THÔNG BÁO

  THỜI GIAN GẦN ĐÂY MỘT SỐ BẠN LỢI DỤNG  WEBSITE NÀY ĐỂ ĐƯA RA NHỮNG PHÁT NGÔN KHÔNG TỐT. CHO NÊN CHÚNG TÔI TẠM THỜI ĐÓNG WEBSITE LẠI ĐỂ NÂNG CẤP NHẰM HẠN CHẾ MỘT SỐ HÀNH VI KHÔNG TỐT LÀM ẢNH HƯỞNG ĐẾN DIỄN ĐÀN .CÁC BẠN CÓ THẮC MẮC XIN LIÊN HỆ : phanthanhhung90@gmail.com
4- Phong cách chính luận :
a- Khái niệm:
PC chính luận là PC được dùng trong lĩnh vực chính trị xă hội. Người giao tiếp ở PC này thường bày tỏ chính kiến, bộc lộ công khai quan điểm chính trị, tư tưởng của ḿnh đối với những vấn đề thời sự nóng hổi của xă hội. Đây là khái niệm ít nhiều mang tính truyền thống và việc phân giới giữa PC này với PC khoa học, PC thông tấn vẫn c̣n một số quan niệm chưa thống nhất. [4], [8],[14],[15].
b- Chức năng và đặc trưng :
1- Chức năng :
PC chính luận có ba chức năng: thông báo, tác động và chứng minh. Chính v́ thực hiện các chức năng này mà ta thấy PC chính luận có sự thể hiện đặc trưng và đặc điểm ngôn ngữ có nét giống với PC thông tấn, PC khoa học và cả PC văn chương.
2- Đặc trưng:
PC chính luận có ba đặc trưng:
2.1- Tính b́nh giá công khai:
Người nói, người viết bao giờ cũng bộc lộ công khai một cách rơ ràng trực tiếp quan điểm, thái độ của ḿnh đối với sự kiện. Đây là đặc trưng khu biệt PC chính luận với PC khoa học và PC văn chương. Nếu văn chương là b́nh giá gián tiếp, khoa học là tránh sự thể hiện những yếu tố cảm tính chủ quan th́ ngôn ngữ của PC chính luận bao giờ cũng bộc lộ trực tiếp quan điểm, thái độ của ḿnh về một vấn đề thời sự của xă hội. Sự b́nh giá này có thể là của cá nhân hoặc nhân danh một tổ chức, đoàn thể chính trị nào đó.
2.2- Tính lập luận chặt chẽ:
Để bày tỏ chính kiến, giải thích, thuyết phục và động viên mọi người tham gia vào việc giải quyết những vấn đề thời sự nóng hổi của đất nước, sự diễn đạt ở PC này đ̣i hỏi có tính chất lập thuyết. Nghĩa là phải bằng những lí lẽ đúng đắn, có căn cứ vững chắc, dựa trên cơ sở những luận điểm, luận cứ khoa học mà đấu tranh, thuyết phục, động viên. Tính lập luận chặt chẽ thể hiện ở việc khai thác những quan hệ chiều sâu giữa h́nh thức ngôn ngữ và mục đích biểu đạt. Một văn bản chính luận hay thường là những văn bản chưá đựng nhiều hàm ư sâu sắc, có sức chinh phục ḷng người, có sức cuốn hút mănh liệt.
2.3- Tính truyền cảm:
PC chính luận cóï tính truyền cảm mạnh mẽ , tức sự diễn đạt hùng hồn, sinh động có sức hấp dẫn và đạt hiệu quả cao, thuyết phục cả bằng lí trí, cả bằng t́nh cảm, đạo đức. Đặc trưng này tạo nên sự khu biệt giữa PC chính luận với PC khoa học, thông tấn và khiến PC này gần với PC văn chương. Trong văn bản chính luận, chúng ta thường bắt gặp các biện pháp tu từ, những từ ngữ có đặc điểm tu từ cao nhằm gây ấn tượng mạnh mẽ về mặt âm thanh và ư nghĩa.
c- Đặc điểm :
1- Ngữ âm:
Có ư thức hướng tới chuẩn mực ngữ âm. Khi phát biểu trong hội nghị hoặc diễn thuyết trong mit tinh, ngữ điệu được xem là phương tiện bổ sung để tăng thêm sức hấp dẫn, lôi cuốn người nghe.
