THÔNG BÁO

  THỜI GIAN GẦN ĐÂY MỘT SỐ BẠN LỢI DỤNG  WEBSITE NÀY ĐỂ ĐƯA RA NHỮNG PHÁT NGÔN KHÔNG TỐT. CHO NÊN CHÚNG TÔI TẠM THỜI ĐÓNG WEBSITE LẠI ĐỂ NÂNG CẤP NHẰM HẠN CHẾ MỘT SỐ HÀNH VI KHÔNG TỐT LÀM ẢNH HƯỞNG ĐẾN DIỄN ĐÀN .CÁC BẠN CÓ THẮC MẮC XIN LIÊN HỆ : phanthanhhung90@gmail.com
RÈN LUYỆN KỸ NĂNG VIẾT CÂU
I. KHÁI NIỆM VỀ CÂU
Câu là một tập hợp từ, ngữ kết hợp với nhau theo những quan hệ cú pháp xác định, được tạo ra trong quá trình tư duy, giao tiếp, có giá trị thông báo, gắn liền với mục đích giao tiếp nhất định. Ví dụ:
- Trăng đã lặn (N.C)
- Có nghĩa gì đâu một buổi chiều (X.D)
- Những người tù biết trời mưa khi họ vừa bị lùa ra khỏi khám.
- Hãy nhớ lấy lời tôi (T.H)
II. GIẢN YẾU VỀ CẤU TRÚC CÂU TIẾNG VIỆT
Nói đến cấu trúc câu là nói đến các thành phần tạo câu cùng với chức năng, mối quan hệ qua lại và sự phân bố chúng trong tổ chức nội bộ câu. Dựa vào vai trò tạo câu, các thành phần câu được chia thành ba loại lớn: thành phần nòng cốt, thành phần phụ và thành phần biệt lập.
1- Thành phần nòng cốt của câu.
Thành phần nòng cốt là loại thành phần cơ bản, cốt lõi của câu mà dựa vào nó câu mới có thể tồn tại. Thành phần nòng cốt bao gồm hai loại nhỏ: chủ ngữ và vị ngữ.
1.1- Chủ ngữ (subject, sujet).
Chủ ngữ (viết tắt : C) là loại thành phần nòng cốt có chức năng biểu thị đối tượng mà câu đề cập đến. Nó trả lời cho câu hỏi: câu nói về ai, cái gì, việc gì? Ví dụ:
Hai người // lặng lẽ rẽ xuống con đường nhỏ (KL)
Mặt trời cuối thu // nhọc nhằn chọc thủng màn sương.
Từ // nhìn Hộ ba lần (N.T.T).
Người mẹ gầy ốm và ba đứa con còm cõi //quây quần với nhau trong xó bếp (N.C).
Về từ loại, chủ ngữ thường do danh từ hay đại từ đảm nhiệm. Một số từ loại khác như động từ, tính từ và số từ cũng có thể làm chủ ngữ. Về cấu tạo, chủ ngữ có thể là một từ, một chữ chính phụ hay một kết cấu chủ - vị dưới bậc câu (gọi là tiểu cú) tạo thành. Ví dụ:
Trăng // đã lặn (C = một từ).
Gió rét // thổi hun hút (C = một từ)
Một cơn gió lọt / lọt vào // Làm Sinh tỉnh giấc (C = một kết cấu chủ - vị).
1.2- Vị ngữ (Predicate, pédicat).
Vị ngữ (viết tắt: V) là loại thành phần nòng cốt có chức năng biểu thị nội dung thuyết minh về đối tượng được câu nói đến. Nó trả lời cho câu hỏi: đối tượng được nói đến làm gì, như thế nào, ra sao? Ví dụ:
 Hai người // lặng lẽ rẽ xuống con đường nhỏ.
Gió rét // thổi hun hút.
Một cơn gió loạt vào // làm Sinh tỉnh giấc.
Về mặt từ loại, vị ngữ thường do động từ hay tính từ đảm nhiệm. Một vài từ loại khác như đại từ, số từ cũng có thể làm vị ngữ. Về mặt cấu toạ, vị ngữ có thể do một từ, một ngữ hay do một kết cấu chủ vị dưới bậc câu (tiểu cú) tạo thành.
Ví dụ:
Nó // ăn (V = một từ)
Gió rét // thổi hun hút (V = một ngữ).
Từ // bản tính / rất hiền lành (V = một tiểu cú).
Về trật tự phân bố chủ ngữ, trong câu tiếng Việt, chủ ngữ đứng trước vị ngữ là hiện tượng phổ biến. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, chủ ngữ có thể đứng sau vị ngữ:
- Trong câu cảm thán.
Ví dụ:
Rất đẹp // hình ảnh lúc nắng chiều!
Vinh dự thay // anh kép Tư Bền!
- Trong câu nghi vấn mang tính chất tu từ. Ví dụ:
Có nghĩa gì đâu // một buổi chiều?
