THÔNG BÁO

  THỜI GIAN GẦN ĐÂY MỘT SỐ BẠN LỢI DỤNG  WEBSITE NÀY ĐỂ ĐƯA RA NHỮNG PHÁT NGÔN KHÔNG TỐT. CHO NÊN CHÚNG TÔI TẠM THỜI ĐÓNG WEBSITE LẠI ĐỂ NÂNG CẤP NHẰM HẠN CHẾ MỘT SỐ HÀNH VI KHÔNG TỐT LÀM ẢNH HƯỞNG ĐẾN DIỄN ĐÀN .CÁC BẠN CÓ THẮC MẮC XIN LIÊN HỆ : phanthanhhung90@gmail.com
2. Quan hệ thông báo giữa các câu trong cụm câu
2.1 Khái niệm
Sách giáo khoa Tiếng Việt 11, Ban KHXH, tiết 22, đă tŕnh bày khá rơ cấu trúc thông báo trong phạm vi câu. Đó là cấu trúc đề - thuyết. Phần đề của câu là phần nêu lên chủ đề của câu và được lấy làm điểm xuất phát cho câu. Phần thuyết là phần tiếp theo phần đề có tác dụng miêu tả, giải thích phần đề. Theo SGK, cấu trúc đề - thuyết là cấu trúc thông báo, không phải là cấu trúc ngữ pháp. Nó gắn với cấu trúc nghĩa của câu, xác định đường lối thông báo trong câu và quyết định việc chọn điểm tựa, điểm xuất phát và phương hướng triển khai của câu. Thí dụ: [phần in thẳng là phần đề; phần in nghiêng là phần thuyết] - Giữa đồng sâu nước ngập, lỡ bệnh bất tử trong đêm khuya, biết làm sao? Kiếm được cái trạm y tế xă th́ xa mút tít tè. Tới được trung tâm y tế huyện càng xa hơn, ít nhất cũng phải 35 cây số đường xuồng. Giống như một bệnh viện thu nhỏ, thuyền (bệnh viện) len lỏi qua các ngơ ngách kênh rạch, tới tận những vùng không có thuốc men, không nơi chữa bệnh và không có thầy thuốc.(1) - Thằng Tây ngồi nghĩ cũng tài, Sinh ra đèn máy thắp hoài năm canh. Thằng Tây ngồi nghĩ cũng sành, Sinh ra tàu điện chạy quanh phố phường. La ga th́ ở Thụy Chương, Dây đồng cột sắt t́m đường kéo lên. Bồi bếp cho chí bồi bàn Chạy tiền kư cược đi làm sơ vơ. Xưa nay có thế bao giờ, Có cái tàu điện đứng chờ ngă ba. (Cái tàu điện - ca dao vùng Bưởi) (2) Sách giáo khoa trên cũng chỉ rơ: - Trong câu đơn đặc biệt không có khởi ngữ (đề ngữ) th́ không có phần đề, chỉ có phần thuyết. - Trong câu hai thành phần chủ ngữ - vị ngữ th́ chủ ngữ là phần đề, vị ngữ là phần thuyết. - Trong câu đơn hai thành phần chủ - vị có khởi ngữ (đề ngữ) th́ khởi ngữ là phần đề, phần c̣n lại là phần thuyết (trong phần thuyết lại có cấu trúc đề - thuyết riêng). - Trong câu ghép chính phụ, vế đi trước là phần đề, vế đi sau là phần thuyết. - Trong câu ghép đẳng lập, mỗi vế có cấu trúc đề - thuyết riêng. - Các trạng ngữ ở đầu câu có th́ đi sau th́ có thể thở thành phần đề của câu. Trạng ngữ là phần đề chỉ đối thể đối đăi nếu có từ dẫn nhập Với, Đối với ở đầu; trạng ngữ là phần đề chỉ nội dung nếu có từ dẫn nhập Về ở đầu; trạng ngữ là phần đề chỉ tư cách nếu có từ dẫn nhập Là ở đầu. - Nếu có giải ngữ (phụ chú ngữ, thành phần chú thích) trong câu th́ giải ngữ là phần thuyết nhưng là phần thuyết phụ Trong văn bản, cấu trúc đề - thuyết cũng tồn tại trong những cấu tạo ngôn ngữ lớn hơn câu (cụm câu, đoạn văn...). Thí dụ: (1) Nguyên nhân của tất cả những nỗi đau khổ ấy là v́ đâu? (2) Thúy Kiều và Nguyễn Du nói là v́ số mệnh. (3) Nhưng số mệnh ở đây lại hiện ra dưới h́nh thức con người. (4) Bọn người ấy khá đông. Câu (1) là câu đề, các câu c̣n lại là các câu thuyết. Trong ba câu c̣n lại ấy, lần lượt câu đi trước sẽ là câu đề của câu đi sau nó. Theo sách giáo khoa trên, nh́n chung, trong cụm câu, những câu không có quan hệ b́nh đẳng với nhau, câu trước làm phần đề của câu sau. Có ba trường hợp sau đây: Trường hợp 1: Câu sau là bộ phận của câu trước được tách ra. Câu trước là câu đề, câu sau là câu thuyết và thường là câu dưới bậc hay ngữ trực thuộc: - Huấn đi về trạm máy. Một ḿnh trong đêm. (Nguyễn Thị Ngọc Tú); - Tôi nghĩ đến sức mạnh của thơ. Chức năng và vinh dự của thơ. (Phạm Hổ) - Nó thèm. V́ nó đói thực. (Nguyễn Công Hoan) Trường hợp 2: Hai câu có quan hệ chính phụ hoặc hàm ẩn quan hệ chính phụ, câu đi trước là câu đề, câu đi sau là câu thuyết. So sánh: - Tôi là thầy thuốc. Tôi không thể bỏ bệnh nhân thế này được. (Chu Văn) - Tôi không thể bỏ bệnh nhân thế này được. Tôi là thầy thuốc. Trường hợp 3: Cụm câu chính phụ gồm