2- Từ ngữ:
- Đặc điểm nổi bật nhất là sự có mặt của lớp từ chính trị, công cụ riêng của PC chính luận. PC chính luận đ̣i hỏi khi dùng từ chính trị phải luôn luôn tỏ rơ lập trường, quan điểm và t́nh cảm cách mạng của ḿnh. Ví dụ: Ai dám bảo cuộc Cách mạng tháng Tám của ta là cuộc đảo chính? Đảo chính là hai bọn thống trị trong nước hất cẳng nhau. Bọn này quật đổ bọn kia để lập chính phủ mới, nhưng căn bản chế độ cũ vẫn để nguyên. Đằng này nhân dân bị áp bức nổi dậy tự giải phóng giành chính quyền, sao gọi là đảo chính? (TC) - Từ ngữ đ̣i hỏi sự minh xác cao. Đề tài được đưa ra bàn luận ở PC chính luận là những vấn đề thời sự nóng hổi của xă hội cho nên khi cần thiết người ta phải dùng tất cả các lớp từ ngữ có quan hệ đến đề tài này. - Khi cần bày tỏ sự đánh giá t́nh cảm của ḿnh một cách mạnh mẽ đối với các vấn đề nêu ra, người ta coön chọn lọc và sử dụng các đơn vị từ khẩu ngữ, bởi v́ đây là lớp từ giàu sắc thái ư nghĩa và sắc thái biểu cảm. Ví dụ: Ai nói mà không làm, ai chỉ nghị quyết suông, ai theo đuôi quần chúng, ai ỳ ra như xe ḅ lên dốc, ai nhút nhát như bị quân thù bắt mất hồn, ai không dám hi sinh việc nhà cho việc Đảng, phải kíp sửa đổi mà tiến lên (T.Tr) [15,157]
3- Cú pháp:
-Do phải thực hiện chức năng thông báo, chứng minh và tác động nên phong cách chính luận dùng nhiều kiểu câu khác nhau: câu đơn, câu ghép, câu tường thuật, câu nghi vấn, câu cảm thán.
- Câu văn chính luận thường dài, có kết cấu tầng bậc làm cho tư tưởng nêu ra được xác định chặt chẽ.
- Để nhấn mạnh ư tưởng, gây sự chú ư ở người đọc, PC chính luận sử dụng nhiều lối nói trùng điệp, phép điệp từ, điệp ngữ, các cách so sánh giàu tính liên tưởng và tương phản để tăng cường độ tập trung thông tin và hiệu quả b́nh giá, phán xét.
Ví dụ: - Chúng ta muốn hoà b́nh, chúng ta đă nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, v́ chúng quyết tâm cướp nước ta một lần nữa. (Hồ Chí Minh)
 - Đổi mới là con đường duy nhất đúng đắn của Đảng ta, của nhân dân ta, để vượt qua mọi khó khăn to lớn, đi đến ổn định và phát triển. Đổi mới tạo nên thế mới và sức lực mới, như muà xuân làm bật dậy sức sinh sôi huyền diệu của thiên nhiên, đúng theo quy luật của sự phát triển. (Báo Nhân dân)
5- Phong cách hành chính :
a- Khái niệm
:
PC hành chính là PC đuợc dùng trong giao tiếp thuộc lĩnh vực hành chính. Đấy là giao tiếp giữa Nhà nước với nhân dân, giữa nhân dân với cơ quan Nhà nước, giữa cơ quan với cơ quan, giữa nước này và nước khác.
b- Chức năng và đặc trưng:
1- Chức năng:
PC hành chính có hai chức năng: thông báo và sai khiến. Chức năng thông báo thể hiện rơ ở giấy tờ hành chính thông thường, ví dụ như: văn bằng, chứng chỉ các loại, giấy khai sinh, hoá đơn, hợp đồng...Chức năng sai khiến bộc lộ rơ trong các văn bản quy phạm pháp luật, văn bản của cấp trên gởi cho cấp dưới, của nhà nước đối với nhân dân, của tập thể với các cá nhân.
2- Đặc trưng:
PC hành chính có 3 đặc trưng:
2.1- Tính chính xác- minh bạch:
Văn bản hành chính chỉ cho phép một cách hiểu. Nếu hiểu không thống nhất sẽ dẫn đến việc thi hành các văn bản hành chính theo những cách khác nhau. Tính chính xác này đ̣i hỏi từ dấu chấm câu đến từ ngữ, câu văn và kết cấu của văn bản. Nói cách khác, quan hệ giữa h́nh thức và nội dung biểu đạt là quan hệ 1-1. Đặc trưng này đ̣i hỏi người tạo lập văn bản không được dùng các từ ngữ, các kiểu cấu trúc ngữ pháp mơ hồ.