- Trong câu đảo vị ngữ nhằm mục đích nhấn mạnh nội dung thuyết minh. Ví dụ:
Ðã tan tác // những bóng thu hắc ám.
Ðã xanh lại // trời thu tháng tám.
Chủ ngữ và vị ngữ là hai thành phần nòng cốt, nên chúng thường xuất hiện trong câu. Tuy nhiên, hai thành phần này cũng có thể vắng mặt trong một số trường hợp:
- C hay / và V bị tỉnh lược dựa vào hoàn cảnh giao tiếp.
Ví dụ:
Nói gì đó? (C bị tỉnh lược). (Ai khóc?)
- Nó (V bị tỉnh lược). (Bao giờ anh đi?)
- Chiều nay (C và V bị tỉnh lược).
- C hay / và V bị tỉnh lược dựa vào văn cảnh.
Ví dụ:
Bà ấy mệt quá. Không lê được một bước. Không kêu được một tiếng (C bị tỉnh lược).
Sáng hôm sau, Ðiền ngồi viết.
Giữa tiếng con khóc, tiếng vợ gắt gỏng và tiếng léo xéo đòi nợ ngoài đầu xóm. (C và V bị tỉnh lược)
C không xuất hiện trong câu tồn tại. Ví dụ:
Có khách!
Ðã hết giờ làm việc.
Giữa nhà, kê một chiếc giường xiêu vẹo.
Ngoài một số trường hợp vừa nêu, nếu câu thiếu C hay/và thiếu V thì đó là câu sai ngữ pháp.
2- Thành phần phụ của câu.
Thành phần phụ của câu bao gồm hai loại nhỏ: trạng ngữ và khởi ngữ.
2.1- Trạng ngữ.
Trạng ngữ (viết tắt: Tr) là loại thành phần phụ có chức năng bổ sung thêm thông tin phụ cho sự việc được kết cấu C - V nòng cốt nêu ra. Thông tin phụ mà Tr bổ sung có thể là thời gian, nơi chốn, cách thức, phương tiện, trạng thái, đối tượng có liên quan v.v... Ví dụ:
Hôm qua, em đi chùa hương.
Ngoài hiên, mưa rơi rơi.
Ở khắp các ngõ, lố nhố từng đám người.
Với tôi, tất cả đều vô nghĩa.
Ngập ngừng, Pha không đáp.
Về mặt cấu tạo, Tr có thể là một từ, một ngữ có hay không giới từ dẫn nhập, tuỳ vào loại trạng ngữ cụ thể. Khi Tr là một ngữ, nó có thể chứa tiểu cú. Ví dụ:
Dạo anh / còn làm bí thư xã, anh thường đến thăm tôi.
Khi Cách mạng / thành công, tôi mới lên thăm.
Về vị trí, Tr thường đứng trước C- V (chiếm tỉ lệ 80%). Tr cũng có thể xen vào giữa hay đứng sau C - V. Trong trường hợp Tr đứng trước C - V, Tr thường được phân cách với kết cấu C - V bằng dấu phẩy. Trường hợp Tr xen vào giữa hay đứng sau C - V cũng vậy. Ví dụ: Với tôi, tất cả đều vô nghĩa. Hộ, đối với Từ, còn là ân nhân nữa. Họ đón lấy giọt mưa với nỗi vui sướng thầm lặng. Tôi về đến nhà lúc trời nhá nhem tối. Ðể xác định được những danh ngữ, giới ngữ xen vào giữa hay nằm sau C - V có phải là Tr hay không, ta kiểm tra bằng cách đảo chúng lên đầu câu. Nếu câu văn không thay đổi nghĩa hay không sai, thì đó là Tr. Ví dụ:
Họ đón lấy giọt mưa với nỗi vui sướng thầm lặng.
Với nỗi vui sướng thầm lặng, họ đón lấy giọt mưa.
Tôi nghỉ phép đến hết tháng 8.
Ðến hết tháng 8, tôi nghỉ phép (-).
2.2- Khởi ngữ (Tr chỉ chủ đề, đè ngữ).
Khởi ngữ (viết tắt là K) là loại thành phần phụ có chức năng nhấn mạnh một chi tiết nào đó trong sự việc được kết cấu C - V nêu lên. Ðiểm mà K nhấn mạnh có thể trùng với C, với V hay trùng với một bộ phận nào đó trong V. Ví dụ:
Tôi thì tôi dứt khoát không nhờ vả nó.
Nhờ vả nó thì tôi dứt khoát không nhờ.
Nó, tôi dứt khoát không nhờ vả.
Về cấu tạo, K có thể do một từ hay một ngữ tạo thành. Khi K là một ngữ, nó có thể chứa tiểu cú. Ví dụ:
Quyển sách anh / vừa nói, tôi đã đọc nhiều lần.
Về vị trí, K bao giờ cũng đứng trước C - V và được phân cách C - V bằng dấu phẩy, nếu không có trợ từ thì xen vào.
