngữ tập III của Đinh Trọng Lạc xuất bản năm 1964. Từ đó đến nay đă có rất nhiều quan điểm khác nhau về cách phân loại các PCCNTV. Và, thực tế vấn đề này vẫn chưa có tiếng nói chung cả về số lượng các phong cách và cả về thuật ngữ.. Có thể khảo sát hai quan điểm về cách phân loại qua hai bộ giáo tŕnh Phong cách học và đặc điểm tu từ tiếng Việt của giáo sư Cù Đ́nh Tú và Phong cách học tiếng Việt của giáo sư Đinh Trọng Lạc (chủ biên ) và Nguyễn Thái Hoà. 1-GS Cù Đ́nh Tú phân loại dựa trên sự đối lập giữa PC khẩu ngữ tự nhiên và PC ngôn ngữ gọt giũa. Sau đó, trên cơ sở chức năng giao tiếp của xă hội mà chia tiếp PC ngôn ngữ gọt giũa thành : PC khoa học, PC chính luận, PC hành chính. PC ngôn ngữ văn chương được khảo sát riêng không nằm trong phong cách ngôn ngữ gọt giũa. Sơ đồ phong cách tiếng Việt được biểu hiện như sau : Tiếng Việt toàn dân
Phong cách khẩu ngữ tự nhiên Phong cách ngôn ngữ gọt giũa
Phong cách khoa học Phong cách chính luận Phong cách hành chính Phong cách ngôn ngữ văn chương
2- GS Đinh Trọng Lạc phân loại phong cách chức năng tiếng Việt ra làm 5 loại : PC Hành chính- công vụ, PC khoa học- kỹ thuật, PC báo chí- công luận, PC chính luận và PC sinh hoạt hàng ngày. Theo giáo sư, lời nói nghệ thuật không tạo ra phong cách chức năng riêng mà chỉ là một kiểu chức năng của ngôn ngữ. So sánh hai cách phân loại trên chúng ta thấy: Cách thứ nhất phân loại c̣n thiếu một phong cách CNNN đang tồn tại thực tế hiện nay trong tiếng Việt , đó là PC thông tấn ( Ở đây chúng tôi dùng thuật ngữ thông tấn thay cho thuật ngữ báo chí ). Cách thứ hai lại không có PC ngôn ngữ văn chương trong hệ thống PCCNNN tiếng Việt . Điều này không đảm bảo tính hệ thống của PCCNNN tiếng Việt và mâu thuẫn về khái niệm phong cách đă được đề cập ở phần phân loại của tác giả. Giáo tŕnh này phân loại các PCCNNN tiếng Việt ra làm 6 loại. Đó là : PC khẩu ngữ, PC khoa học, PC thông tấn, PC chính luận, PC hành chính và PC văn chương.
II- MIÊU TẢ CÁC PCCN NGÔN NGỮ TIẾNG VIỆT
1- Phong cách khẩu ngữ:
a- Khái niệm:
Phong cách KN là phong cách được dùng trong giao tiếp sinh hoạt hàng ngày, thuộc hoàn cảnh giao tiếp không mang tính nghi thức. Giao tiếp ở đây thường với tư cách cá nhân nhằm để trao đổi tư tưởng, t́nh cảm của ḿnh với người thân, bạn bè, hàng xóm, đồng nghiệp, đồng hành,... PCKN có các dạng thể hiện như : chuyện tṛ, nhật kí, thư từ. Trong đó chuyện tṛ thuộc h́nh thức hội thoại, nhật kí thuộc h́nh thức văn bản tự thoại và thư từ thuộc h́nh thức văn bản cách thoại. Tuy nhiên, có thể thấy ở phong cách này, dạng nói là dạng giao tiếp chủ yếu. Ở dạng này tất cả những nét riêng trong sự thể hiện như: đặc trưng, đặc điểm ngôn ngữ được bộc lộ rơ và hết sức tiêu biểu. Có điều cần phải chú ư là không phải dạng nói nào cũng thuộc PCKN. Chỉ có những lời nói ( chuyện tṛ) trong giao tiếp mang tính không nghi thức mới thuộc PCKN. Ở PC này người ta c̣n chia làm hai dạng: PCKN văn hoá và PCKN thông tục. Ở mỗi dạng này lại có sự thể hiện riêng cả về đặc trưng cũng như về đặc điểm ngôn ngữ. Do đó, mỗi PCCNNN không phải là một khuôn mẫu khô cứng.