2.2- Tính nghiêm túc- khách quan:
Tính khách quan gắn với chuẩn mực luật pháp nhằm để diễn đạt tính chất xác nhận, khẳng định của những tài liệu này. Văn bản hành chính thuộc loại giấy tờ có quan hệ đến thể chế quốc gia , của xă hội có tổ chức cho nên sự diễn đạt ở đây phải luôn luôn thể hiện tính nghiêm túc. Các văn bản như : hiến pháp, luật, quyết định, thông tư,... mang tính chất khuôn phép cao cho nên không chấp nhận PC diễn đạt riêng của cá nhân. Ngay cả những văn bản hành chính mang tính cá nhân cũng phải đảm bảo đặc trưng này.
2.3- Tính khuôn mẫu:
Văn bản hành chính được soạn thảo theo những khuôn mẫu nhất định do nhà nước quy định. Những khuôn mẫu này được gọi là thể thức văn bản hành chính. Thể thức đúng không những làm cho văn bản được sử dụng có hiệu quả trong hoạt động hiện hành của các cơ quan mà c̣n làm cho văn bản có giá trị bền vững về sau. c- Đặc điểm:
1- Ngữ âm:
Khi phát âm ở phong cách này phải hướng tới chuẩn mực ngữ âm, phát âm phải rơ ràng, chính xác. Khác với các PC khác, khi tồn tại ở dạng nói, PC hành chính không phải là sự tŕnh bày , diễn đạt theo văn bản đă viết hoặc soạn đề cương mà là đọc lại.Nghĩa là chúng không chịu một sự biến đổi nào bên trong. Ngữ điệu đọc hoàn toàn bị phụ thuộc vào cấu trúc của nội dung văn bản.
2- Từ ngữ:
- Những từ ngữ xuất hiện nhiều ở PC này là lớp từ ngữ chuyên dùng trong các hoạt động của bộ máy nhà nước và các đoàn thể, c̣n được gọi là từ hành chính. Loại từ này tạo nên vẻ riêng nghiêm chỉnh, có thể chế của sự diễn đạt hành chính.
- Có khuynh hướng dùng những từ ngữ thật chính xác đứng về mặt nội dung và những từ ngữ trung hoà hoặc những từ ngữ trang trọng đứng về mặt sắc thái biểu cảm. Những từ ngữ này góp phần biểu thị tính chất thể chế nghiêm chỉnh của các giấy tờ và văn kiện hành chính.
- Từ Hán Việt chiếm một tỉ lệ khá lớn.
3- Cú pháp:
- Dùng câu tường thuật là chủ yếu, các kiểu câu cảm thán , nghi vấn không thích hợp với yêu cầu thông tin của phong cách này.
- Câu văn hành chính không chấp nhận sự mơ hồ. Tính thống nhất và chặt chẽ của các văn bản hành chính không cho phép sử dụng những câu trong đó quan hệ ngữ pháp giữa các thành phần không rơ ràng khiến nội dung câu văn bị hiểu theo nhiều cách.
- Câu văn hành chính không cho phép sự sáng tạo về ngôn ngữ của cá nhân, những yếu tố cảm xúc của cá nhân. Do yêu cầu cao về sự thống nhất theo thể thức hành chính nên một số văn bản hành chính viết theo mẫu đă quy định thống nhất.
- Cú pháp của bất kỳ một quyết định hành chính nào cũng chỉ được tŕnh bày trong một câu.
6- Phong cách văn chương :
a- Khái niệm:
PC văn chương ( c̣n gọi là PC nghệ thuật) là PC được dùng trong sáng tác văn chương. PC này là dạng tồn tại toàn vẹn và sáng chói nhất của ngôn ngữ toàn dân. PC văn chương không có giới hạn về đối tượng giao tiếp, không gian và thời gian giao tiếp.
b- Chức năng và đặc trưng:
1- Chức năng:
PC ngôn ngữ văn chương có ba chức năng: thông báo, tác động, thẩm mĩ. Việc thực hiện chức năng của phong cách văn chương không bằng con đường trực tiếp như ở các PC khác mà bằng con đường gián tiếp thông qua h́nh tượng văn học.