Về nội dung nghĩa, cần lưu ý rằng, câu bình thường không có K khác với câu có K ở chỗ: câu có K luôn mang một hàm ý nào đó. Ví dụ:
Nó chửi tôi. (không có K)
Tôi, nó cũng chửi.
Câu sau mang nhiều hàm ý: Nó đã chửi ai đó rồi, và lẽ ra, nó chừa tôi ra. Thế mà nó cũng không chừa. Nó quá hỗn xược v.v...
3- Thành phần biệt lập.
Thành phần biệt lập là loại thành phần đứng tách riêng ra trong tổ chức câu và có mối quan hệ lỏng lẻo với kết cấu C - V nòng cốt. Thành phần biệt lập bao gồm nhiều loại nhỏ:
3.1- Chuyển ngữ (Tr chuyển tiếp, thành phần phụ chuyển tiếp).
Chuyển ngữ là loại thành phần biệt lập có chức năng xác lập và biểu thị mối quan hệ giữa câu này với câu khác trong chuỗi câu, đoạn văn v.v... Nói cách khác, chức năng của thành phần này là liên kết câu, tạo nên sự mạch lạc của đoạn văn, ngôn bản. Ví dụ:
Người nào cũng muốn đặt bàn chân lâu lâu trên mặt đất. Bởi vì họ hiểu rằng họ sẽ xa đất rất lâu. Và có thể sẽ xa đất mãi mãi. (A.Ð)
Về mặt cấu tạo, chuyển ngữ có thể là một từ và bao giờ cũng là quan hệ từ (liên từ, giới từ). Các quan hệ từ thường làm chuyển ngữ là: và, rồi, nhưng, song, tuy nhiên, vì, bởi vì, nên, cho nên, giữa, với, bằng ... Chuyển ngữ còn có thể do một tổ hợp từ cố định hoá (quán ngữ) hay có xu hướng cố định hoá tạo thành. Chẳng hạn như các tổ hợp: mặt khác, trái lại, ngược lại, bên cạnh đó, chẳng hạn như, ví dụ như, do đó, mặc dù vậy, tóm lại, nói tóm lại v.v... Về vị trí, chuyển ngữ thường đứng trước kết cấu C - V nòng cốt và được phân cách bằng dấu phẩy, nếu ta tổ hợp. Nếu chuyển ngữ là một từ thì không cần dùng dấu phẩy. Ví dụ: Nếu quan niệm như thế thì trong Truyện Kiều, xứng đáng gọi là tài chỉ có Từ Hải. Và như vậy, cáo chết của Từ Hải mới chính là biểu hiện của thuyết tài mệnh tương đó. Nhưng trái ngược lại, Nguyễn Du không dùng thuyết tài mệnh tương đố để giải thích trường hợp Từ Hải. (N.L)
3.2- Cảm thán ngữ.
Cảm thán ngữ là loại thành phần đặc biệt có chức năng biểu thị các trạng thái cảm xúc đi kèm theo sự kiện được câu thông báo. Ví dụ:
Ôi, lòng Bác vậy, cứ thương ta! (T.H)
Bác đã đi rồi sao, Bác ơi! (T.H)
Về cấu tạo, cảm thán ngữ có thể do một từ - từ cảm - đảm nhiệm. Một số từ cảm thường làm cảm thán ngữ là: à, ạ, ôi, ơi, ái, úi... Cảm thán ngữ cũng có thể do một tổ hợp từ tạo thành. Chẳng hạn như các tổ hợp: ái chà, hỡi ôi, than ôi, đặc biệt là tổ hợp: danh từ kết hợp với các từ ơi, à... Về vị trí, cảm thán ngữ có thể đứng đầu câu hay cuối câu. Và ở vị trí nào, nó cũng thường được tách ra khỏi các thành phần khác bằng dấu phẩy.
3.3- Hô ngữ (thành phần gọi - đáp).
Hô ngữ bao gồm hai loại nhỏ: hô ngữ gọi và hô ngữ đáp.
a) Hô ngữ gọi:
Hô ngữ gọi là loại thành phần đặc biệt có chức năng biểu thị đối tượng được người nói gọi đến trong câu. Ví dụ:
Con ơi, nhớ lấy câu này (CD)
Trâu ơi, ta bảo trâu này (CD)
Về cấu tạo, hô ngữ có thể là một từ, thường là danh từ riêng hay danh từ chung, hay là một tổ hợp gồm danh từ, danh ngữ kết hợp với các từ đệm ơi, à, ạ, này... Ví dụ:
Anh Chí ạ, anh muốn đâm người nào cũng không khó (N.C)
Nhanh tay lên nào, anh chị em ơi!
Anh ơi, lại đây với em!