b- Chức năng và đặc trưng:
1- Chức năng :
PCKN có các chức năng : trao đổi tư tưởng t́nh cảm và chức năng tạo tiếp. Những vấn đề mà PCKN đề cập không chỉ là những vấn đề cụ thể, đơn giản trong đời sống t́nh cảm, sinh hoạt hàng ngày mà c̣n là những vấn đề trừu tượng, phức tạp như chính trị xă hội, khoa học, nghệ thuật, triết học,...
2- Đặc trưng:
PCKN có 3 đặc trưng :
2.1- Tính cá thể:
Đặc trưng này thể hiện ở chỗ khi giao tiếp, người nói bao giờ cũng thể hiện vẻ riêng về thói quen ngôn ngữ của ḿnh khi trao đổi, chuyện tṛ, tâm sự với người khác. Ngôn ngữ là công cụ chung dùng để giao tiếp trong một cộng đồng nhưng ở mọi người có sự vận dụng và thể hiện không giống nhau do nhiều nguyên nhân như: nghề nghiệp, lứa tuổi, giới tính, tâm lí, tính cách, tŕnh độ học vấn, văn hoá... Đặc trưng này khiến cho sự thể hiện của phong cách KN cực ḱ phong phú, phức tạp, đa dạng.
2.2- Tính cụ thể:
Ở PCKN, những cách nói trừu tượng, chung chung tỏ ra không thích hợp. Điều này do giao tiếp ở đây thường là giao tiếp hội thoại, sự tiếp nhận và phản hồi thông tin, t́nh cảm cần phải tức thời và ngắn gọn. Đặc trưng này đă giúp cho sự giao tiếp trong sinh hoaüt hàng ngày trở nên nhanh chóng, dễ dàng, ngay trong trường hợp phải đề cập đến những vấn đề trừu tượng. Ví dụ: Tôi cười nhạt: - Nghe anh nói, tôi nản quá. Như vậy cuộc kháng chiến của ta có lẽ đến hỏng à? Anh chộp lấy câu của tôi, nhanh như một con mèo vồ con chuột: - Âúy đấy, tôi bi lắm. Cứ quan sát kĩ th́ rất nản. Nhưng tôi chưa nản có lẽ chỉ v́ tôi tin vào Ông Cụ. Tôi cho rằng cuộc Cách mạng tháng Tám cũng như cuộc kháng chiến hiện nay chỉ ăn v́ người lănh đạo cừ. Hồ Chí Minh đáng lẽ phải cứu văn một nước như thế nào kia, mới xứng tài. Phải cứu một nước như nước ḿnh kể cũng khổ cho Ông Cụ lắm. Anh tính tượng trưng cho phong trào giải phóng cả một cái đệ tứ cường quốc là Đại Pháp mà cũng chỉ có đến thằng Đờ Gôn. Tôi nhắc đến tên mấy nhân vật kháng chiến cũ của Pháp, c̣n đáng tiêu biểu bằng mấy Đờ Gôn. Anh lắc đầu: - Bằng thế nào được Hồ Chí Minh! Và anh tiếp: - Ông Cụ làm những việc nó cừ quá, đến nỗi tôi cứ cho rằng dù dân ḿnh có tồi đi nữa, Ông Cụ xoay quanh rồi cũng cứ độc lập như thường. Những cú như cú Hiệp định sơ bộ mồng 6 tháng 3 th́ đến chính thằng Mĩ cũng phải lắc đầu: nó cho rằng không thể nào bịp Ông Già nổi. Thằng Pháp th́ nghĩa lí ǵ? Bệt lắm rồi. Không có thằng Mĩ xui th́ làm ǵ Pháp dám trở mặt phản Hiệp định mồng 6 tháng 3? Ḿnh cho nó như vậy là đă phúc đời nhà nó rồi. Đáng lẽ nó phải làm chằng chằng lấy chứ? (Nam Cao)
2.3- Tính cảm xúc:
Đặc trưng này gắn chặt với tính cụ thể. Khi giao tiếp ở phong cách KN người ta luôn luôn bộc lộ thái độ tư tưởng, t́nh cảm của ḿnh đối với đối tượng được nói đến. Những cách diễn đạt đầy màu sắc t́nh cảm đă nảy sinh trực tiếp từ những t́nh huống cụ thể trong thực tế đời sống muôn màu muôn vẻ. Chính thái độ, t́nh cảm, cảm xúc làm thành nội dung biểu hiện bổ sung của lời nói, giúp người nghe có thể hiểu nhanh chóng, hiểu sâu sắc nội dung cơ bản và nhất là mục đích, ư nghĩa của lời nói. Ví dụ: Anh Mịch nhăn nhó nói: - Lạy ông, ông làm phúc tha cho con, mai con phải đi làm trừ nợ cho ông Nghị, kẻo ông ấy đánh chết. Ông Lí cau mặt, lắc đầu, giơ roi song to bằng ngón chân cái lên trời, dậm dọa: - Kệ mày, theo lệnh quan, tao chiếu sổ đinh, th́ lần này đến lượt mày rồi. - Cắn cỏ con lạy ông trăm ngh́n mớ lạy, ông mà bắt con đi, th́ ông Nghị ghét con, cả nhà con khổ. - Th́ mày hẹn làm ngày khác với ông ấy, không được à? - Đối với ông Nghị, con là chỗ đầy tớ, con sợ lắm. Con không dám nói sai lời, v́ là chỗ con nhờ vả quanh năm. Nếu không, vợ con con chết đói. - Chết đói hay chết no, tao đây không biết, nhưng giấy quan đă sức, tao cứ phép tao làm. Đứa nào không tuân, để quan gắt, tao tŕnh th́ rũ tù. ( Nguyễn Công Hoan) c- Đặc điểm ngôn ngữ: 1- Ngữ âm : Khi nói năng ở PC này người ta không có ư thức hướng tới chuẩn mực ngữ âm mà nói năng thoải mái, không những trong phát âm mà cả trong điệu bộ cử chỉ. Chính v́ đặc điểm này mà chúng ta thấy PCKN là PC tồn tại rất nhiều những biến thể ngữ âm. Ngữ điệu trong PCKN mang dấu ấn riêng của cá nhân, có tính chất tự nhiên , tự phát. Trong một số trường hợp, ngữ điệu là nội dung thông báo chính chứ không phải là lời nói. 2- Từ ngữ: - Đặc điểm nổi bật nhất của PC này là thường dùng những từ mang tính cụ thể, giàu h́nh ảnh và sắc thái biểu cảm. - Khi gọi tên hàng ngày, người ta không thích dùng tên khai sinh v́ cách gọi này thường kém cụ thể, ít gợi cảm. Người ta t́m những cách đặt tên khác có khả năng gợi ra h́nh ảnh, đặc điểm cụ thể riêng biệt thường có ở một cá nhân. - Những từ biểu thị các nhu cầu vật chất và tinh thần thông thường ( như ăn, ở, đi lại, học hành, thể dục thể thao, chữa bệnh, mua bán, giao thiệp, vui chơi, giải trí, sinh hoạt trong gia đ́nh, trong làng xóm...) chiếm tỉ lệ lớn, có tần suất cao. * Một số hiện tượng nổi bật: + Có một lớp từ chuyên dùng cho PCKN mà ít dùng ở các PC khác. Ví dụ: Hết xảy, hết ư, số dách, bỏ bố, bỏ mẹ, cút, chuồn... Những tiếng tục, tiếng lóng cũng chỉ dùng ở PC này. + Sử dụng nhiều từ láy và đặc biệt là láy tư. Ví dụ như: đỏng đa đỏng đảnh, nhí nha nhí nhảnh, tầm bậy tầm bạ, lí la lí lắt... Có khi sử dụng kiểu láy chen như: -Làm ăn như tao thật là đáng chết, khách đến th́ ít mà khứa đến th́ nhiều. + Hay dùng cách nói tắt. Ví dụ : Nhân khẩu ( khẩu; chán nản ( nản; bi quanàbi. + Sử dụng những kết hợp không có quy tắc. Ví dụ: Đẹp ( đẹp mê hồn, đẹp mê li rụng rốn, đẹp tàn canh giá lạnh, đẹp ve kêu, đẹp bá chấy... + Thường dùng những từ tượng thanh, tượng h́nh. + Thường dùng cách nói ví von, so sánh, chuyển nghĩa ẩn dụ hoặc hoán dụ. 3- Cú pháp: - Trong tổng số những cấu trúc cú pháp được sử dụng ở PC này, câu đơn chiếm tỉ lệ lớn