nhiều câu có thể thuộc một trong ba dạng: - Dạng a: Nhiều câu liên hội lại làm phần đề, có một câu thuyết; - Dạng b: Có một câu đề và nhiều câu liên hội lại làm phần thuyết; - Dạng c: Nhiều câu đề, nhiều câu thuyết. Dạng a gồm các cụm câu quy nạp thường thấy. Thí dụ: Chính quyền nhân dân ta vững chắc. (2) Quân đội nhân dân ta hùng mạnh. (3) Mặt trận nhân dân rộng răi. (4) Công nhân, nông dân và trí thức được rèn luyện thử thách và tiến bộ không ngừng. (5) Nói tóm lại: lực lượng của chúng ta to lớn và ngày càng to lớn. (bốn câu đê,ö một câu thuyết.) Dạng b gồm các cụm câu diễn dịch thường thấy. Trong đó, câu diễn tả ư chung, khái quát là phần đề các câu c̣n lại cụ thể hóa, chứng minh, giải thích nó thuộc phần thuyết. Dạng c thường gồm nhiều câu nêu vấn đề, tiếp nối là các câu giải đáp. Thí dụ: (1) Các cháu được hưởng sự may mắn đó là nhờ sự hi sinh của biết bao đồng bào, vậy các cháu nghĩ sao? (2) Các cháu phải làm thế nào để đền bù lại công lao lớn của những người đă không tiếc thân và tiếc của để giành lại nền độc lập cho nước nhà? (hai câu đề) (3) Các cháu hăy nghe lời Bác, lời của một người lúc nào cũng ân cần mong mỏi cho các cháu được giỏi giang. (4) Trong năm học tới đây, các cháu hăy cố gắng siêng năng học tập, ngoan ngoăn, nghe thầy, đua bạn. (hai câu thuyết) Tóm lại, trong hoạt động, các câu được phân định vào phần đề hay thuyết có nhiều biến động cụ thể. Trong hỏi đáp, hỏi là đề, đáp là thuyết. Trong đối thoại, lời trao là đề, lời đáp là thuyết. Trong văn bản đơn thoại, câu nào là cơ sở cho sự triển khai tư duy, đề cập đến đối tượng của tư duy, câu ấy sẽ là câu đề, câu hoặc các câu nối tiếp sẽ là câu thuyết. Trong lập luận, các câu luận cứ là các câu đề, các câu kết luận là các câu thuyết. Giữa các kết cấu văn bản cũng có quan hệ thông báo tương tự. Cũng có cụm câu đề, đoạn văn đề (đặt vấn đề), cụm câu thuyết, đoạn văn thuyết (giải quyết vấn đề)... Quan hệ thông báo cơ bản giữa các đơn vị và kết cấu văn bản là quan hệ đề - thuyết. Tuy nhiên, từ lâu, cấu trúc đề - thuyết trong văn bản đă được xem xét có phần cụ thể hơn. Một cặp đối thoại thường có cấu trúc hỏi - đáp hoặc trao lời - đáp lời. Một bài thơ tứ tuyệt thường gồm câu khai, câu thừa, câu chuyển, câu hợp và có cấu trúc nêu - báo hoặc thực - luận hoặc đồng tả ngụ ư. Một bài văn thông thường thường có cấu trúc mở bài, thân bài, kết bài. Một bài thơ thất ngôn bát cú thường có cấu trúc đề, thực, luận, kết; trong đó, phần đề thường gồm câu phá đề và câu thừa đề. Một cụm câu, một đoạn văn thường có câu mở ư, các câu triển khai ư, câu kết ư. Đó là chưa kể câu chốt hay câu chủ ư trong những kết cấu văn bản có quan hệ chính phụ và câu chuyển ư làm nhiệm vụ nối kết các kết cấu văn bản. Ở đây, các đơn vị và kết cấu văn bản đă được xem xét về mặt chức năng của chúng trong việc tạo nên ư tưởng của kết cấu văn bản do chúng cấu tạo nên.
2.2 Các loại câu trong cụm câu xét về mặt cấu trúc thông báo
a. Một cách đại cương:
Xét về mặt thông báo, các câu trong cụm câu được chia thành câu đề và câu thuyết. Câu đề c̣n được gọi là chủ ngôn hay câu cơ sở. Câu thuyết c̣n được gọi là kết ngôn hay câu phụ kết, câu ứng tiếp. Trong hệ thống phân loại này, đơn vị cụm câu, đoạn văn cũng được phân loại thành cụm câu đề, cụm câu thuyết, đoạn văn đề và đoạn văn thuyết. Cụm câu được đưa lên trước và nêu ư chung cho đoạn văn nói chung là các cụm câu đề. Đoạn văn dùng mở bài làm văn của học sinh thường là các đoạn văn đề hay nêu vấn đề. Phần mở đầu bản Tuyên ngôn độc lập ở trên gồm hai đoạn văn đề. Trong đó, ở đoạn văn 1, cụm câu 1 là cụm câu đề, cụm câu 2 (Lời bất hủ ấy...) là cụm câu thuyết; ở đoạn văn 2, cụm câu 3 (Bản Tuyên ngôn nhân quyền...) là cụm câu đề và cụm câu 4 (Đó là những lẽ phải...) là cụm câu thuyết.
b. Xét về mặt chức năng thông báo của từng thành tố trong kết cấu văn bản, các câu trong cụm câu đă được chia thành các loại tùy theo loại h́nh cụm câu.