Về vị trí, hô ngữ gọi có thể đứng ở đầu hay ở cuối câu và bao giờ nó cũng được phân cách khỏi các thành phần khác bằng dấu phẩy.
b) Hô ngữ đáp:
Hô ngữ đáp là loại thành phần đặc biệt có chức năng đánh dấu câu trả lời đồng thời biểu thị thái độ, phản ứng của người nói. Ví dụ:
Vâng, tôi đi đây.
Dạ, em mới vừa về tới.
Dạ phải, chính tôi đã nói thế.
Về cấu tạo, hô ngữ đáp có thể là một từ: vâng, ạ, ừ, phải, đúng, không, hay là một tổ hợp: dạ vâng, dạ phải, dạ đúng, dạ không v.v...
Về vị trí, hô ngữ gọi bao giờ cũng đứng ở đầu luôn được phân cách khỏi các thành phần khác bằng dấu phẩy.
3.4- Giải thích ngữ.
Giải thích ngữ là loại thành phần đặc biệt có chức năng giải thích thêm cho một từ ngữ nào đó, hay ghi chú thêm về thái độ, lời lẽ, cảm xúc... của người nói. Ví dụ: Nguyễn Du, tác giả Truyện Kiều, là nhà đại thi hào cổ điển Việt Nam”.
Cô ta cười, cái cười chua chát. (N.K)
Buổi mai hôm ấy, một buổi mai đầy sương thu và giá lạnh, mẹ tôi âu yếm nắm tay tôi đi trên con đường làng dài và hẹp. (T.T)
Về cấu tạo, hô ngữ có thể là một từ, , hay là một câu hoàn chỉnh. Trong trường hợp giải thích ngữ là một câu, nó còn được gọi là câu đệm hay câu chêm xen. Ví dụ: Trái khế này rất ngọt, Huệ nói, anh ăn mà xem. (Ð.H)
Cô bé ngày xưa (có ai ngờ)
Cũng vào du kích (G.N)
Hai thằng đó thì tôi biết
- Hai Râu nói. (A.Ð)
Về vị trí, nếu giải thích ngữ có chức năng giải thích, thì nó đứng liền sau từ ngữ được giải thích. Nếu giải thích ngữ có chức năng ghi chú thêm, thì nó có thể được xen vào giữa hay đặt ở cuối câu. Và xuất hiện ở vị trí nào, giải thích ngữ cũng phải được tách khỏi các thành phần khác bằng dấu phẩy, dấu gạch ngang, dấu hai chấm hay dấu ngoặc đơn.
III. CÁC LOẠI LỖI NGỮ PHÁP VÀ CÁCH SỬA CHỮA
Ở bậc tổ chức câu, hiện tượng sai ngữ pháp, trước hết có thể quy thành hai loại lỗi lớn : câu sai do cấu trúc không hoàn chỉnh và câu sai do vi phạm quy tắc kết hợp. Mỗi loại lỗi sai này được chia thành nhiều kiểu lỗi nhỏ, dựa vào đặc điểm, tính chất của hiện tượng sai.
1. Câu sai do cấu trúc không hoàn chỉnh :
Câu sai do cấu trúc không hoàn chỉnh là loại lỗi ngữ pháp có biểu hiện : hiện dạng của câu thiếu một hay một vài thành phần nòng cốt, mà dựa vào văn cảnh, ta không thể phục hồi cấu trúc đầy đủ của nó.
Loại lỗi này bao gồm nhiều kiểu lỗi nhỏ :
1.1. Câu sai thiếu chủ ngữ.:
Câu sai thiếu chủ ngữ là kiểu lỗi câu sai có hiện dạng thiếu thành phần biểu thị đối tượng của thông báo, mà dựa vào văn cảnh, ta không thể xác định và phục hồi lại cấu trúc đầy đủ của nó.
Trong tổ chức câu bình thường, chủ ngữ là thành phần có chức năng nêu lên đối tượng mà người viết, người nói đề cập đến. Về từ loại, chủ ngữ thường do đại từ, danh từ hay ngữ tương đương đảm nhiệm. Do đó, một câu bị xem là thiếu chủ ngữ khi hiện dạng của nó chỉ có động từ, tính từ, ngữ động từ, ngữ tính từ có giá trị như vị ngữ, hay hiện dạng gồm có vị ngữ và thành phần phụ.
Ví dụ:
(a) Trong phút chốc, bọn xâm lược đã phá tan và cướp đi cuộc sống yên lành của người dân. Ðược thể hiện rõ nét qua bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộcnổi tiếng của Nguyễn Ðình Chiểu(BVHS).
(b) Qua đoạn thơ trên, Tố Hữu muốn nói đến lực lượng của tập thể, của nhân dân, của quần chúng, dưới sự lãnh đạo của Ðảng là vô hạn. Ðấu tranh đánh đổ áp bức, bóc lột, thúc đẩy xã hội tiến lên(BVHS).
(c) Bên cạnh lời dặn dò đó, còn chỉ ra cho chúng ta thấy giá trị tinh thần của đoàn kết, yêu thương giúp đỡ lẫn nhau(BVHS).