và có tần suất cao. Đặc biệt, câu gọi tên ( như: câu cảm thán, câu chào hỏi, ứng xử...) được sử dụng nhiều. - Đặc điểm nổi bật ở PC này là tồn tại hai xu hướng trái ngược nhau. Một mặt, khẩu ngữ dùng kết cấu tỉnh lược, có khi tỉnh lược đến mức tối đa nói bằng sự để trống hoàn toàn, mặt khác, dùng các kết cấu cú pháp có xen những yếu tố dư, lặp lại, có khi dư thừa một cách dài ḍng lủng củng. Đây là một ví dụ về cách nói có xen nhiều yếu tố dư: Bác Phô gái, dịu dàng, đặt cành cau lên bàn, ngồi xổm ở xó cửa, găi tai, nói với ông Lí: - Lạy thầy, nhà con th́ chưa cất cơn, mấy lại sợ thầy mắng chửi, nên không dám đến kêu. Lạy thầy, quyền phép trong tay thầy, thầy tha cho nhà con, đừng bắt nhà con đi xem đá bóng vội. - Ồ, việc quan không phải như chuyện đàn bà của các chị! - Th́ lạy thầy, thế này, làng ta th́ đông, thầy cắt ai không được. Tại nhà con ốm yếu, nên xin thầy hoăn cho đến lượt sau. - Ốm gần chết cũng phải đi. Lệnh quan như thế. Ai cũng lấy cớ ốm yếu mà không đi, th́ người ta đá bóng cho chó nó xem à? ( Nguyễn Công Hoan) d- Diễn đạt: Do được dùng trong sinh hoạt hàng ngày nên PCKN có tính tự do, tuỳ tiện và phụ thuộc rất nhiều vào tâm lí, cảm hứng của người trong cuộc. Điều này dẫn đến t́nh trạng đề tài, đối tượng được đề cập trong PCKN ít khi tập trung, đứt đoạn, ư nọ xọ ư kia, thiếu tính liên tục. Ví dụ: Hoàng:- Lần thi này mày có dùng phao không? Minh:- Không. Giám thị coi ngặt quá. Có lẽ thi lại. Thành:- Thế mà vẫn có đứa phao được đấy. Nó giả vờ đau bụng ra ngoài. Hoàng:- Cứ phải học chắc th́ vẫn hơn. À, chiều nay ta đi bách hoá cái nhỉ. Thành:- Làm ǵ? Hoàng:- Mua miếng vải may quần. Minh:- Mua vải làm ǵ? Mua quần may sẵn có hơn không? Chiều vào Hà Đông đi. Chấn:- Hà Đông dạo này đang làm lại cái cầu to lắm. Thành:- Thị xă này bây giờ rất đẹp. Hai bờ sông đă kè đá cả rồi. Như sông Nhêva ấy. Minh:- Mày đi Nga rồi à? Thành:- Không. Nghe người ta nói thế. Hoàng:- Tao đă uống cà phê ở quán Hương Giang một lần. Cạnh bờ sông, mát lắm. Minh:- Chẳng bằng quán Anh Chi ở Hồ Tây. Chấn:- Mai lớp ḿnh có phụ đạo triết học không? Hoàng:- H́nh như vào buổi chiều. Triết học loằng ngoằng quá, 76 câu hỏi. Thành:- Cô giáo không hạn chế th́ toi... [4, 90, 91]
2- Phong cách khoa học:
a- Khái niệm:
PC khoa học là PC được dùng trong lĩnh vực nghiên cứu, học tập và phổ biến khoa học. Đây là PC ngôn ngữ đặc trưng cho các mục đích diễn đạt chuyên môn sâu. Khác với PCKN, PC này chỉ tồn tại chủ yếu ở môi trường của những người làm khoa học ( ngoại trừ dạng phổ cập khoa học). PC khoa học có ba biến thể: PC khoa học chuyên sâu, PC khoa học giáo khoa và PC khoa học phổ cập. Khác với PC khẩu ngữ, ở PC này dạng viết là tiêu biểu. b- Chức năng và đặc trưng: 1- Chức năng: PC khoa học có hai chức năng là: thông báo và chứng minh. Một vài giáo tŕnh trước đây cho rằng PCKH có chức năng chủ yếu là thông báo [14],[15]. Quan niệm trên tỏ ra không bao quát hết bản chất của PC này. Chính chức năng chứng minh tạo nên sự khu biệt giữa PCKH với các PC khác. Văn bản thuộc PC này không chỉ thuần thông báo các sự kiện, sự vật tồn tại trong thực tế khách quan mà c̣n phải chứng minh, làm sáng tỏ ư nghĩa của các sự kiện ấy. 2- Đặc trưng: PC khoa học có 3 đặc trưng :