§ Trong cụm câu đối thoại, thường có câu hỏi, câu đáp hoặc câu trao lời, câu đáp lời. Trong văn đối thoại, thường có cụm câu, đoạn văn hỏi, cụm câu, đoạn văn đáp hoặc cụm câu, đoạn văn trao lời, cụm câu, đoạn văn đáp lời. § Trong bài văn thất ngôn bát cú, cả bài chính là một đoạn văn gồm bốn cụm câu đề, thực, luận, kết (hay khởi, thừa, chuyển, hợp); mỗi cụm câu là một cặp hai câu mà thi pháp cổ gọi là liên. Cụm câu đề theo lí thuyết thường gồm câu phá đề có chức năng mở bài và câu thừa đề có chức năng vào bài. Cụm câu thực có chức năng giải thích rơ ư trong đề. Cụm câu luận có chức năng bàn luận về ư được nêu trong phần đề. Cụm câu kết có chức năng tóm ư cả bài và tạo dư vị cho cả bài. Trong bài thơ bốn câu, có khi 4 câu được chia thành các câu nêu, các câu báo hoặc các câu thực, các câu luận; có khi đơn giản chỉ gồm các câu tả cùng nhau góp phần thể hiện một ư bao quát toàn cụm câu đồng thời cũng là toàn bài. Người Trung Hoa quan niệm, nói chung, một bài thơ tứ tuyệt thường gồm các câu khai, thừa, chuyển, hợp. Thường câu khai (hay câu khởi) có chức năng mở ư; câu thừa có chức năng xuất phát từ ư của câu khai mà thêm ư; câu chuyển có chức năng đột phá, chuyển sang một ư mới hoặc một khía cạnh mới của ư trong hai câu khai, thừa; câu hợp có chức năng nêu ư phù hợp với các ư của ba câu trên đồng thời có chức năng làm cho toàn bài trở nên một thể thống nhất, hoàn chỉnh, ḥa hợp. § Trong cụm câu lập luận, có các câu tiền đề và câu kết luận. Các câu tiền đề thường diễn đạt các phán đoán làm cơ sở để suy diễn ra nội dung trong câu kết luận. Nội dung câu kết luận là kết quả suy diễn diễn dịch từ các câu tiền đề. Ở quy mô lớn hơn, trong đoạn văn có cụm câu tiền đề́ và cụm câu kết luận và trong mục có đoạn văn tiền đề và đoạn văn kết luận v.v... Cần phân biệt hai khái niệm câu kết ư, câu kết đoạn ở trên với câu kết luận ở đây. Câu kết ư, kết đoạn thường hoặc là tóm tắt các ư trong cả kết cấu văn bản, hoặc là diễn giải (diễn đạt lại dưới h́nh thức khác) câu chủ ư, câu chủ đoạn. C̣n câu kết luận diễn đạt ư được suy diễn từ các câu tiền đề, nó không làm chức năng tóm tắt ư của toàn kết cấu văn bản hoặc diễn giải câu chú ư của kết cấu văn bản. Thông thường, câu kết luận thường mở đầu bằng các kết ngữ như: vậy, v́ vậy, chính v́ vậy, do đó, suy ra... Câu kết ư, thường mở đầu bằng các kết ngữ như: Tóm lại, Nói tóm lại, Nói chung, Nói một cách khái quát, Như thế, Như vậy, Rơ ràng là ... Thí dụ: Không phải bây giờ Việt Nam mới đặt vấn đề phát huy nội lực đâu. Vấn đề này đă được đề cập tới nhiều trong nghị quyết của Đảng và kế hoạch của Chính phủ, nhưng kết quả chưa được như mong muốn. V́ vậy trong Nghị quyết Trung ương bốn, chúng tôi nhấn mạnh phát huy nội lực. Phát huy nội lực gồm nhiều mặt: phát huy trí tuệ của nhân dân, sức lao động của con người, tài nguyên của đất nước, vốn liếng của nhân dân... chứ không đơn thuần là chỉ có huy động 5-6 tỉ USD c̣n tiềm ẩn trong nhân dân. Nếu có phát huy nội lực tốt th́ mới có thể thu hút được nguồn vốn từ bên ngoài và sử dụng chúng có hiệu quả. V́ vậy, đây không phải là sự thay đổi chính sách của Việt Nam nhằm đối phó với cuộc khủng hoảng tiền tệ ở khu vực. (Lê Khả Phiêu - Trả lời phỏng vấn - Theo Tuổi trẻ, Thứ năm 7-5-98) § Trong văn bản nói chung, cụm câu gồm cụm câu đẳng lập, cụm câu chính phụ (xét về mặt ngữ pháp), cụm câu tự nghĩa, cụm câu hợp nghĩa (xét về mặt tính hoàn chỉnh). Cụm câu đẳng lập gồm các câu có chức năng ngang bằng nhau; tất cả đều hướng vào một chủ ư chung không được diễn đạt tường minh. Người đọc sẽ phải dựa vào ư của từng câu để khái quát hóa và tự t́m ra chủ ư của cụm câu. Cụm câu chính phụ tự nghĩa, ở dạng đầy đủ nhất, gồm có câu mở ư, câu chủ ư, các câu cụ thể hóa ư và câu kết ư. Ở những cụm câu chính phụ hợp nghĩa, có khi c̣n có thêm câu chuyển ư ở vị trí đầu hoặc cuối cụm câu; nếu không có riêng một câu chuyển ư th́ câu mở ư thường có thêm kết ngữ hoặc kết từ hoặc phụ từ, trợ từ... có tác dụng liên kết các cụm câu. Câu chủ ư có chức năng nêu ư khái quát, ư hạt nhân của cụm câu. Các câu cụ thể hóa ư có chức năng làm rơ ư khái quát trong câu chủ ư và nếu cần, làm rơ thêm ư của bản thân chúng. Câu kết ư có chức năng tóm ư và có thể được viết dưới hai dạng: hoặc diễn giải lại câu chủ ư hoặc tóm tắt các ư của các câu trong toàn cụm câu. Đối với đoạn văn và kết cấu văn bản ở cấp độ cao hơn đoạn văn, t́nh h́nh cũng tương tự. Nghĩa là ở dạng tối đa, có thể gồm cụm câu hoặc đoạn văn chuyển ư, cụm câu hoặc đoạn văn mở ư, cụm câu hoặc đoạn văn chủ ư, các cụm câu hoặc đoạn văn cụ thể hóa ư và cụm câu hoặc đoạn văn kết ư. § Trong văn kể chuyện, lí luận văn học đă phân tích cấu trúc một cốt truyện ở dạng đầy đủ gồm 5 thành tố: mở đầu, khai đoan, phát triển, đỉnh điểm, kết thúc. Một văn bản tự sự tối giản, chỉ gồm một cụm 5 câu (như truyện ngắn Hai con dê chẳng hạn) có thể coi là có 5 loại câu: câu mở đầu, câu khai đoan, câu phát triển, câu đỉnh điểm, câu kết thúc. Đây là cách phân loại dựa vào chức năng của các thành tố trong kết cấu tự sự. Trong nhà trường phổ thông, việc viết văn nghị luận được chú ư nhiều. Xét về mặt chức năng thông báo, một cụm câu nghị luận chính phụ, hợp nghĩa có thể có tối đa năm loại câu: câu chuyển ư, câu mở ư, câu chủ ư, các câu thuyết ư và câu kết ư. Thường thường câu mở ư, câu chủ ư, câu kết ư có quan hệ đẳng lập. Câu chủ ư và các câu thuyết ư có quan hệ chính phụ: câu chính là câu chủ ư, các câu phụ là các câu thuyết ư. Tuy nhiên, trong thực tế hành văn, người viết có thể viết rất nhiều loại đoạn văn khác nhau thuộc các thể loại khác nhau làm nên tính phong phú, đa dạng của các loại câu trong văn bản. Do đó muốn chỉ ra chính xác mỗi câu trong cụm câu thuộc loại nào xét về mặt chức năng thông báo của chúng th́ nhất thiết phải xuất phát từ đặc điểm thể loại của cụm câu.
c. Xét về mặt quan hệ giữa ư của từng thành tố và ư chính của cả kết cấu văn bản, các câu trong cụm câu gồm hai loại: câu chủ đề và câu không chủ đề.