(d) Qua tác phẩm này, tố cáo xã hội bất công(BVHS).
Hiện tượng câu sai thiếu chủ ngữ xuất hiện trong bài viết của học sinh THPT khá nhiều. Trong bài viết của học sinh THCS, loại lỗi này xuất hiện phổ biến hơn.
Nguyên nhân dẫn đến kiểu lỗi sai này là do học sinh chưa nắm vững cách thức tổ chức câu, cụ thể là chưa có ý thức về tính hoàn chỉnh tương đối của câu.
Thiếu chủ ngữ làm cho câu không hoàn chỉnh về cấu trúc và thông báo. Ðọc những câu này, ta không hiểu được học sinh muốn nói về ai, cái gì, điều gì.
Ðối với kiểu lỗi sai này, cách sửa chữa chủ yếu là tạo ra chủ ngữ sao cho phù hợp với vị ngữ có sẵn. Tất nhiên, việc tạo ra chủ ngữ một mặt phải dựa vào vị ngữ có sẵn, mặt khác phải xem xét câu trong mối quan hệ với nội dung và cấu trúc của đoạn văn, tức là phải đặt câu trong mối quan hệ nhiều mặt với các câu chung quanh.
Các câu sai đã dẫn có thể được sửa chữa như sau :
(a) Trong phút chốc, bọn xâm lược đã phá tan cuộc sống yên bình của nhân dân. Tội ác của bọn chúng cũng như khí phách hiên ngang, bất khuất của nghĩa binh đã được phản ánh sâu sắc qua bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộcnổi tiếng của Nguyễn Ðình chiểu[1] .
(b) Qua đoạn thơ trên, Tố Hữu muốn nói đến sức mạnh vô địch của tập thể, của quần chúng, nhân dân dưới sự lãnh đạo của Ðảng. Sức mạnh ấy có thể đánh đổ bất cứ thế lực áp bức, bóc lột nào và thúc đẩy xã hội đi lên trên con đường tiến bộ.
(c) Bên cạnh lời dặn dò đó, nhà thơ (tác giả) còn chỉ ra cho chúng ta thấy rõ giá trị của tinh thần đoàn kết, yêu thương, giúp đỡ lẫn nhau.
(d) Qua tác phẩm ấy, tác giả đã lên tiếng tố cáo xã hội áp bức, bất công.
Cần phải phân biệt câu sai thiếu chủ ngữ với câu tỉnh lược chủ ngữ trong văn bản. Chỉ nên xem hiện tượng khuyết chủ ngữ là câu sai khi căn cứ vào văn cảnh chứa nó, ta không xác định được đối tượng được nói đến là gì, và do đo,ï không thể phục hồi chủ ngữ bằng cách lặp từ vựng, thế đại từ hay thế bằng từ đồng nghĩa. Còn câu tỉnh lược thì dựa vào văn cảnh, ta có thể phục hồi chủ ngữ bằng các cách vừa nêu.
Ví dụ: Họ là những người dân ấp, dân lân, vì mến nghĩamà làm quân chiêu mộ. Là đội quân tự nguyện, tự giác, chiến đấu dũng cảm, không hề run sợ trước súng đạn tối tân của kẻ thù(BVHS).
Dựa vào câu thứ nhất thứ nhất, ta có thể phục hồi chủ ngữ của câu thứ hai trong ví dụ trên như sau :
Họ là đội quân tự nguyện, tự giác, chiến đấu dũng cảm...
Cũng cần phân biệt câu sai thiếu chủ ngữ với kiểu câu mà cấu trúc chuẩn mực của nó không có chủ ngữ. Ðó là câu tồn tại, một kiểu cấu trúc đặc thù trong tiếng Việt. Kiểu câu này có nội dung thông báo sự tồn tại, xuất hiện hay biến mất của sự vật, hiện tượng, tính chất. Về mặt cấu trúc, đặc điểm của kiểu câu này là chỉ có vị ngữ hay trạng ngữ và vị ngữ, trong đó, thành tố trung tâm của vị ngữ là các động từ biểu thị ý nghĩa tồn tại (có, còn, hết...), các động từ dùng với ý nghĩa trạng thái, hay các tính từ có ý nghĩa số lượng (đông, ít, vắng...). Và trạng ngữ, nếu có, là một danh ngữ hay giới ngữ, có nội dung biểu thị phạm vi không gian, thời gian.
Ví dụ: (a) Bên cạnh chị Sứ, còn có biết bao người phụ nữ Việt Nam anh hùng khác(BVHS). (b) Có người rất sớm đã tìm được hướng đi đúng cho đời mình(NLPBCL, T.III). (c) Trong cuộc kháng chiến cứu nước, có những chiến sĩ lao mình lấp lỗ châu mai để cho đơn vị mình tiến lên (NTG - VVHVN). (d) Bên đường, đứng chơ vơ một ngôi miếu cổ đen rêu(N.Ð.T).