2- Đặc trưng:
PC văn chương có ba đặc trưng:
2.1- Tính cấu trúc:
Mỗi tác phẩm văn chương là một cấu trúc. Các thành tố nội dung tư tưởng, t́nh cảm , h́nh tượng và các thành tố ngôn ngữ diễn đạt chúng không những phụ thuộc vào nhau mà c̣n phụ thuộc vào hệ thống nói chung. Trong tác phẩm văn chương, có khi chỉ cần bỏ đi một từ hay thay bằng một từ khác là đủ làm hỏng cả một câu thơ, phá tan nhạc điệu của nó, xoá sạch mối quan hệ của nó với hoàn cảnh xung quanh. Từ nghệ thuật không sống đơn độc, tự nó, v́ nó, từ nghệ thuật đứng trong đội ngũ, nó góp phần ḿnh vào các từ đồng đội khác. Tính cấu trúc là điều kiện của cái đẹp. Một yếu tố ngôn ngữ chỉ có được ư nghĩa thẩm mĩ khi nằm trong tác phẩm. Chính là trên cái nền văn bản phù hợp mà từ ngữ có thể thay đổi ư nghĩa: cũ kĩ hay mới mẻ, dịu dàng hay thâm độc, trang trọng hay hài hước...[8,140]
2.2- Tính h́nh tượng:
Ngôn ngữ văn chương được xem là công cụ cơ bản để xây dựng h́nh tượng văn học Khi khảo sát, đánh giá ngôn ngữ văn chương phải xem xét ngôn ngữ ở đây đă góp phần xây dựng và thể hiện h́nh tượng văn học như thế nào. Khi giao tiếp ở phong cách khẩu ngữ, người ta có thể dùng những từ ngữ bóng bẩy, văn hoa, giàu h́nh ảnh và sắc thái biểu cảm nhưng hiệu quả ở đây c̣n tuỳ thuộc vào người nói là ai, nói trong hoàn cảnh nào và v́ mục đích ǵ. Giao tiếp ở phong cách này, người phát ngôn có vai tṛ quyết định: Miệng nhà quan có gang, có thép; Vai mang túi bạc kè kè. Nói ấm nói ớ, người nghe ầm ầm. Trong khi đó, ở phong cách văn chương, địa vị cao thấp, sang hèn của nhà văn nhà thơ không đóng vai tṛ quyết định nhiều. Tính h́nh tượng của ngôn ngữ văn chương bắt nguồn từ chỗ đó là ngôn ngữ của một chủ thể tư tưởng thẩm mĩ xă hội có tầm khái quát nhất định. Chính v́ thế ngôn ngữ văn chương dễ đi vào ḷng người, nó trở thành ngôn ngữ của muôn người. Tính h́nh tượng trong phong cách văn chương thể hiện ở chỗ ngôn ngữ ở đây có khả năng truyền đạt sự vận động, động tác nội tại của toàn bộ thế giới, cảnh vật, con người vào trong tác phẩm. Ngôn ngữ trong phong cách khẩu ngữ cũng có khả năng này nhưng nó không là điều bắt buộc. Trong văn chương, trái lại, đó là điều không thể thiếu. Ngôn ngữ văn chương phải làm sống dậy các động tác, vận động đầy ư nghĩa của sự vật trong những thời khắc nhất định. Bất kỳ một phương tiện từ ngữ nào trong một văn cảnh nhất định đều có thể chuyển thành một từ ngữ nghệ thuật, nếu có thêm một nét nghĩa bổ sung nào đó.
2.3- Tính cá thể hoá:
Tính cá thể hoá được hiểu là dấu ấn phong cách tác giả trong tác phẩm văn chương. Dấïu ấn PC tác giả là cái thuộc về đặc điểm bản thể, thuộc về điều kiện bắt buộc của ngôn ngữ văn chương. Sêkhôp nói: Nếu tác giả nào không có lối nói riêng của ḿnh th́ người đó sẽ không bao giờ là nhà văn cả. Lối nói riêng mà Sêkhôp gọi chính là PC tác giả. Xét về mặt ngôn ngữ, PC tác giả thể hiện ở hai dấu hiệu:
- Khuynh hướng ưa thích và sở trường sử dụng những loại phương tiện ngôn ngữ nào đó của tác giả;
- Sự sáng tạo ngôn ngữ của tác giả
c- Đặc điểm:
1- Ngữ âm:
Trong PCVC, những yếu tố ngữ âm như: âm, thanh, ngữ điệu, tiết tấu, âm điệu rất quan trọng. Có thể nói, tất cả những tiềm năng của ngữ âm tiếng Việt đều được vận dụng một cách nghệ thuâtû để đáp ứng nhu cầu thẩm mĩ về mặt ngữ âm của người đọc, người nghe. Hầu như mọi biến thể của ngữ âm tiếng Việt đều được khai thác.