- Câu chủ đề diễn tả ư hạt nhân, khái quát của cả cụm câu. Câu chủ đề có thể được đặt ở đầu, ở cuối, hoặc ở giữa của cụm câu để làm nên cụm câu diễn dịch, cụm câu quy nạp hoặc cụm câu hỗn hợp diễn dịch quy nạp. Điều cần chú ư là không phải bao giờ chủ đề của cụm câu, đoạn văn chính phụ cũng được diễn đạt chỉ trong một câu duy nhất; đôi khi, nó c̣n được diễn đạt trong hai câu khác nhau, như trong trường hợp câu kết ư diễn giải lại câu chủ đề của cụm câu, đoạn văn. - Câu không chủ đề gồm các câu chuyển ư, mở ư và các câu cụ thể hóa ư của câu chủ ư trong cụm câu chính phụ. Trường hợp cụm câu gồm các câu có quan hệ đẳng lập th́: do không câu nào diễn tả ư hạt nhân, khái quát của cả cụm câu nên không có câu chủ đề, tất cả các câu đều là các câu không chủ đề. Người đọc phải tự ḿnh khái quát hóa ư của các câu đẳng lập trong cụm câu để t́m ra chủ đề của cụm câu. Trong các kết cấu văn bản ở cấp độ cao hơn, t́nh h́nh cũng tương tự. Nghĩa là, có thể có cụm câu chủ đề và cụm câu không chủ đề, đoạn văn chủ đề và đoạn văn không chủ đề. Cụm câu chủ đề là cụm câu diễn tả ư hạt nhân, khái quát của cả đoạn văn. Cụm câu không chủ đề phần lớn là các cụm câu diễn tả cụ thể ư trong cụm câu chủ đề ấy. Đoạn văn chủ đề là đoạn văn diễn tả ư hạt nhân, khái quát của cả mục. Đoạn văn không chủ đề phần lớn là các đoạn văn diễn tả ư cụ thể của đoạn văn chủ đề ấy. Thí dụ: Mục 2. Thơ từ trang 7 đến trang 16 trong Văn học 12, Tập một (Hoàng Như Mai, Nguyễn Đăng Mạnh, Trần Hữu Tá, Nxb GD, 1992) gồm hai tiểu mục: a) Nhật kí trong tù (từ trang 8 đến trang 14), b) Thơ kháng chiến (từ trang 14 đến trang 16). Trước hai tiểu mục này là một đoạn văn mở mục đồng thời nêu chủ đề của mục gồm ba khổ viết như sau: Các văn hào ta xưa thường quan niệm: làm thơ là để nói lên cái chí của ḿnh (thi ngôn chí). Đọc thơ Hồ Chí Minh, ta cũng thấy quan niệm ấy. Sinh ra trong một gia đ́nh nho học, Hồ Chí Minh yêu thơ, biết làm thơ. Nhưng người tự đặt cho ḿnh trách nhiệm cứu nước cho nên gác sang bên tất cả những sở thích riêng và dốc hết tâm trí vào việc nước; Người chỉ đến với thơ trong những khoảnh khắc rất hiếm hoi và Người làm thơ để bày tỏ cái chí nguyện của ḿnh. Mở đầu cho tập Nhật kí trong tù, Hồ Chí Minh viết: Ngâm thơ ta vốn không ham Nhưng v́ trong ngục biết làm chi đây? Ngày dài ngâm ngợi cho khuây Vừa ngâm vừa đợi đến ngày tự do. Thơ của Hồ Chí Minh mà ta được đọc, số lớn thơ nghệ thuật là ở trong tập Nhật kí trong tù. Một số bài khác, được sáng tác trong thời ḱ thành lập Mặt trận Việt minh và sau Cách mạng tháng Tám 1945. Đoạn văn trên gồm hai cụm câu nêu hai ư khái quát: quan niệm về thơ của Bác và hai loại thơ của Bác. Sau đó là các tiểu mục a) nhật kí trong tù và b) thơ kháng chiến gồm nhiều đoạn văn cụ thể hóa hai ư trong đoạn văn chủ đề được dẫn ở trên. Về mối quan hệ giữa câu chủ đề và các câu cụ thể hóa câu chủ đề trong cụm câu: Lôgic học đă xác định: giữa các khái niệm có thể có các mối quan hệ tương thích và không tương thích. Các mối quan hệ tương thích là: quan hệ đồng nhất, quan hệ giao, quan hệ bao hàm. Các mối quan hệ không tương thích là quan hệ tách rời và quan hệ mâu thuẫn. Giữa ư của câu chủ đề và ư của các câu cụ thể hóa nó, cố nhiên, phải có mối quan hệ tương thích, nhưng hơn thế nữa, giữa chúng c̣n phải có quan hệ đồng nhất. Nghĩa là, ngoại diên của khái niệm được diễn đạt trong câu chủ đề phải trùng với tổng ngoại diên của các khái niệm được diễn đạt trong các câu cụ thể hóa nó. Nếu yêu cầu trên không được bảo đảm, người viết sẽ mắc một trong các lỗi sau đây. - Thiếu ư: Cụm câu diễn dịch, trong đó, các câu giải đoạn triển khai không hết ư của câu chủ đề (lỗi triển khai dưới tầm) hoặc cụm câu quy nạp, trong đó, các câu tiền đề chưa đủ cơ sở để dẫn tới ư trong câu kết luận (lỗi quy nạp quá tầm). Nói cách khác, ngoại diên của khái niệm trong câu chủ đề lớn hơn tổng ngoại diên của các khái niệm trong các câu cụ thể hóa nó. Thí dụ: Các loài cây đ̣i hỏi lượng muối khoáng không giống nhau. Những loài cây trồng lấy quả, hạt cần nhiều phốt pho và ni tơ. Cây trồng lấy củ (cà rốt, khoai lang, củ cải...) cần nhiều ka li. - Xa đề: Cụ thể là các câu tiếp nối nói lan man ngoài ư trong câu chủ đề. Thí dụ: Ḷng thương người của Nguyễn Du bao trùm toàn bộ tác phẩm Truyện Kiều. Đoạn trích nào trong sách giáo khoa ông cũng nâng cao phẩm giá con người. Kiều thương cha bị đ̣n mà phải bán ḿnh. Điều này như cho chúng ta thấy rơ hơn cuộc sống hồng nhan của Kiều. Ông thương xót Kiều v́ Kiều đă chịu bao nhiêu tai họa. Ta cũng biết rơ hơn thế nào là hồng nhan bạc mệnh. - Lạc đề: Cụ thể là các câu tiếp nối nói sang chuyện khác hẳn ư trong câu chủ đề. Thí dụ: Nam Cao viết nhiều về nông thôn. Lăo Hạc ăn bả chó để tự tử và tránh đói. Anh cu Phúc chết lặng lẽ trong xó nhà ẩm ướt trước những đôi mắt dại đi v́ đói của hai đứa con. Bà cái Tư chết v́ một bữa no, tức là một kiểu chết v́ quá đói. Lại có cả cảnh đám cưới, nhưng cưới để chạy tang. Về