1.2. Câu sai thiếu vị ngữ :
Câu sai thiếu vị ngữ là kiểu câu sai có hiện dạng thiếu thành phần biểu thị nội dung thuyết minh mà dựa vào văn cảnh, ta không thể xác định và khôi phục lại cấu trúc đầy đủ của nó.
Trong tổ chức nội bộ câu, vị ngữ là thành phần nêu lên nội dung thuyết minh về đối tượng được nói đến. Nội dung thuyết minh có thể là hành động, tính chất, trạng thái ... của đối tượng. Về từ loại, vị ngữ thường do động từ, tính từ hay các ngữ tương đương đảm nhiệm. Như vậy, câu sai thiếu vị ngữ là kiểu câu sai mà hiện dạng của nó có thể thuộc ba trường hợp sau :
(1) Danh ngữ (có giá trị như chủ ngữ).
(2) Danh từ / danh ngữ (có giá trị như chủ ngữ), giới ngữ (có giá trị như trạng ngữ).
(3) Danh từ / danh ngữ (có giá trị như chủ ngữ), danh ngữ (có giá trị như giải thích ngữ).
Ví dụ:
(a) Tâm ngửng lên nhìn nét mặt hiền từ của bà Tư, rồi lại quay đi, hơi e thẹn. Vì nàng có tâm sự kín riêng. Hình ảnh một người con trai lanh lợi, miệng tươi như hoa, ăn nói mềm mỏng dễ nghe. Những ngày phiên chợ Bằng, Tâm thường thấy người ấy ra hàng Tâm mua kim chỉ(T.L. - GÐM).
(b) Sự xả thân vì đại nghĩa để chiến đấu cho độc lập, tự do của dân tộc(BVHS).
(c) Xuân Diệu, một con người yêu đời, thiết tha với cuộc sống(BVHS).
(d) Việt Nam, đất nước của những con người anh hùng, của những bài ca bất diệt, những điệu hát câu hò thắm đượm tình quê(BVHS).
(e) Người nghĩa sĩ Cần Giuộc, với tấm lòng yêu làng xóm, quê hương tha thiết, với tinh thần xả thân vì đại nghĩa(BVHS).
Trong ví dụ (a), hình ảnh một người con trai lanh lợi, miệng tươi như hoa, ăn nói mềm mỏng dễ nghe chỉ là một danh ngữ, chưa đủ tư cách là câu. Bởi lẽ, ta không thể hiểu được hình ảnh người con trai ấy như thế nào, ra sao. Câu (b) cũng vậy : mới chỉ là một danh ngữ. Câu (c) gồm một bút danh (Xuân Diệu), có giá trị như chủ ngữ, và một danh ngữ, có giá trị như giải thích ngữ. Ðọc câu này, ta không rõ Xuân Diệu như thế nào, ra sao. Câu (d) cũng tương tự như ví dụ (c) : một danh từ riêng (Việt Nam) và một danh ngữ có giá trị như giải thích ngữ. Ví dụ (e) gồm có một danh ngữ (Người nghĩa sĩ Cần Giuộc) và hai giới ngữ, có giá trị như hai trạng ngữ chỉ cách thức. Tất cả các trường hợp nêu trên đều chưa phải là câu, bởi vì chúng đều không có thành phần nêu lên nội dung thuyết minh về đối tượng được đề cập đến.
Hiện tượng câu sai thiếu vị ngữ xuất hiện khá nhiều trong bài làm của học sinh, nhiều hơn kiểu câu sai thiếu chủ ngữ, nhất là kiểu có hiện dạng giống như trường hợp (2), (3).
Thiếu vị ngữ tất nhiên làm cho câu không hoàn chỉnh về mặt cấu trúc và thông báo. Ðọc những câu sai kiểu này, ta không rõ đối tượng được nói đến như thế nào, ra sao.
Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến câu sai thiếu vị ngữ là do học sinh nhận thức mơ hồ, thiếu chính xác về tính hoàn chỉnh tương đối của câu, hay do học sinh nhầm lẫn các danh ngữ, giới ngữ (có giá trị như giải thích ngữ, trạng ngữ đứng sau chủ ngữ ) với vị ngữ, từ đó, tưởng rằng câu đã hoàn chỉnh.
Về cách sửa chữa kiểu lỗi sai này, nhìn chung có hai hướng : Thứ nhất là chuyển đổi cấu trúc có sẵn thành câu có chủ - vị hoàn chỉnh. Thứ hai là tạo thêm vị ngữ sao cho phù hợp với cấu trúc có sẵn. Chọn cách sửa chữa nào là tùy vào câu sai cụ thể.