2- Từ ngữ:
Từ ngữ trong PCVC rất đa dạng, gồm cả từ phổ thông và từ địa phương, biệt ngữ; từ hiện đại và từ lịch sử, từ cổ; từ khiếm nhă và từ trang nhă. Từ trong sinh hoạt b́nh thường chiếm tỉ lệ cao, song vẫn xuất hiện đủ các lớp từ văn hoá, kể cả thuật ngữ khoa học. Nguyên nhân là tác phẩm văn chương có chức năng phản ánh mọi khía cạnh của cuộc sống muôn màu muôn vẻ. Nhờ sử dụng toàn bộ các phương tiện biểu hiện mà PCVC luôn luôn chuyển đổi, biến động, luôn luôn đa dạng mới mẻ trong cách phô diễn.
3- Cú pháp:
PCVC sử dụng hầu như tất cả các kiểu cấu trúc câu. Song cấu trúc câu đơn vẫn chiếm tỉ lệ cao. PCVC thường sử dụng các loại câu mở rộng thành phần định ngữ, trạng ngữ và các loại kết cấu tu từ như đảo ngữ, sóng đôi cú pháp, câu chuyển đổi t́nh thái...
Ví dụ:
-Thuyền về nước lại sầu trăm ngả
Củi một cành khô lạc mấy ḍng (Tràng giang- Huy Cận)
-Tây Bắc ư? Có riêng ǵ Tây Bắc? Khi ḷng ta đă hoá những con tàu, Khi Tổ quốc bốn bề lên tiếng hát
Tâm hồn ta là Tây Bắc chứ c̣n đâu? ( Tiếng hát con tàu- Chế Lan Viên)
* Bài tập thực hành:
1- Hăy xác định phong cách chức năng và thuyết minh đặc trưng, đặc điểm ngôn ngữ của những ví dụ sau :
a-Theo Tổng cục Khí tượng thủy văn và Ban chỉ đạo Pḥng chống lụt băo Trung ương, t́nh h́nh thời tiết năm nay diễn tiến phức tạp trên toàn cầu, nhiều nơi xảy ra lũ lụt lớn. Trung Quốc là nước láng giềng với ta đă xảy ra lũ lụt trên địa bàn rộng, đông dân cư gây thiệt hại lớn về người và tài sản. Ở nước ta thời tiết diễn biến phức tạp. Ngay từ đầu năm đă có lũ lớn ở các tỉnh miền núi phía Bắc; miền Trung hạn hán kéo dài. Từ nay đến cuối năm t́nh h́nh thời tiết c̣n diễn biến phức tạp, chưa thể dự đoán chính xác được. Để chủ động đề pḥng thiên tai có thể xảy ra, Bộ yêu cầu các đồng chí Giám đốc kiểm tra đôn đốc các đơn vị cấp dưới thực hiện nghiêm chỉnh công tác PCLB năm 1998 và đặc biệt lưu ư các đơn vị, Sở có hàng hoá, vật tư trên địa bàn xung yếu thuộc Hà Tây, Hà Nội, Hưng Yên, Bắc Ninh thường xuyên theo dơi các t́nh huống cụ thể để đề pḥng lũ lụt xảy ra, nhằm giảm thiệt hại đến mức thấp nhất về người và tài sản. Bộ sẽ làm việc cụ thể với một số Tổng công ty, công ty để giao nhiệm vụ, chuẩn bị phương tiện vận tải ( ô tô các loại, tàu, sà lan...) và lực lượng tự vệ xung kích để khi cần Trung ương có thể huy động ngay được.