mối quan hệ giữa các câu cụ thể hóa câu chủ đề: Lôgic học đă chỉ ra các khái niệm cùng hạng trong một loại (cùng bị bao hàm bởi một khái niệm khác) có thể thuộc một trong hai mối quan hệ ngang hàng hoặc đối chọi. Do vậy, trong cụm câu diễn dịch, các câu cụ thể hóa ư trong câu chủ đề phải có mối quan hệ lôgic ngang hàng, nghĩa là chúng phải diễn đạt những ư tưởng bộ phận thuộc cùng một tiêu chí phân loại. Ở cấp độ cao hơn, các tiết trong chương, các mục trong tiết, các tiểu mục trong mục, các đoạn văn trong tiểu mục... cũng phải có quan hệ ngang hàng về mặt logic. Cần tuyệt đối tránh viết những câu cụ thể hóa ư câu chủ đề có mối quan hệ giao hoặc không được phân chia trên cùng một tiêu chí phân loại. Yêu cầu trên cũng cần được quán triệt cả ở cấp độ các kết cấu văn bản cao hơn cụm câu. Dưới đây là hai thí dụ phạm lỗi. Thí dụ 1: Các mục trong đại mục của một luận văn tốt nghiệp I. Các ư kiến khác nhau về đơn vị NPVB trên câu: 1. Quan niệm của các nhà nghiên cứu ngôn ngữ và tạp chí Ngôn ngữ 2. Quan niệm về đơn vị trên câu trong các giáo tŕnh - sách giáo khoa - tiếng Việt thực hành (H.T.Th H, Cử nhân văn k21) Thí dụ 2: Các mục trong hai đại mục của một giáo tŕnh I. Các h́nh thái của chủ nghĩa duy vật 1. Chủ nghĩa duy vật cổ đại 2. Chủ nghĩa duy vật siêu h́nh 3. Chủ nghĩa duy vật Mác-Ăng ghen được kế thừa bởi Lê nin II. Các h́nh thái lịch sử của phép biện chứng 1. Phép biện chứng cổ đại 2. Phép biện chứng duy tâm 3. Phép biện chứng duy vật Ở trên là các loại câu trong cụm câu xét về mặt thông báo. Việc phân loại các đơn vị và kết cấu văn bản c̣n được dựa vào các tiêu chí khác nữa. Xét về mặt cách triển khai nội dung kết cấu văn bản có thể có các loại cụm câu, đoạn văn diễn dịch, quy nạp, hỗn hợp diễn dịch-quy nạp, tổíng-phân-hợp, móc xích và song hành. Cụm câu, đoạn văn song hành và móc xích luôn được dùng để triển khai cụm câu, đoạn văn có cấu trúc đẳng lập. Các cụm câu, đoạn văn diễn dịch, quy nạp, hỗn hợp diễn dịch-quy nạp, tổíng-phân-hợp là các cách triển khai khác nhau một cụm câu, đoạn văn chính phụ. Xét về mặt tính chất khái quát của nội dung và mục đích giao tiếp, có thể chia câu, cụm câu, đoạn văn thành các câu, cụm câu, đoạn văn miêu tả, thuật sự, lập luận, đối thoại. Câu, cụm câu, đoạn văn miêu tả nêu đặc trưng sự vật để người đọc h́nh dung được sự vật. Tùy loại sự vật, sẽ có câu, cụm câu, đoạn văn tả người, tả vật, tả cảnh, tả t́nh. Câu, cụm câu, đoạn văn lập luận nêu lí lẽ, dẫn chứng, lời bàn để lí giải về những vấn đề tự nhiên và xă hội. Chúng có thể được chia thành câu, cụm câu, đoạn văn giải thích, dẫn chứng, phân tích dẫn chứng, liệt kê ... Câu, cụm câu, đoạn văn đối thoại thường gồm câu, cụm câu, đoạn văn trao lời và đáp lời. Thường thấy các loại câu, cụm câu, đoạn văn này trong các bài phỏng vấn trên báo chí hoặc trong các đoạn đối thoại giữa các nhân vật của tác phẩm văn học. Chú ư: Có rất nhiều loại câu, cụm câu, đoạn văn khác nhau. Cần nắm chắc tiêu chí phân loại để không sai phạm về mặt logic khi sử dụng tên gọi các loại câu, cụm câu, đoạn văn. Đặc biệt chớ lầm: - câu đề với câu tiền đề, câu chủ đề; - câu chủ đề với chủ ngôn; - câu phụ kết (câu thuyết hoặc kết ngôn) với câu kết ư (kết cụm, kết đoạn) và với câu kết luận. Câu chủ đề diễn tả ư chính, ư khái quát, của cả cụm câu (đối lập với câu không chủ đề). Trong cụm câu đẳng lập, không có mặt câu chủ đề. Chủ đề của cụm câu đẳng lập là sự liên hội ư của các câu thành tố, người đọc phải tự ḿnh xác định và t́m ra. Hai câu có quan hệ chính phụ mà câu sau là bộ phận của câu trước được tách ra, chủ đề của hai câu cũng là sự liên hội ư trong hai câu. Trong cụm câu chính phụ diễn dịch, câu chủ đề có thể trùng với một trong các câu đề. Trong cụm câu chính phụ quy nạp, câu chủ đề có thể chính là một trong các câu thuyết và thường cũng là câu kết ư. Câu tiền đề nêu ư tưởng làm cơ sở suy diễn lôgic để có câu kết luận. Chúng là các loại câu xét về mặt quan hệ lập luận. Câu kết ư là kết quả phân loại xét về mặt chức năng của từng thành tố trong cụm câu, đoạn văn, thường hoặc tóm tắt ư của các câu trong cụm câu, đoạn văn hoặc diễn giải lại ư trong câu chủ đề của cụm câu, đoạn văn. Câu đề (hay chủ ngôn hay câu cơ sơ)í là câu nêu lên đối tượng sẽ được bàn đến, nói đến, được người viết nêu lên trước và chọn làm điểm xuất phát cho các câu khác phụ kết, ứng tiếp. Câu thuyết (hay câu phụ kết hay kết ngôn) luôn đi sau câu đề và có nhiệm vụ nói về đối tượng trong câu đề. Vậy là, khi xem xét cấu trúc nội bộ của các kết cấu văn bản, phải nắm chắc các mối quan hệ phong phú giữa các đơn vị và kết cấu văn bản; phải nắm chắc các tiêu chí phân loại và các hệ thống phân loại đơn vị và kết cấu văn bản (cũng rất đa dạng và phức tạp). Riêng đối với việc dạy thực hành dựng đoạn, hệ thống phân loại dựa vào chức năng thông báo của từng thành tố trong kết cấu văn bản là có nhiều tác dụng hơn cả. Dưới đây là một số kiến thức về tính liên kết trong văn bản.