2.1- Tính trừu tượng- khái quát:
Mục đích của khoa học là phát hiện ra các quy luật tồn tại trong các sự vật, hiện tượng nên phải thông qua trừu tượng hoá, khái quát hoá khi nhận thức và phản ánh hiện thực khách quan. Trừu tượng hoá chính là con đường của nhận thức lí tính giúp ta thoát khỏi những nhận biết lẻ tẻ, rời rạc ở giai đoạn cảm tính. Ví dụ , để có khái niệm PCCNNN, người ta đă phải trừu tượng hoá tất cả các văn bản, các dạng lời nói trong quá tŕnh hoạt động ngôn giao.
2.2- Tính logic:
Cách diễn đạt của PC khoa học phải biểu hiện năng lực tổng hợp của trí tuệ, phải tuân theo quy tắc chặt chẽ từ tư duy logic h́nh thức đến tư duy logic biện chứng. Các nội dung ư tưởng khoa học của người viết phải được sắp xếp trong mối quan hệ logic, tránh trùng lặp hoặc mâu thuẫn; những khái quát, suy lí khoa học không được phủ định lại những tài liệu (cứ liệu) làm cơ sở cho nó...
2.3- Tính chính xác- khách quan:
PC khoa học không được phép tạo ra sự khác biệt giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt. Một văn bản khoa học chỉ có giá trị thực sự khi đưa đến người tiếp nhận những thông tin chính xác về các phát hiện, phát minh khoa học. Muốn vậy, văn bản khoa học phải đảm bảo tính một nghĩa. Nghĩa là nó không cho phép nhiều cách hiểu khác nhau hoặc hiểu một cách mơ hồ. Chân lí khoa học luôn phụ thuộc vào các quy luật khách quan, không phụ thuộc vào ư thức chủ quan của con người. Những từ ngữ biểu cảm, những ư kiến chủ quan không thích hợp ở PC này.
c- Đặc điểm :
1- Ngữ âm:
Khi phát âm ở PC này người ta thường có ư thức hướng đến chuẩn mực ngữ âm. Ngữ điệu có thể được dùng hạn chế để tăng thêm sức thuyết phục của sự lập luận
2- Từ ngữ:
- Sử dụng nhiều và sử dụng chính xác thuật ngữ khoa học. - Những từ ngữ trừu tượng, trung ḥa về sắc thái biểu cảm xuất hiện với tần số cao và thích hợp với sự diễn đạt của PC này. Ví dụ: Cái mô h́nh ngữ pháp miêu tả mà N. Chomsky thừa nhận là có tính khách quan và chặt chẽ nhất là mô h́nh ICs ( với lối phân tích lưỡng phân liên tục, từ S ( tức Sentence đến NP, VP ( tức noun phrase, verb phrase) rồi đến những thành tố trực tiếp khác trong ḷng chúng cho đến h́nh vị cuối cùng), nhưng áp dụng nó vào việc tạo sinh câu th́ vẫn có thể tạo ra những câu kỳ quặc kiểu như The colorless green ideas sleep furiously (Những tư tưởng không màu màu xanh lục ngủ một cách giận dữ)! Với sự sáng lập ngữ pháp tạo sinh, N.Chomsky là người đầu tiên đi vào nghiên cứu ngữ pháp của hoạt động tạo ra lời. Đây là cống hiến quan trọng của N. Chomsky mà lịch