THÔNG BÁO

  THỜI GIAN GẦN ĐÂY MỘT SỐ BẠN LỢI DỤNG  WEBSITE NÀY ĐỂ ĐƯA RA NHỮNG PHÁT NGÔN KHÔNG TỐT. CHO NÊN CHÚNG TÔI TẠM THỜI ĐÓNG WEBSITE LẠI ĐỂ NÂNG CẤP NHẰM HẠN CHẾ MỘT SỐ HÀNH VI KHÔNG TỐT LÀM ẢNH HƯỞNG ĐẾN DIỄN ĐÀN .CÁC BẠN CÓ THẮC MẮC XIN LIÊN HỆ : phanthanhhung90@gmail.com
5. Các mặt liên kết văn bản
5.1 Liên kết nội dung:
a. Khái niệm:
Liên kết nội dung là sự gắn kết ư nghĩa giữa các bộ phận trong văn bản nhằm thể hiện ư nghĩa chung của văn bản. Liên kết nội dung gồm hai tuyến: liên kết chủ đề và liên kết lôgic. Đối tượng chủ đề và đặc trưng chủ đề là cơ sở cho hai tuyến liên kết ấy. Đối tượng chủ đề là sự vật được nói tới trong đơn vị hoặc kết cấu văn bản. Đặc trưng chủ đề là phần nói về đối tượng chủ đề. Đối tượng chủ đề c̣n được gọi là đề tài, đặc trưng chủ đề c̣n được gọi tắt là chủ đề. Liên kết đề tài có tác dụng làm văn bản đạt được sự thống nhất, tránh "chuyện nọ xọ chuyện kia". Liên kết đặc trưng chủ đề làm văn bản có được sự nhất quán trong việc triển khai nội dung văn bản. C̣n liên kết lôgic làm nên tính hợp lí trong mối liên hệ giữa đối tượng với đặc trưng chủ đề và giữa các đặc trưng chủ đề với nhau. Thí dụ: Thày Hùng là giáo viên văn giỏi của trường tôi. Thày đang giảng bài thể tích h́nh cầu trên lớp. Cả hai câu đều nói về một đối tượng chủ đề: thày Hùng. Ta nói: chúng có mối liên kết đối tượng chủ đề hay liên kết đề tài. Nếu ở câu hai, từ Thày được thay thế bằng từ Cô th́ mối liên kết đề tài bị phá vỡ. Đặc trưng chủ đề của câu 1 là: là giáo viên văn giỏi của trường tôi, của câu 2 là: đang giảng bài thể tích h́nh cầu trên lớp. Theo lôgic thông thường, hai câu này khó có thể đi với nhau v́ giáo viên dạy văn giỏi th́ phải đang giảng một bài văn thơ nào đó trên lớp chứ không thể là giảng bài thể tích h́nh cầu. Ta nói: đặc trưng chủ đề của hai câu trên không có mối liên kết lôgic và do đó cũng không có mối liên kết chủ đề. Tuy nhiên, hai câu trên vẫn có thể đi được với nhau nếu có một câu thứ ba liền sau đó, đại loại: Thật khó có người nào như thày Hùng, vừa giỏi dạy văn lại vừa có thể phụ đạo cả toán cho học sinh lớp ḿnh chủ nhiệm. Ta nói: hai câu trên tuy không có mối liên kết lôgic của lôgic học nhưng lại có mối liên kết lôgic của cuộc sống, của sự vật phong phú, sinh động ngoài đời. Lại có trường hợp ư tưởng của một câu viết chỉ có thể hiểu được khi người đọc liên hệ nó với một nền văn hóa nhất định. Chẳng hạn, với câu Năm 1972, quân dân ta đă làm nên một Điện Biên Phủ trên không tại Hà Nội, người đọc chỉ hiểu được câu này khi biết về chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ năm 1954 và ư nghĩa to lớn của chiến thắng ấy. Ta nói: câu trên có mối liên kết với một nền văn hóa nhất định. Cũng có người gọi đó là mối liên kết dụng học (1). Liên kết dụng học được hiểu là liên kết do người sử dụng ngôn ngữ tạo ra dựa trên cơ sở mối liên hệ giữa các phát ngôn trong văn bản với các sự vật không được nói đến trong văn bản nhưng cần thiết cho việc hiểu văn bản. Những sự vật nằm ngoài văn bản ấy thường nằm trong lẽ thường được cả xă hội chấp nhận hoặc nằm trong hoàn cảnh giao tiếp, trong vốn văn hóa, lịch sử, phong tục tập quán của địa phương, của dân tộc... Chẳng hạn hai văn bản giải trí sau đây: Văn bản 1: Cha: Con bỏ cuốn lịch vào con heo đất làm ǵ vậy? Con: V́ con muốn tiết kiệm thời gian. Văn bản 2: A: Tôi rất muốn như Robinson. B: Để làm ǵ? A: Bởi v́ tôi sẽ là nhà vô địch cờ vua ở đảo. Xét về mặt phương tiện liên kết bằng ngôn ngữ, các câu trong hai văn bản trên liên kết chặt chẽ với nhau. Nhưng về mặt ư nghĩa, người đọc sẽ không thể hiểu được văn bản 1 nếu không biết tục tiết kiệm bằng cách bỏ dần tiền lẻ vào một con heo được làm bằng đất của người Việt, không thể hiểu được văn bản 2 nếu không biết Robinson là ai, có cuộc sống như thế nào... Liên kết văn bản dựa vào mối liên hệ với tục lệ của một dân tộc, của một thời như trên được gọi là liên kết dụng học. Trong các tác phẩm văn chương cổ điển, việc các tác giả sử dụng các điển cố, điển tích để tăng tính chất hàm súc của nội dung tác phẩm chính là đă tạo ra các liên kết dụng học. Muốn hiểu tác phẩm, không thể chỉ dựa vào bản thân câu chữ trong văn bản mà phải liên tưởng tới các sự vật trong vốn hiểu biết của dân tộc. Người giáo viên khi giảng bài, giảng văn, giảng thơ... luôn phải dẫn giải, kể chuyện, b́nh chú... để ư nghĩa của các mối liên kết dụng học ấy trở nên hiểu được với học sinh. Như vậy, trong mặt liên kết nội dung, thuộc tuyến liên kết chủ đề, phải kể đến liên kết đề tài (hay đối tượng chủ đề), liên kết chủ đề (hay đặc trưng chủ đề); thuộc tuyến liên kết lôgic, phải chú ư các mặt: liên kết lôgic của lôgic học, liên kết lôgic sự vật và liên kết tự nhiên của một nền văn hóa.
b. Các cách tổ chức liên kết đề tài:
- Chỉ nói về một đối tượng: Theo cách này, thông thường, các đối tượng chủ đề trong các câu hoặc được lặp lại hoặc được thay thế bằng đại từ hoặc bằng từ ngữ đồng quy chiếu. Thí dụ: Liên quay lại nh́n em, thấy An cũng đă ngủ say tay nắm chặt tà áo chị và đầu vẫn dựa vào vai. Liên nh́n quanh đêm tối, gió đă thoáng lạnh và đom đóm không c̣n nữa. Chị cúi xuống vực em vào trong hàng, mắt cũng ríu lại. Chị gài cửa cẩn thận và vặn nhỏ ngọn đèn đặt lên trên cái quả thuốc sơn đen. Rồi Liên đến bên em nằm xuống. Chị gối đầu lên tay nhắm mắt lại. (Thạch Lam, Hai đứa trẻ) Trong các câu trên, đối tượng chủ đề Liên hoặc được lặp lại hoặc được thế bằng từ chị trong các câu sau. - Nói về nhiều đối tượng khác nhau nhưng giữa chúng có mối liên hệ logic