Các câu sai vừa dẫn có thể sửa chữa như sau :
Câu (a), sửa theo cách thứ hai :
... Vì nàng có tâm sự kín riêng. Hình ảnh một người con trai lanh lợi, miệng tươi như hoa, ăn nói mềm mỏng dễ nghe đang ám ảnh trong tâm trí của nàng...[1] . Câu (b), sửa theo hai cách : Vì đại nghĩa, nghĩa binh đã xả thân chiến đấu cho độc lập, tự do của dân tộc. Hay : Tinh thần xả thân vì độc lập, tự do của dân tộc đã tạo nên nét đẹp hùng tráng ở người nghĩa binh nông dân. Câu (c), sửa theo cách thứ nhất : Xuân Diệu là một con người yêu đời, thiết tha với cuộc sống. Câu (d), sửa theo cách thứ nhất : Việt Nam là đất nước của những con người anh hùng, của những bài ca bất diệt và những điệu hát, câu hò thắúm đượm tình quê. Câu (e), sửa theo hai cách : Người nghĩa sĩ Cần Giuộc, với tấm lòng yêu mến làng xóm, quê hương tha thiết, đã xả thân quên mình vì đại nghĩa. Hay : Người nghĩa sĩ Cần Giuộc, với tấm lòng yêu mến làng xóm, quê hương tha thiết, với tinh thần xả thân vì đại nghĩa, đã chiến đấu quên mình khi đối mặt với quân thù.
Trừ câu (a), hai cách sửa chữa mà chúng tôi vừa áp dụng đối với các câu sai(b), (c), (d) và (e) mới chỉ là hai hướng sửa chữa chung đối với kiểu lỗi sai này. Bởi vì, sửa chữa như vậy vẫn tách rời câu sai với văn cảnh chứa chúng. Do đó, trước mỗi câu sai thiếu vị ngữ, ta áp dụng cách sửa chữa nào và sửa chữa như thế nào, điều đó cần phải được xem xét trong mối quan hệ về ngữ nghĩa - lô-gích với các câu lân cận trong đoạn văn.
Cũng cần lưu ý thêm, trước hiện tượng câu mà hiện dạng của nó chỉ là một danh ngữ, chúng ta cần phải cân nhắc, phân biệt giữa một bên là câu sai (như các câu (a), (b)) và một bên là kết quả của hiện tượng tỉnh lược (tỉnh lược chủ ngữ và động từ trung tâm của vị ngữ), làm cho hiện dạng của câuchỉ còn là một ngữ, có giá trị giải thích, thuyết minh cho câu trước.
Ví dụ: (a) Văn học thời kì này đã phản ánh được tinh thần yêu nước của nhân dân ta. Tinh thần chiến đấu, hy sinh dũng cảm của những người chiến sĩ ở ngoài mặt trận, của những người mẹ, người vợ ở hậu phương(BVHS). (b) Nhưng giữa bao nhiêu tối tăm dày đặc ấy, ánh sáng vẫn ngời lên. Aïnh sáng của lòng thương người và yêu đời vô hạn (NL PBCL, T.III ).
1.3. Câu thiếu kết cấu chủ - vị noöng cốt.
Câu thiếu chủ - vị nòng cốt là kiểu lỗi ngữ pháp mà hiện dạng của câu chỉ là một hay vài thành phần phụ ngoài nòng cốt, và dựa vào văn cảnh, ta không thể phục hồi lại cấu trúc đầy đủ của nó.
Câu thiếu kết cấu chủ - vị nòng cốt thường rơi vào câu đơn, và hiện dạng của kiểu lỗi câu sai này có thể quy về hai biểu hiện chính :
(1) Giới ngữ / danh ngữ (có chức năng như trạng ngữ)
(2) Giới ngữ / danh ngữ (có chức năng như trạng ngữ), danh ngữ (có chức năng như giải thích ngữ).
Ví dụ :
(a) Trước khi thực dân Pháp nổ phát súng đầu tiên xâm lược nước ta, mở đầu cho một trăm năm đô hộ(BVHS).
(b) Với tinh thần chiến đấu dũng cảm, với tinh thần đoàn kết một lòng chống ngoại xâm của nghĩa quân(BVHS).
(c) Ðể làm nổi bật lên hình ảnh cao quý và đẹp đẻ của người Nghĩa sĩ Cần Giuộc, những người chiến sĩ đấu tranh cho độc lập, tự do của dân tộc. (BVHS).
(d) Vậy mà khi người con gái đẹp nhất làng đã cuồng nhiệt trao hết tình yêu cho cậu, rủ cậu bỏ làng ra đi liều ! (N.K.T - MÐLNNM).
(e) Ở phòng khách và nơi nghỉ ngơi, được trang trí những bức tranh lớn, vẽ trực tiếp vào tường hoặc những ô vải rộng. Phần nhiều mô tả cảnh mùa thu của những cánh rừng nhiệt đới(TNH 1993).