III. TÍNH LIÊN KẾT CỦA MỘT VĂN BẢN

Có 7 mục trong đại mục này:
1. Liên kết là ǵ?
2. Các phạm vi liên kết văn bản
3. Hai chiều liên kết văn bản
4. Hai kiểu liên kết văn bản
5. Các mặt liên kết văn bản
6. Các dạng và các mức độ liên kết
7. Các phương tiện và các phép liên kết văn bản
1. Liên kết là ǵ?
Trong mỗi văn bản, các hiện tượng, sự kiện được viết ra thường có mối liên hệ với nhau để cùng phản ánh một hiện thực khách quan chung; các t́nh cảm, thái độ của tác giả được biểu lộ đi kèm mỗi hiện tượng, sự kiện cũng thường có mối liên hệ với nhau và cùng thể hiện một tư tưởng, t́nh cảm chung; các đơn vị và kết cấu văn bản thường được sắp xếp theo một tŕnh tự nào đấy nhằm phản ánh, thể hiện đúng quan hệ logic giữa các hiện tượng, sự kiện được phản ánh với nghĩ suy, cảm xúc của tác giả. Như thế, liên kết văn bản là mạng lưới các mối quan hệ nội dung, h́nh thức giữa các đơn vị, kết cấu trong nội bộ văn bản và các mối quan hệ giữa văn bản với các yếu tố ngoài văn bản. Giữa các câu trong văn bản thường có các yếu tố làm nhiệm vụ liên kết. Đề tố là yếu tố ngôn ngữ trong câu trước, tạo cơ sở cho sự liên kết. Kết tố là yếu tố ngôn ngữ trong câu sau, có tác dụng liên kết trên cơ sở đề tố. Trong ba câu vừa được viết ngay trên đây, từ câu, từ liên kết, từ yếu tố ở câu 1 là các đề tố, chúng là cơ sở cho sự liên kết. Chúng được lặp lại ở câu 2, 3 và có tác dụng liên kết ba câu. Các từ, được lặp lại hoặc hoàn toàn (câu, liên kết) hoặc bộ phận (đề tố, kết tố) ở câu 2, 3, chính là các kết tố. Giữa câu 2 và câu 3, các từ đề tố, liên kết và ngữ yếu tố ngôn ngữ trong câu trước ở câu 2 là các đề tố, các từ kết tố, liên kết và ngữ yếu tố ngôn ngữ trong câu sau là các kết tố. Trong các cặp câu dưới đây, các chữ in đứng có gạch dưới là đề tố và kết tố. D́ Hảo là con nuôi của bà tôi. Bố đẻ d́ chết đă lâu. // Mưa đă ngớt. Trời rạng dần.
2. Các phạm vi liên kết văn bản
Có hai phạm vi liên kết văn bản: liên kết giữa văn bản với cuộc sống bên ngoài và liên kết giữa các đơn vị, kết cấu văn bản trong nội bộ văn bản. Trong phạm vi liên kết thứ nhất, cuộc sống bên ngoài được hiểu là cuộc sống tồn tại trong thực tế khách quan. Cuộc sống trong trí tưởng tượng của nhà văn và tất cả những ǵ được tác giả viết ra trong văn bản phải có mối liên hệ logic, văn hóa nhất định. Trong phạm vi nội bộ văn bản, có hai cấp độ liên kết. Cấp độ câu, đó là mối liên kết liên câu. Cấp độ đơn vị trên câu, đó là mối liên kết giữa các cụm câu, các đoạn văn, các mục, tiết, chương, phần... Sự liên kết liên câu có đặc điểm là đa dạng hơn sự liên kết giữa các bộ phận trong câu và các phương tiện liên kết liên câu cũng dùng được và đủ dùng cho sự liên kết giữa các đơn vị trên câu. Do vậy, bài giảng này chủ yếu nói về hiện tượng liên kết liên câu.