nhất định: Thí dụ: Hơi xe bọc thép nghe chạy mỗi lúc một gần. Pháo bầy nổ càng gần hơn, nghe rào rào cành cây đổ. Việt day họng súng về hướng đó. Nếu mày đổ quân th́ súng tao c̣n đạn. (Nguyễn Thi, Những đứa con trong gia đ́nh) Mỗi câu trên nói về một đối tượng chủ đề khác nhau nhưng chúng có mối liên hệ giữa hoàn cảnh với con người và hành động trước hoàn cảnh. - Nói về các đối tượng có quan hệ nghịch đối: Thí dụ: Chồng ta áo rách ta thương Chồng người áo gấm xông hương mặc người. - Lấy đối tượng trong đặc trưng chủ đề của câu trước làm đối tượng chủ đề trong câu sau: Cách liên kết này làm nên lối liên kết móc xích giữa các câu. Thí dụ: Thị Nở nh́n hắn, lắc đầu thương hại. Hắn muốn làm nũng với thị như với mẹ. Ở trên chỉ là mấy cách chính. Trong thực tế văn bản, người viết có nhiều cách liên kết đề tài rất phong phú. Có khi phối hợp nhiều cách liên kết, có khi liên kết trên cơ sở một thực tế đă được đề cập hoặc theo cách nghĩ chủ quan của người viết. Thí dụ: (1) Chiếc "Gát" lăn bánh rất êm trên đường. (2) Đêm rừng thật vắng vẻ và yên tĩnh. (3) Tôi đặt mấy ngón tay trên ṿng lái, mắt nh́n về phía trước, và h́nh dung trước lúc tôi đến giữa đám các cô gái nghịch như quỷ sứ. (4) Gặp tôi, Nguyệt sẽ nói rất ít, c̣n các cô bạn th́ sẽ làm loạn lên. (5) Nhưng chẳng hề ǵ cả, họ đều là những người bạn của anh chị em lái xe, đều là những con người dũng cảm, chân thực và mến khách. (Nguyễn Minh Châu, Mảnh trăng cuối rừng) Trong trích đoạn trên: - Ở câu 1 và 2, đối tượng chủ đề có mối liên hệ sự vật - hoàn cảnh, đặc trưng chủ đề có mối liên hệ cùng hướng (lăn bánh rất êm/yên tĩnh). - Câu 3 với hai câu 1, 2 có quan hệ sự việc - bối cảnh. - Ở các câu c̣n lại đề tài chính là đối tượng được nói tới trong đặc trưng chủ đề của câu 3 trước đó và đặc trưng chủ đề của hai câu cuối cùng là một hệ quả phù hợp với sự h́nh dung của nhân vật "tôi" đă được nói đến trong câu 3.
5.2 Liên kết h́nh thức:
Liên kết giữa các câu trong cụm câu cũng như liên kết giữa các kết cấu văn bản trước hết là sự liên kết nội dung, đó là sự móc nối, gắn kết giữa các ư tưởng trong các câu và các kết cấu văn bản. Nhưng sự liên kết nội dung này bao giờ cũng được thể hiện ra nhờ các yếu tố ngôn từ cụ thể được gọi là các phương tiện liên kết văn bản như lặp, thế, nối, liên tưởng, nghịch đối, tỉnh lược... Nói đến liên kết h́nh thức trong văn bản chính là nói đến các phương thức liên kết văn bản ấy. Như vậy, giữa hai mặt liên kết nội dung và liên kết h́nh thức có mối quan hệ biện chứng chặt chẽ: liên kết nội dung được thể hiện ra nhờ các phương thức liên kết h́nh thức và các phương thức liên kết h́nh thức chủ yếu dùng để diễn đạt sự liên kết nội dung. Nếu mối quan hệ biện chứng này bị phá vỡ, các câu đi với nhau sẽ không c̣n là văn bản. Thí dụ các phi văn bản sau đây:
1) Mĩ đă kéo quân vào vịnh Pecxich. Tôn Ngộ Không tự xưng là Tề Thiên Đại Thánh. Nước Lào ở phía tây của Việt Nam. (Ba câu đúng ngữ pháp này không có mối liên kết nội dung, h́nh thức nào)
2) Mĩ đă kéo quân vào vùng vịnh. Vịnh là một vùng biển hoặc hồ lớn ăn sâu vào đất liền. Nước Lào chỉ có đất liền, không có biển. (Ba câu không có liên kết nội dung, chỉ có liên kết h́nh thức: Câu 2 lặp từ vịnh trong câu 1, câu 3 lặp các từ đất liền, biển trong câu 2) Để các chuỗi câu hỗn độn trên trở thành văn bản, phải tạo mối liên kết văn bản cho chúng. Chẳng hạn, ta thêm vào mỗi ba câu trên câu thứ tư: Đó là ba câu lộn xộn. Từ Đó trong câu thêm này có tác dụng thay thế cho ba câu, đó là phương tiện liên kết h́nh thức có tác dụng liên kết ba câu về mặt nội dung; từ lộn xộn trong câu này làm cho ba đặc trưng chủ đề vốn không có liên kết logic trong ba câu trở nên có liên kết logic và do đó có liên kết nội dung. Dựa vào các mặt liên kết văn bản, Trần Ngọc Thêm đă chia văn bản ra làm hai loại: văn bản điển h́nh và văn bản không điển h́nh. Văn bản điển h́nh là văn bản có đủ cả liên kết chủ đề, liên kết logic và liên kết h́nh thức. Loại này chiếm chủ yếu trong số các văn bản. Số c̣n lại là văn bản không điển h́nh. Những văn bản này tuy có đủ cả hai mặt liên kết nội dung, liên kết h́nh thức nhưng thường thiếu hoặc liên kết chủ đề hoặc liên kết logic. Mặt liên kết Loại văn bản Liên kết h́nh thức Liên kết nội dung
Liên kết chủ đề Liên kết lôgic
Văn bản điển h́nh + + +
Văn bản không điển h́nh + + Æ
+ Æ +
Kịch phi lí tiêu biểu cho loại văn bản có liên kết chủ đề không có liên kết lôgic. Cũng thuộc loại này là những bài làm văn có cấu trúc lộn xộn, thiếu tính hợp lí khoa học của học sinh (Chẳng hạn: Mở bài: Vợ nhặt của Kim Lân đă xây dựng được một t́nh huống truyện độc đáo và hấp dẫn. Thân bài: Kể lại tóm tắt truyện Vợ nhặt. Kết bài: Trở lại ư mở bài). Những bài viết loại này là văn bản không điển h́nh v́ thiếu tính thống nhất lập luận, thiếu ư lớn dẫn đến lỗi không làm sáng tỏ được ư trong phần mở bài và lỗi thiếu cơ sở cho phần kết bài. Các bài thuộc thể loại đồng dao tiêu biểu cho loại văn bản có liên kết lôgic, thiếu liên kết chủ đề. Ở các bài này, mỗi câu nói về một chủ đề riêng, nhưng được liên kết nhờ vần điệu, nhờ có chung mục đích giúp con trẻ biết các đặc trưng của từng sự vật. Văn bản điển h́nh và văn bản không điển h́nh là kết quả của phép phân đôi khái niệm để có hai khái niệm có quan hệ mâu thuẫn. Không thể đồng nhất văn bản điển h́nh với văn bản có chất lượng cao và văn bản không điển h́nh với văn bản có chất lượng thấp. Nhiều văn bản không điển h́nh có chất lượng rất cao và ngược lại nhiều văn bản điển h́nh rất ít người biết đến.