b- Các dấu chấm câu Có người đánh mất dấu phẩy, trở nên sợ những phức tạp, cố t́m những câu đơn giản. Đằng sau những câu đơn giản là những ư nghĩ đơn giản. Sau đó anh ta đánh mất dấu chấm than và bắt đầu nói khe khẽ, không có ngữ điệu. Chẳng c̣n ǵ làm anh ta sung sướng hay phẫn nộ. Anh ta thờ ơ với mọi chuyện. Kế đó anh ta đánh mất dấu hỏi và chẳng bao giờ hỏi ǵ nữa. Mọi sự kiện bất kỳ xảy ra ở đâu, dù ở trên vũ trụ, trên mặt đất hay ngay trong nhà anh ta, cũng không làm anh ta quan tâm. Một vài năm sau anh ta quên mất dấu hai chấm và không c̣n giải thích hành vi của ḿnh nữa. Cuối đời anh ta chỉ c̣n lại dấu ngoặc kép mà thôi. Anh ta không phát biểu được một ư kiến nào riêng của ḿnh nữa, lúc nào cũng trích dẫn lời người khác. Thế là anh ta quên mất cách tư duy hoàn toàn. Cứ như vậy anh ta đi cho tới dấu chấm hết. Xin hăy giữ những dấu chấm câu của ḿnh .
c- Tuyên ngôn độc lập Hồ Chí Minh Hỡi đồng bào cả nước
Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền b́nh đẳng. Tạo hoá cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc. Lời bất hủ ấy trong bản Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của nước Mĩ. Suy rộng ra, câu ấy có nghĩa là: Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra b́nh đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do. Bản Tuyên ngôn độc lập và Dân quyền của cách mạng Pháp 1791 cũng nói : Người ta sinh ra tự do và b́nh đẳng về quyền lợi, và phải luôn luôn được tự do và b́nh đẳng về quyền lợi. Đó là những lẽ phải không ai chối căi được. Thế mà hơn 80 năm nay, thực dân Pháp lợi dụng lá cờ tự do, b́nh đẳng, bác ái, đến cướp đất nước ta, áp bức đồng bào ta. Hành động của chúng trái hẳn với nhân đạo và chính nghĩa. Về chính trị, chúng tuyệt đối không cho nhân dân ta một chút tự do nào. Chúng thi hành những luật pháp dă man. Chúng lập ba chế độ khác nhau ở Trung, Nam, Bắc để ngăn cản việc thống nhất nước nhà của ta, để ngăn cản dân tộc ta đoàn kết. Chúng lập ra nhà tù nhiều hơn trường học. Chúng thẳng tay chém giết những người yêu nước thương ṇi của ta. Chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong những bể máu. Chúng ràng buộc dư luận, thi hành chính sách ngu dân. Chúng dùng thuốc phiện, rượu cồn để làm cho ṇi giống ta suy nhược. Về kinh tế, chúng bóc lột dân ta đến tận xương tủy, khiến cho dân ta nghèo nàn, thiếu thốn, nước ta xơ xác, tiêu điều, chúng cướp không ruộng đất, hầm mỏ, nguyên liệu. Chúng giữ độc quyền in giấy bạc, xuất cảng và nhập cảng. Chúng đặt ra hàng trăm thứ thuế vô lí, làm cho dân ta, nhất là dân cày và buôn bán, trở nên bần cùng. Chúng không cho các nhà tư sản của ta ngóc đầu lên. Chúng bóc lột công nhân ta một cách vô cùng tàn nhẫn. Mùa thu năm 1940, phát xít Nhật đến xâm lăng Đông Dương để mở thêm căn cứ đánh Đồng Minh, th́ bọn thực dân Pháp quỳ gối đầu hàng, mở cửa nước ta rước Nhật. Từ đó dân ta chịu hai tầng xiềng xích: Pháp và Nhật. Từ đó, dân ta càng cực khổ, nghèo nàn. Kết quả là cuối năm ngoái sang đầu năm nay, từ Quảng Trị đến Bắc Ḱ, hơn hai triệu đồng bào ta chết đói. Ngày 9 tháng 3 năm nay, Nhật tước khí giới của quân đội Pháp. Bọn thực dân Pháp hoặc là bỏ chạy, hoặc là đầu