sử ngôn ngữ học sẽ trân trọng ghi khắc, một cống hiến có giá trị tạo ra một giai đoạn phát triển mới trong tiến tŕnh ngôn ngữ học thế giới. [ 11,29] - Các đại từ ngôi thứ ba ( người ta) và đại từ ngôi thứ nhất ( ta, chúng ta, chúng tôi ) với ư nghĩa khái quát được dùng nhiều. Ví dụ: Và như vậy, ta lại trở về với một cách hiểu xuất phát của từ phong cách mà không chỉ là ngôn ngữ hay hoạt động ngôn ngữ nghệ thuật hay phi nghệ thuật v.v... đó là: những đặc trưng hoạt động bằng lời nói được lặp đi lặp lại ở một người nào đó, ở một môi trường ngôn ngữ hay một cộng đồng có khả năng khu biệt với những kiểu biểu đạt ngôn ngữ khác; nói cách khác nó là tổng số của những dấu hiệu khu biệt của các sự kiện lời nói trong giao tiếp, phản ánh một cấu trúc bên trong và một cơ chế hoạt động ngôn ngữ. [5, 130]
3- Cú pháp:
-PC khoa học sử dụng các h́nh thức câu hoàn chỉnh, kết cấu câu chặt chẽ, rơ ràng để đảm bảo yêu cầu chính xác, một nghĩa và tránh cách hiểu nước đôi nước ba.
- Các phát ngôn hàm chứa nhiều lập luận khoa học, thể hiện chất lượng tư duy logic cao.
- Câu điều kiện-hệ quả và câu ghép được sử dụng nhiều. Nội dung của các phát ngôn đều minh xác. Sự liên hệ giữa các vế trong câu và giữa các phát ngôn với nhau thể hiện những luận cứ khoa học chặt chẽ. V́ vậy, độ dư thừa trong các phát ngôn nói chung là ít, mà cũng có thể nói là ít nhất, so với các phát ngôn khác. -Văn phong KH thường sử dụng những cấu trúc câu khuyết chủ ngữ, hoặc câu có chủ ngữ không xác định.
3- Phong cách thông tấn :
a. Khái niệm:
PC thông tấn là PC được dùng trong lĩnh vực thông tin của xă hội về tất cả những vấn đề thời sự .( Thông tấn : có nghĩa là thu thập và biên tập tin tức để cung cấp cho các nơi.) Báo chí, nhất là báo hàng ngày, là nơi đăng tải các loại tin tức, kiến thức có tính tổng hợp và cập nhật hoá, trong đó hầu như hiện diện đủ tất cả các loại phong cách như : khoa học, hành chính, chính luận, văn chương. Do đó, không nên gọi phong cách thông tấn là phong cách báo chí. PC thông tấn có các loại: văn bản cung cấp tin tức, văn bản phản ánh công luận và văn bản thông tin- quảng cáo. Phong cách thông tấn tồn tại cả ba dạng: dạng nói (kênh nói được dùng ở các đài phát thanh); dạng h́nh và nói (kênh nói và h́nh được dùng ở đài truyền h́nh); dạng viết ( kênh viết được dùng trên báo và tạp chí...). b- Chức năng và đặc trưng :
1- Chức năng:
PC thông tấn có hai chức năng là thông báo và tác động. Báo chí ra đời trước hết là do nhu cầu thông tin. Qua báo chí, người ta tiếp cận được nhanh chóng các vấn đề mà ḿnh quan tâm. Do đó, phong cách thông tấn trước tiên phải đáp ứng được chức năng này. Ngoài ra, báo chí c̣n đảm nhận một nhiệm vụ to lớn khác là tác động đến dư luận làm cho người đọc, người nghe, người xem hiểu được bản chất của sự thật để phân biệt cái đúng cái sai, cái thật, cái giả, cái nên ngợi ca, cái đáng phê phán.