Hiện dạng của câu (a) là một giới ngữ có chứa tiểu cú. Giới ngữ này chỉ có giá trị là một trạng ngữ. Hiện dạng của câu (b) chỉ gồm hai giới ngữ, có giá trị như hai trạng ngữ. Hiện dạng của câu (c) gồm một giới ngữ, có chức năng như trạng ngữ , và một danh ngữ có giá trị như giải thích ngữ. Hiện dạng của câu (d) gồm một tổ hợp, có giá trị như chuyển ngữ (thành phần phụ chuyển tiếp), và một danh ngữ, có giá trị như trạng ngữ. Hiện dạng của câu thứ nhất trong ví dụ (e) gồm một giới ngữ, có giá trị như trạng ngữ, và hai động ngữ, có giá trị như hai giải thích ngữ liên hoàn. Tất cả các câu văn trên đều không có kết cấu chủ - vị nòng cốt, kết cấu chủ vị ở bậc câu.
Câu thiếu kết cấu chủ - vị nòng cốt xuất hiện khá phổ biến trong bài viết của học sinh, nhất là sai theo dạng (2) (kiểu lỗi này cũng xuất hiện không ít trên sách báo in ấn chính thức).
Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến lỗi sai này là do học sinh không nắm vững kiến thức ngữ pháp, đặc biệt là về tính hoàn chỉnh của câu, dẫn đến sự lẫn lộn giữa các thành phần nòng cốt với các loại thành phần phụ ngoài nòng cốt. Cũng có trường hợp do sử dụng dấu chấm thiếu chính xác, học sinh mắc phải kiểu lỗi này.
Ví dụ : (f) Một lần, khi nghe bà Nghị gọi con gái là cái hai. Hắn đã cau mày trách vợ : Sao bà cứ gọi bằng lối xách mé như vậy ? Tôi đã dặn bà phải gọi nó bằng mợ...(BVHS).
Trong câu trên, vì học sinh sử dụng sai dấu chấm nên đã tách hai danh ngữ có giá trị như hai trạng ngữ khỏi kết cấu chủ - vị nòng cốt, làm cho chúng trở thành câu sai.
Ðối với lỗi kiểu sai này, nhìn chung có hai cách sửa chữa : tạo thêm kết câu chủ - vị dựa trên cấu trúc có sẵn hay chuyển đổi cấu trúc có sẵn của câu sai thành câu hoàn chỉnh.
Dưới đây là các câu sai đã được sửa chữa : (a) Trước khi thực dân Pháp nổ phát súng đầu tiên xâm lược nước ta, mở đầu một trăm năm đô hộ, người nghĩa sĩ Cần Giuộc vốn là những người nông dân chân lấm tay bùn, quanh năm chỉ biết côi cút làm ăn, toan lo nghèo khó. (b) Với tinh thần đoàn kết một lòng, nghĩa quân đã chiến đấu dũng cảm, xem thường mọi thứ vũ khí tối tân của giặc. (c) Ðể làm nổi bật những phẩm chất cao đẹp của người nghĩa sĩ Cần Giuộc, những người chiến sĩ - nông dân đấu tranh cho độc lập, tự do của dân tộc, Nguyễn Ðình Chiểu đã khắc họa đậm nét tư thế hiên ngang của họ khi đối mặt với kẻ thù. (d) Vậy mà khi người con gái đẹp nhất làng cuồng nhiệt trao hết tình yêu cho cậu, rủ cậu bỏ làng ra đi liều, cậu đã không dám nghe theo / đã chối từ một cách hèn nhát. (e) Phòng khách và nơi nghỉ ngơi được trang trí bằng những bức tranh lớn, vẽ trực tiếp vào tường hoặc những ô vải rộng ...
Câu (a) được sửa chữa theo cách tạo thêm kết cấu chủ - vị nòng cốt dựa trên cấu trúc có sẵn của câu sai. Câu (b) được sửa chữa theo cách chuyển đổi cấu trúc của câu sai thành câu đúng, có bổ sung thêm vị ngữ thứ hai. Câu (c) được sửa theo cách tạo thêm kết cấu chủ - vị nòng cốt. Câu (d) cũng được sửa theo cách tương tự. Câu (e) được sửa theo cách chuyển đổi cấu trúc có sẵn thành câu đúng.
Cũng như đối với kiểu câu sai thiếu chủ ngữ và câu sai thiếu vị ngữ, khi sửa chữa câu sai thiếu kết cấu chủ - vị nòng cốt, chọn lựa cách sửa chữa nào là phải tùy vào câu sai cụ thể. Và khi tiến hành sửa chữa, nhất thiết phải xem xét mối quan hệ về ngữ nghĩa - lô-gích giữa câu sai với các câu lân cận trong đoạn văn để đảm bảo sự mạch lạc giữa các câu.
Riêng câu (f), chỉ cần thay dấu chấm băng dấu phẩy, ta sẽ có câu đúng :
Một lần, khi nghe bà Nghị gọi con gái là cái Hai, hắn đã cau mày trách vợ ...