hàng. Thế là chẳng những chúng không bảo hộ được ta, trái lại, trong 5 năm, chúng đă bán nước ta hai lần cho Nhật. Trước ngày 9 tháng 3, biết bao lần Việt Minh đă kêu gọi người Pháp liên minh để chống Nhật. Bọn thực dân Pháp đă không đáp ứng, lại thẳng tay khủng bố Việt Minh hơn nữa. Thậm chí đến khi thua chạy, chúng c̣n nhẫn tâm giết nốt số đông tù chính trị ở Yên Bái và Cao Bằng. Tuy vậy, đối với người Pháp, đồng bào ta vẫn giữ một thái độ khoan hồng và nhân đạo. Sau cuộc biến động ngày 9 tháng 3, Việt Minh đă giúp cho nhiều người Pháp ra khỏi nhà giam Nhật và bảo vệ tính mạng và tài sản của họ. Sự thật là từ muà thu 1940, nước ta đă trở thành thuộc địa của Nhật, chứ không phải là thuộc địa của Pháp nữa. Khi Nhật hàng Đồng Minh, th́ nhân dân cả nước ta nổi dậy giành chính quyền, lập nên Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Sự thật là dân ta lấy lại nước Việt Nam từ tay Nhật chứ không phải từ tay Pháp. Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị. Dân ta đánh đổ các xiềng xích của thực dân gần 100 năm nay để gây dựng nên nước Việt Nam độc lập. Dân ta lại đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỉ mà lập nên chế độ Dân chủ Cộng hoà. Bởi thế cho nên, chúng tôi, Lâm thời Chính phủ của nước Việt Nam mới, đại biểu cho toàn dân Việt Nam, tuyên bố thoát li hẳn quan hệ thực dân với Pháp, xoá bỏ hết những hiệp ước mà Pháp đă kí về nước Việt Nam, xoá bỏ tất cả mọi đặc quyền của Pháp trên đất nước Việt Nam. Toàn dân Việt Nam, trên dưới một ḷng kiên quyết chống lại âm mưu của thực dân Pháp. Chúng tôi tin rằng các nước Đồng Minh đă công nhận những nguyên tắc dân tộc b́nh đẳng ở các Hội nghị Têhêrăng và Cựu Kim Sơn, quyết không thể không công nhận quyền độc lập của dân tộc Việt Nam. Một dân tộc đă gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn 80 năm nay. Một dân tộc đă gan góc đứng về phe Đồng minh chống phát xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do! Dân tộc đó phải được độc lập! V́ những lẽ trên, chúng tôi, Chính phủ lâm thời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, trịnh trọng tuyên bố với thế giới nước Việt Nam có quyền được hưởng tự do và độc lập và sự thực đă trở thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy.
d-
Ông Bảo:- Thằng Chiến nhà ông thi mấy trường?
Ông Hùng:- Th́ phải đủ ba lần mèo mới chịu mở mắt ra mà lị.
Ông Bảo:- Liệu có đỗ cả không?
Ông Hùng:- Thấy cháu nó nói là làm được. Cũng chưa biết thế nào. Không được th́ toi mất hơn tấn luá.
Ông Bảo:- Có không đỗ th́ một lần ra Hà Nội cũng sướng. Tôi ngần này tuổi chưa biết Hà Nội Hà ngoại ở đâu.
Ông Hùng:- Hôm thi xong tôi bảo, đỗ đâu chưa biết hai bố con cứ phải ra bờ Hồ ăn một bữa kem cho đă miệng cái đă.
Ông Bảo:- Chắc là ngon lắm?
Ông Hùng:- Tuyệt. Đời tôi... là lần đầu.
Ông Bảo:- Ông nói mà tôi phát thèm.
Ông Hùng:- Kem Hà Nội thứ thiệt chứ không dởm như quê ḿnh, đúng là tiền nào của ấy.
Ông Bảo:- Mấy trăm một que?
Ông Hùng:- Hà Nội làm ǵ có kem mấy trăm. Một ngàn. Chỗ nào cũng một ngàn.
Ông Bảo:- Thế ngon là phải. Quê ḿnh có hai trăm. Rẻ thế nhưng con mẹ Ly bán kem cũng giàu nhanh ra phết.
Ông Hùng:- Nó mới bỏ chồng hay sao ấy nhỉ?