2- Đặc trưng :
PC thông tấn có 3 đặc trưng:
2.1- Tính thời sự:
Thông tin phải truyền đạt kịp thời, nhanh chóng. Chỉ có những thông tin mới mẻ, cần thiết mới hấp dẫn người đọc, người nghe. Xă hội ngày càng phát triển, nhu cầu trao đổi và tiếp nhận thông tin của con người ngày càng lớn. Báo chí sẽ thoả măn nhu cầu thông tin đó của con người, nhưng đồng thời người ta đ̣i hỏi đấy phải là những thông tin kịp thời, nóng hổi.
2.2- Tính chiến đấu:
Báo chí là công cụ đấu tranh chính trị của một nhà nước, một đảng phái, một tổ chức. Tất cả công việc thu thập và đưa tin đều phải phục vụ cho nhiệm vụ chính trị đó. Tính chiến đấu là một yếu tố không thể thiếu được trong quá tŕnh tạo nên sự ổn định và phát triển của xă hội trên mặt trận chính trị tư tưởng. Đấy chính là các cuộc đấu tranh giữa cái cũ và cái mới; giữa cái tiến bộ và lạc hậu; giữa tích cực và tiêu cực...
2.3- Tính hấp dẫn:
Tin tức của báo, đài cần phải được tŕnh bày và diễn đạt hấp dẫn để khêu gợi hứng thú của người đọc, người nghe. Tính hấp dẫn được coi như là một trong những yếu tố quyết định sự sinh tồn của một tờ báo, tạp chí hay các đài phát thanh, truyền h́nh. Điều này đ̣i hỏi ở hai mặt: nội dung và h́nh thức.
-Về nội dung: Thông tin phải luôn luôn mới, đa dạng, chính xác và phong phú.
- Về h́nh thức: Ngôn ngữ phải có sức thu hút, lôi cuốn người đọc, đặc biệt là ở các tiêu đề.
c- Đặc điểm :
1- Ngữ âm:
Với các đài phát thanh và truyền h́nh trung ương, đ̣i hỏi khi đưa tin phải phát âm chuẩn mực. Với các đài phát thanh và truyền h́nh của địa phương hoặc khu vực, có thể sử dụng một cách có chừng mực một số biến thể phát âm thuộc một phương ngôn nào đó, nơi mà đài phủ sóng.
2- Từ ngữ:
2.1- Báo chí là phương tiện thông tin đại chúng.
Do vậy, từ ngữ được dùng trong phong cách thông tấn trước hết phải là từ ngữ toàn dân, có tính thông dụng cao. Tuy nhiên, ở mỗi thể loại có sự thể hiện khác nhau: - Từ ngữ trong các bài đưa tin phần lớn là lớp từ ngữ chuyên dùng trong các hoạt động của bộ máy Nhà nước và các đoàn thể. Ví dụ: (TT- Hà Nội-TP.HCM)- Theo tin từ Vụ trung học chuyên nghiệp và dạy nghề (Bộ GD-ĐT), tiếp theo ba đợt tuyển sinh của các trường ĐH,CĐ, hơn 200 trường THCN trong cả nước đă bắt đầu muà tuyển sinh năm 2000.Trong đó 124 trường THCN khối trung ương và trường ĐH,CĐ có tuyển hệ THCN tập trung thi tuyển từ nay đến đầu tháng tám, 90 trường THCN địa phương trong cả nước sẽ thi tuyển đến cuối tháng tám... ( Báo Tuổi trẻ ) - Từ ngữ các mẫu quảng cáo thường là tên các hàng hoá, các từ chỉ địa danh, nhân danh và các tính từ chỉ phẩm chất. Ví dụ: Raid- nhăn hiệu luôn dẫn đầu về thị phần tại hơn 120 quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam và được xếp vào danh sách những sản phẩm bán chạy nhất tại Mỹ. Do đó, Raid thực sự là một nhăn hiệu đáng tin cậy cho mọi gia đ́nh Việt Nam, với những lợi ích thiết thực: Raid- hiệu quả cao: Tiêu diệt tất cả các loại côn trùng (Gián, Muỗi, Kiến...) và diệt ngay khi tiếp xúc; duy tŕ hiệu quả sau 4 tuần ( đối với các loại côn trùng ḅ như Gián, Kiến...) Raid- An toàn cho sức khoẻ: chỉ có tác dụng đối với côn trùng. Raid - Giết côn trùng chết. ( Báo Tuổi trẻ ) - Từ ngữ trong các bài phỏng vấn, phóng sự th́ thường là những từ ngữ chuyên dùng trong lĩnh vực được tiến hành phỏng vấn hay phóng sự. Ví dụ: * Hội đồng văn hoá khi giới thiệu ông với giải thưởng Rockefeller III đă đánh giá về bảo tàng do ông làm giám đốc là một trong những bảo tàng có ấn tượng nhất trong loại h́nh này ở châu Á. Thưa ông, về phiïa chủ quan ḿnh, chữ ấn tượng này nên hiểu như thế nào? - TS Nguyễn Văn Huy: Có lẽ trước hết v́ bảo tàng này giới thiệu một cách b́nh đẳng 54 nền văn hoá của 54 dân tộc ở Việt Nam. Đó là điều không phải ở đâu cũng làm được. Chủ thể của những nền văn hoá này được tôn trọng trong các cách giới thiệu từng thành tố văn hoá. Bảo tàng đă phản ánh một cách chân thật lịch sử, đời sống văn hoá và cuộc sống của các dân tộc... ( Báo Tuổi trẻ CN )
2.2- Từ ngữ dùng thường có màu sắc biểu cảm- cảm xúc .