6. Các dạng liên kết và các mức độ liên kết:
Người ta thường nói đến các dạng liên kết là liên kết trực tiếp, liên kết gián tiếp hay gián cách, liên kết hiện diện và liên kết khiếm diện. Liên kết trực tiếp là dạng liên kết giữa hai đơn vị, kết cấu văn bản liền kề. Liên kết gián tiếp là dạng liên kết giữa hai đơn vị, kết cấu văn bản ở xa nhau. Liên kết hiện diện là dạng liên kết có mặt cả đề tố và kết tố. Liên kết khiếm diện là dạng liên kết chỉ có một trong hai yếu tố liên kết xuất hiện. Nh́n chung, hai phát ngôn ở cạnh nhau và cả ở xa nhau liên kết với nhau khi cùng biểu thị một phạm vi đối tượng hoặc một hạt nhân ư nghĩa và không liên kết với nhau khi chúng thể hiện những phạm vi đối tượng hoặc hạt nhân ư nghĩa khác nhau. Thí dụ: - (1) Ở Mỹ Tho, trong Khởi nghĩa Nam Kỳ, năm 1940, hầu như nhà nào cũng có mơ mù u. (......). (8) Tới thời đánh Mỹ, dân Bến Tre xài mơ mù u nhiều. (liên kết gián tiếp, hiện diện) - Bổn cởi áo mưa. Lan đón lấy rũ nhẹ. (liên kết trực tiếp, khiếm diện) - Quanh năm buôn bán ở mom sông, Nuôi đủ năm con với một chồng (liên kết trực tiếp, hiện diện) - Nuôi đủ năm con với một chồng (...) Có chồng hờ hững cũng như không (liên kết gián tiếp, hiện diện) Về mức độ liên kết, nổi bật là liên kết lỏng và liên kết chặt. Các câu trong văn bản xét về mặt tính hoàn chỉnh có câu tự nghĩa, câu hợp nghĩa, câu dưới bậc. Nh́n chung, mức độ tự nghĩa càng cao th́ độ độc lập càng cao, mức độ không tự nghĩa càng cao th́ độ độc lập càng kém: - câu tự nghĩa, độ độc lập cao; - câu hợp nghĩa, độ độc lập kém; - câu dưới bậc, độ độc lập rất kém. Có thể thấy, các đơn vị và kết cấu văn bản càng có tính độc lập cao th́ sự liên kết càng có phần nới lỏng, càng có tính độc lập kém th́ sự liên kết càng có phần chặt chẽ. Sự nới lỏng trong liên kết thể hiện ở các phương tiện liên kết yếu. C̣n sự chặt chẽ trong liên kết thể hiện ở các phương tiện liên kết mạnh hoặc cực mạnh. Theo Trần Ngọc Thêm: - Dùng chung cho cả 3 loại phát ngôn ® phương tiện lk yếu Các phương thức lk - Dùng cho các phát ngôn hợp nghĩa ® phương tiện lk mạnh - Dùng nối các câu dưới bậc ® phương tiện lk cực mạnh
7. Các phương tiện và các phép liên kết văn bản
CÁC PHÉP LIÊN KẾT VĂN BẢN ĐĂ HỌC - Lặp ngữ âm (Lặp vần. Lặp số âm tiết) 1. Phép lặp - Lặp từ ngữ (Lặp từ/ngữ. Lặp hoàn toàn/bộ phận) - Lặp cú pháp (Lặp đủ/thiếu/thừa/khác. Lặp cân/lệch) - Thế đồng nghĩa hoặc đồng quy chiếu 2. Phép thế - Thế bằng đại từ - Thế bằng miêu tả đặc trưng đề tố - Liên tưởng cùng chất (bao hàm/chỉnh thể /bộ phận) 3. Phép liên tưởng - Liên tưởng khác chất (định vị/ các đặc trưng của một sự vật) - Bằng từ trái nghĩa 4. Phép nghịch - Bằng dạng phủ định đối -Bằng dạng miêu tả có ư nghĩa nghịch đối - Bằng ước lệ - Bằng kết từ 5. Phép nối - Bằng