3. Hai chiều liên kết văn bản
3.1 Khái niệm:
Trong văn bản, các đơn vị và kết cấu văn bản có mối liên kết chặt chẽ. Chúng thường có mối liên kết với các đơn vị hoặc kết cấu văn bản đi trước và đi sau nó, làm thành hai chiều liên kết văn bản. Đó là: liên kết khứ chỉ (hay liên kết dự báo, liên kết chiều xuôi) và liên kết hồi chỉ (hay liên kết hồi quy, liên kết chiều ngược). Khứ chỉ là liên kết giữa đơn vị, kết cấu văn bản đang xét với đơn vị, kết cấu văn bản đi sau nó. Hồi chỉ là liên kết giữa đơn vị, kết cấu văn bản đang xét với các đơn vị, kết cấu văn bản đứng trước nó. Thí dụ: Trước hết, có người tách tên riêng của ḿnh thành hai yếu tố để đặt bút danh. Kết ngữ Trước hết trong phát ngôn trên cho phép người đọc nhận ra mối liên kết hồi chỉ: phát ngôn đang xét có mối quan hệ thuyết minh, cụ thể hóa cho phát ngôn đi trước nó và cả mối liên kết khứ chỉ: phát ngôn đang xét cần một phát ngôn khác cụ thể hóa nó và một phát ngôn khác nữa để tiếp nối v́ rằng đă có trước hết tất phải có sau đó, kế đó, tiếp theo... Trong nguyên văn, đoạn văn chứa phát ngôn vừa nêu là: ... Riêng trong cách đặt bút danh của văn nghệ sĩ Việt Nam, chơi chữ cũng khá đa dạng và khá thú vị. Trước hết, có người tách tên riêng của ḿnh thành hai yếu tố để đặt bút danh. Chẳng hạn, một kí giả tên Chuyên đă lấy bút danh là Chu Uyên. Kế đó, một số nhà thơ, nhà văn đă đánh vần tên riêng của ḿnh thành bút danh. Nhà văn Nguyễn Đ́nh tạo ra Đinh thị Huyền. Nhà thơ Thế Lữ lấy bút danh Lê Ta, v́ Ta dịch ra tiếng Hán Việt là Ngă; mà Lê Ngă tức là Lễ. Tác giả "Vang bóng một thời", nhà văn Nguyễn Tuân, th́ làm ngược lại cách đánh vần: Tuấn Thừa Sắc. (Lê Trung Hoa, Chơi chữ trong bút danh) 3.2 Các phương tiện ngôn từ thể hiện các chiều liên kết:
a. Chiều liên kết khứ chỉ thường được thể hiện nhờ các phương tiện ngôn từ sau đây:
- Phát ngôn tận cùng bằng những động từ quan hệ (thành, trở thành, giống như, là, bằng...). Trong trường hợp này bổ tố được tách thành phát ngôn riêng. Thí dụ: Chúng tôi có bốn kiến nghị là: (tiếp theo là các kiến nghị cụ thể được viết thành các phát ngôn riêng)
- Phát ngôn tận cùng bằng những động từ tồn tại (có, là, gồm có...). Trong trường hợp này đối tượng tồn tại được tách thành các phát ngôn riêng. Thí dụ: Về công viên, thảm cỏ cây xanh, trong khuôn viên Trường đại học Cần Thơ có: (Tiếp theo là các đối tượng tồn tại được tách thành các phát ngôn riêng).
- Phát ngôn tận cùng bằng các quan hệ từ: v́, do, như, rằng... hoặc phát ngôn chứa các kết ngữ: như sau, sau đây, dưới đây, thế này, thứ nhất, trước hết, trước tiên... Thí dụ: Lớp ta năm qua có nhiều thành tích trong hoạt động xă hội và học tập v́ những lí do sau đây: (Tiếp theo là các nguyên nhân được viết thành các phát ngôn riêng) Trước tiên, hăy nói về công tác dân vận. Dưới đây là các thuận lợi chủ yếu của chi đoàn.
- Phát ngôn là câu hỏi dự báo trước một câu trả lời.
Thí dụ: Muốn no ấm th́ phải làm gi? Làm như thế nào? - Phải tăng gia sản xuất. - Ngoài ra, ư nghĩa của từng phát ngôn nhiều khi mang sẵn tính khứ chỉ. Người đọc thường có sự chờ đợi một phát ngôn tiếp nối. Chẳng hạn: Ngày xưa ở một làng nọ có hai anh em nhà nghèo. Hoặc: Bạn tên Sầu Riêng, nhiều người nghe thấy cười chắc ba má bạn thích ăn sầu riêng. Hoặc: Hôm qua, có một chuyện rất hệ trọng. b. Chiều liên kết hồi chỉ thường được thể hiện nhờ các phương tiện ngôn từ thuộc các phép liên kết thế, lặp, nối, liên tưởng, tỉnh lược... Thí dụ: - Lời bất hủ ấy ở trong bản Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của nước Mĩ. Suy rộng ra, câu ấy có nghĩa là: tất cả các dân tộc trên thế giới sinh ra đều b́nh đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do. (Thế bằng đại từ ấy) - Chúng lập ra nhà tù nhiều hơn trường học. Chúng thẳng tay chém giết những người yêu nước thương ṇi của ta. Chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong những bể máu. (Lặp các chủ ngữ Chúng và lặp cấu trúc ngữ pháp) - Nhưng cho rồi, y vẫn thường tiếc ngấm ngầm. (Phép nối bằng kết từ nhưng, phụ từ vẫn khiến người đọc phải t́m đến các câu đi trước để hiểu được ư tưởng của câu đang xét. Ngoài ra, việc tỉnh lược bổ tố của động từ cho, động từ tiếc, việc dùng phép thế bằng đại từ y cũng có tác dụng liên kết hồi chỉ. Các câu trước và sau của câu trên là: Mỗi tháng y vẫn cho hắn dăm hào. Khi sai nó trả tiền giặt hay mua thức ǵ, c̣n năm ba xu, một vài hào, y thường cho nốt nó luôn. Nhưng cho rồi, y vẫn thường tiếc ngấm ngầm. Bởi v́ những số tiền cho lặt vặt ấy, góp lại, trong một tháng, có thể thành đến hàng đồng.) - Ao thu lạnh lẽo nước trong veo. Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo. (thuyền câu bé làm liên tưởng tới ao, nước) - (Lan xin phép mẹ đi Huế tham quan cùng tập thể lớp.) Mẹ cho phép lại c̣n cho nhiều tiền tiêu vặt. (Tỉnh lược bổ tố của hai ngữ động từ cho phép và cho tiền làm người đọc phải liên hệ ngược lên câu đi trước mới hiểu được ư của câu đang xét: cho phép Lan đi Huế tham quan cùng tập thể lớp, cho Lan tiền)
4. Hai kiểu liên kết văn bản
4.1 Liên kết tuyến tính
Tính h́nh tuyến là một điểm đặc thù của hệ thống tín hiệu ngôn ngữ khi chúng hành chức. Đặc điểm này đ̣i hỏi các đơn vị ngôn ngữ phải xuất hiện theo trật tự trước sau trong câu nói. Nó cũng đ̣i hỏi các đơn vị, kết cấu văn bản phải xuất hiện theo trật tự trước sau trong văn bản. Như vậy, liên kết tuyến tính là kiểu liên kết theo trật tự trước sau của các đơn vị và kết cấu văn bản trong văn bản. Trong thực tế, liên kết tuyến tính thường được thực hiện kèm với các phương tiện liên kết văn bản khác nên vai tṛ của nó bị lu mờ và ít được chú ư. Trong trường hợp liên kết tuyến tính chỉ được thực hiện bằng tŕnh tự trước sau của các đơn vị, kết cấu văn bản, nó cũng được xem là một phép liên kết. Thí dụ: Tan học. Trời mưa to. Cô giáo không cho học sinh nào về cả. Một phát súng vang rền. Vừ A Dính nhào xuống ven đường ṃn trong núi.