Ông Bảo:- Ừ. Đi theo thằng... thằng... thằng Tú chớp ảnh trên phố huyện. Anh ta cũng có con thi đại học đợt này đấy.
e- Con chó chết vào giữa cái hồi đói khủng khiếp mà có lẽ đến năm 2000, con cháu chúng ta vẫn c̣n kể lại cho nhau nghe để rùng minh. Không phải chết v́ chủ nó không t́m nổi mỗi ngày vài lạng thịt ḅ để cho nó ăn. Anh Hoàng là một nhà văn, nhưng đồng thời cũng là một tay chợ đen rất tài t́nh. Khi chúng tôi đến nỗi chỉ c̣n một giúm xương và rất nhiều bản thảo chẳng biết bán cho ai, anh Hoàng vẫn phong lưu. Con chó của anh chưa phải nhịn bữa nào. Nhưng xác người chết đói ngập đường phố. Nó chết có lẽ v́ chén phải thịt người ươn hay là v́ hít phải nhiều xú khí. Thảm hại thay cho nó! Thế mà bây giờ đến thăm anh Hoàng ở chỗ gia đ́nh anh tản cư về, cách Hà Nội hàng trăm cây số, tôi lại được nghe đến một con chó dữ. Thật là thú vị!.. Tôi cười nho nhỏ. Chẳng biết tôi cười ǵ, anh thanh niên cũng nhe những chiếc răng vẩu ra cười. Đáp lại tiếng anh gọi, tiếng những chiếc guốc mỏng manh quét trên sân gạch nổi lên, lẹc khẹc và mau mắn. Một thằng bé mũ nồi đen, áo len xám chạy ra. Một đôi mắt đen láy nh́n tôi...
f- Sự phát triển của các biến thể phương ngữ cho thấy sự tiến hoá liên tục của ngôn ngữ. Càng xa các trung tâm văn hoá, kinh tế, thương mại th́ ngôn ngữ càng ít biến động, do đó càng giữ lại lâu, bảo tồn lâu dài những hiện tượng ngôn ngữ. Như vậy, ở các vùng núi cao, hoặc ở các vùng quê xa xôi, hẻo lánh th́ c̣n lưu lại những dấu vết của tiếng Việt cổ xưa. V́ thế, khi nghiên cứu các phương ngữ, chúng ta có thể khôi phục lại, t́m thấy được dấu vết phát triển của tiếng Việt, chỉ ra được những biến thể và những bất biến trong lịch sử tiếng Việt, và do đó chỉ ra được những đặc điểm của tiếng Việt. Nhiều sự vật, được PNBB và PNNB gọi bằng những tên khác nhau. Nghiên cứu những cái biểu đạt này cũng giúp ta thấy được những quy luật đáng lưu ư trong tiếng Việt. Ví dụ, từ bông của tiếng Việt có nguồn gốc Mă Lai là bongga (Dẫn theo B́nh Nguyên Lộc [53], Hoàng Thị Châu [14]). Từ bông là một từ cổ hơn từ hoa, một từ cũng trỏ cùng một đối tượng như bông, nhưng là một từ xuất hiện khi tiếp xúc với tiếng Hán. Đồng nghĩa tuyệt đối là sự xa xỉ của ngôn ngữ tự nhiên (A.Meillet), v́ thế, bước thứ nhất có sự phân bố lại cách dùng. Người miền Nam vẫn giữ lại từ bông c̣n người miền Bắc dùng từ hoa. Pháo bông, bông tai... trong PNNB ứng với pháo hoa, hoa tai... trong PNBB. Mặt khác, theo mô h́nh cấu tạo các từ ghép đẳng nghĩa, như đường sá, chợ búa, tre pheo, gà qué... trong PNBB đă h́nh thành từ bông hoa, lúc đầu cùng với cương vị là từ ghép đẳng nghĩa. Bước thứ hai, trong tư duy phân loại thực vật, có thứ vẫn được gọi là hoa nhưng có thứ lại gọi là bông chứ không c̣n là hoa nữa. Một mặt ta có hoa lan, hoa huệ, hoa mai... một mặt ta lại có bông lúa, bông kê, bông lau, bông sậy... Lúc này, bông không c̣n trỏ hoa nữa, nó đă chuyển sang ư nghĩa trỏ loại (bông lúa). Theo ư nghĩa đó, dần dần kết hợp bông hoa đă mất ư nghĩa của một từ ghép đẳng nghĩa mà trở thành một từ ghép chính phụ, ở đó bông chỉ c̣n ư nghĩa ngữ pháp trỏ loại từ. (Em muốn hái một bông hoa hồng...). Nếu như từ bông được dùng ở PNNB th́ ở phương ngữ này vẫn có hàng loạt từ ghép Hán Việt chứa yếu tố hoa như: hoa hậu, hoa khôi, hoa đăng, tinh hoa, hoa màu, hoa mĩ, hoa nguyệt, hoa miên, hoa văn...