Có xu hướng đi t́m cái mới trong ư nghĩa của từ. Điều này bộc lộ những khả năng t́m ṭi, phát hiện những năng lực tiềm tàng ẩn chứa trong từ hoặc trong các kết hợp mới mẻ có tính năng động dễ đi vào ḷng người. Ví dụ: Hội chứng chiến tranh vùng Vịnh, tội ác xuyên quốc gia, cuộc chiến chống bệnh tật đói nghèo, quả bom dân số, chiến tranh lạnh, xa lộ thông tin, bùng nổ thông tin, cái chết trắng, bên bờ vực phá sản, liên minh ma quỷ...
2.3- Có mối tương quan giữa những từ ngữ diễn cảm và những từ ngữ dùng theo khuôn mẫu có tính năng động và linh hoạt.
2.4- Dùng nhiều từ ngữ có màu sắc trang trọng.
2.5- Có lớp từ riêng dùng trong PC này, gọi là từ ngữ thông tấn.
3- Cú pháp:
3.1- Cấu trúc cú pháp thường lặp đi lặp lại một số kiểu nhất định.
Trong đó, quảng cáo thường sử dụng câu đơn; bài đưa tin thường sử dụng nhiều câu ghép hoặc câu đơn có kết cấu phức tạp; bài phỏng vấn phóng sự th́ tùy lĩnh vực nó đi sâu mà cấu trúc cú pháp có thể đơn giản hay phức tạp, nhưng thường là hay sử dụng nhiều câu ghép và câu phức tạp. Ví dụ: Theo Kyodo, trong cuộc họp ngay sau khi kết thúc Hội nghị thượng đỉnh G-8 ở Okinawa ngày 23-7, Tổng thống Nga Vlađimia Putin và Thủ tướng Nhật Bản Yoshiro Mori đă thoả thuận rằng ông Putin sẽ đi thăm Nhật Bản từ 3 đến 5-9 để có các cuộc hội đàm về kế hoạch kí kết một hiệp ước hoà b́nh song phương. Nga và Nhật đă thiết lập quan hệ ngoại giao vào năm 1956 nhưng chưa kí hiệp ước hoà b́nh v́ c̣n bất đồng về chủ quyền quần đảo Kurin. (Báo Tuổi trẻ ).
3.2- Thường theo những khuôn mẫu văn bản và công thức hành văn nhất định. Đưa tin có khuôn mẫu và công thức hành văn riêng; quảng cáo, phỏng vấn, phóng sự,...tuy khuôn mẫu văn bản và công thức hành văn có khác nhau nhưng cũng đều có những quy định chuẩn về những phương diện đó.
3.3- Trong các bài phóng sự điều tra, tiểu phẩm...
những cấu trúc câu khẩu ngữ, câu trong PC văn chương như: câu hỏi, câu cảm thán, câu chuyển đổi t́nh thái, câu tỉnh lược, câu đảo trật tự các thành phần cú pháp cũng được khai thác sử dụng nhằm thực hiện chức năng riêng của mỗi thể loại.