4.2 Liên kết tổng thể
Liên kết tổng thể là liên kết chiều sâu, được thể hiện bằng cách sắp xếp các ư theo những tầng bậc cao, thấp khác nhau tùy theo mức độ khái quát và tầm quan trọng của chúng. Nhờ vậy, người đọc có thể nhận ra chủ đề chung của văn bản xuất phát từ các chủ đề bộ phận, các ư tưởng thuộc cùng một bậc khái quát hay cùng một mức độ quan trọng. Nó làm nên mạch lập luận, mạch tư duy xuyên suốt kết cấu văn bản hay văn bản. Thí dụ, mục a) nhật kí trong tù (bài Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh, Văn học 12, Tập 1, Nxb GD, 1992) có mối liên kết tổng thể như sau: Đầu mục là ba câu nêu khái quát về thể loại, hoàn cảnh sáng tác, chữ viết được sử dụng và nội dung của tập nhật kí: "Nhật kí trong tù" là một tập nhật kí bằng thơ của Hồ Chí Minh làm trong thời gian bị cầm tù ở mấy chục nhà lao tỉnh Quảng Tây từ mùa thu năm 1942 đến mùa thu 1943. Cuốn nhật kí này viết bằng chữ Hán, ghi lại những điều Người đă chứng kiến và tâm tư của Người trong những ngày lao tù. Những bài thể hiện tâm trạng là những bài thơ trữ t́nh đặc sắc. Sau đó là ba ư lớn cụ thể hóa các ư khái quát được đánh dấu bằng các chữ thập: + Nhật kí trong tù phơi bày những xấu xa, tàn bạo của chế độ nhà tù tỉnh Quảng Tây (TrungQuốc) năm 1942-1943 (hai trang 8, 9) + Nhật kí trong tù thể hiện một tâm hồn lớn (ba trang 9, 10, 11) + Nhật kí trong tù thể hiện một phong cách nghệ thuật phong phú, độc đáo (bốn trang 11, 12, 13, 14) Cuối ư lớn đầu, trước ư lớn hai, có một câu chuyển ư và hai câu mở ư như sau: Nhưng thơ Hồ Chí Minh chủ yếu không chỉ tố cáo cái xă hội đen tối bất công ấy. Từ trong bóng tối dày đặc, ánh sáng vẫn ngời lên. Ánh sáng tâm hồn của một chiến sĩ cách mạng vĩ đại. Sau đó là tiêu đề ư lớn hai: + Nhật kí trong tù thể hiện một tâm hồn lớn. Trong ư lớn hai này, sách giáo khoa tŕnh bày năm ư nhỏ, cụ thể hóa "tâm hồn lớn" ấy. Đó là: Ḷng thương người - T́nh cảm nhớ nước - Nghị lực vững vàng, ư chí mănh liệt, tinh thần lạc quan - T́nh yêu thiên nhiên - Niềm khát khao tự do của Hồ Chí Minh trong NKTT. Về ư nhỏ t́nh cảm nhớ nước, sách giáo khoa viết: Càng thương yêu nhân dân sâu sắc, nỗi niềm nhớ nước của Người càng da diết canh cánh bên ḷng. Trong bài thơ Không ngủ được: Một canh... hai canh... lại ba canh, Trằn trọc băn khoăn giấc chẳng thành, Canh bốn canh năm vừa chợp mắt, Sao vàng năm cánh mộng hồn quanh. H́nh ảnh nổi lên trước hết là một tâm hồn lớn luôn luôn hướng về Tổ quốc cả trong lúc thức lẫn lúc mộng. H́nh ảnh ngôi sao vàng năm cánh là biểu hiện rất cụ thể khát vọng và niềm tin của Người về một đất nước Việt Nam độc lập. Ở trích đoạn trên, câu đầu vừa có tác dụng tóm ư nhỏ "yêu nhân dân" trước đó vừa có tác dụng mở ư "nhớ nước" cho cả trích đoạn sau đó. Tiếp theo là bài thơ dẫn chứng và cuối cùng là hai câu vừa phân tích bài thơ vừa hướng nội dung phân tích vào việc làm sáng tỏ chủ đề của trích đoạn. Như vậy: - Liên kết tổng thể không có h́nh thức biểu hiện riêng, người viết buộc phải tŕnh bày theo trật tự tuyến tính những chủ đề bộ phận với những ư tưởng lớn nhỏ khác nhau có tác dụng thuyết minh, giải thích cho nó. Nhưng nhờ những kết ngữ có tác dụng nối kết, chuyển ư, nhờ ở liên hệ nội dung giữa các ư tưởng mà sự cân đối logic giữa các chủ đề bộ phận của văn bản vẫn được nhận biết cho dù những ư tưởng lớn nhỏ khác nhau có tác dụng thuyết minh, giải thích kia đă làm cho các chủ đề bộ phận trở nên gián cách nhau. - Liên kết tổng thể có tác dụng quan trọng đối với việc tổ chức văn bản. Với việc tạo lập văn bản, nắm mối liên kết tổng thể là rất cần thiết để có dàn ư tốt. Với việc tiếp nhận văn bản, nắm được liên kết tổng thể sẽ dễ t́m ra dàn bài của văn bản với các tầng bậc ư tưởng khác nhau. - Liên tưởng và bao hàm có mặt thường xuyên và phổ biến trong liên kết tổng thể. Nhờ liên tưởng, các ư tưởng cùng bậc khái quát, cùng tầm quan trọng dù được tŕnh bày cách xa nhau trong nhiều trang sách vẫn được liên kết lại trên cùng một b́nh diện. Nhờ bao hàm, các ư thuộc cùng một bậc khái quát, cùng một tầm quan trọng sẽ được tŕnh bày theo những h́nh thức t