kết ngữ - Bằng phụ từ, trợ từ, tính từ - Theo quan hệ chức năng ngữ pháp BỔ SUNG: - Theo tŕnh tự thời gian 6. Phép tuyến - Theo tŕnh tự không gian tính - Theo tŕnh tự logic nào đấy - Tỉnh lược yếu (Lược chủ ngữ, bổ tố, định tố) 7. Phép tỉnh Đơn (Lược một thành phần ṇng cốt) lược - Tỉnh lược mạnh Phức (Lược hai thành phần ṇng cốt) Phép tuyến tính: Sử dụng trực tiếp tuyến tính làm phép liên kết. Phương thức này thường mờ đi khi có sự có mặt của các phương thức liên kết khác. Trường hợp không có mặt các phương tiện liên kết khác, các phương tiện của phép liên kết tuyến tính sẽ nổi bật lên. Đó là các phương tiện tuyến tính biểu thị quan hệ thời gian, không gian và phương tiện liên kết tuyến tính biểu thị quan hệ logic. Thí dụ: - Sinh viên bắt quả tang tên trộm xe đạp. Cán bộ Pḥng bảo vệ đă tới lập biên bản. - Trận lụt chưa rút. Nước vẫn mênh mông. - Sáng hôm sau th́ đám kiện đă xong. Một số người chẳng hiểu từ bao giờ, ngủ ngáy ngay bên khay đèn. Bọn xéo phải đang bắc cái chảo đồng và xách ấm nước ra nấu thêm lạng thuốc để hút ban ngày cho các quan làng thật tỉnh, các quan làng c̣n có một tiệc ăn cỗ nữa. Phép tỉnh lược: Phép tỉnh lược là sự khái quát hóa các phương tiện liên kết thể hiện ở việc lược bỏ trong kết ngôn những yếu tố có mặt trong chủ ngôn. Việc này làm phát ngôn trở nên không hoàn chỉnh về ngữ pháp, ngữ nghĩa. Nếu sự lược bớt ít, kết ngôn tuy không tự nghĩa nhưng vẫn đảm bảo đủ cấu trúc câu, nghĩa là vẫn là câu hợp nghĩa, th́ đó là tỉnh lược yếu. Ngược lại, nếu sự lược bớt làm kết ngôn không hoàn chỉnh cả cấu trúc ngữ pháp lẫn ngữ nghĩa th́ đó là tỉnh lược mạnh. Tỉnh lược yếu là phương tiện liên kết các câu hợp nghĩa. Tỉnh lược mạnh là phương tiện liên kết các câu với câu hợp nghĩa hay câu dưới bậc. Thí dụ [Trích theo Trần Ngọc Thêm (1)]: Tỉnh lược yếu: - Tỉnh lược bổ tô:ú Quyên ṃ thắt lưng Ngạn lấy bi đông. Cô lắc nhẹ. - Tỉnh lược chủ ngữ: Chúng ta phải cố gắng. Nếu không th́ không tiến bộ được. - Tỉnh lược định tố: Nó đi qua vườn cam. Khát quá, nó hái một quả ăn. Trong kệ có 5 chồng sách. Mỗi người mang một chồng ra đây cho tôi. Tỉnh lược mạnh: - Tỉnh lược trạng ngữ trong ṇng cốt tồn tại: T́nh h́nh an ninh vùng này không tốt lắm. Đă có vài vụ cướp bóc nghiêm trọng. - Tỉnh lược chủ ngữ: Tinh thần yêu nước cũng như các thứ của quư. Có khi được trưng bày trong tủ kính, trong b́nh pha lê rộng răi dễ thấy. Nhưng có khi cất dấu kín đáo trong rương, trong ḥm. - Tỉnh lược vị ngư:î Hai người qua đường đuổi theo nó. Rồi 3,4 người, 6,7 người. - Tỉnh lược đề: Có thể hiện nay, tôi sẽ ngă xuống... Th́ cũng có sao đâu. - Tỉnh lược thuyết: Đàn ông sướng thật. Giá mà tôi là đàn ông... - Tỉnh lược C-V trong câu C-V-B: Người ta đến càng đông. Vẫn đánh nó. Cả đ̣n càn, đ̣n gánh nữa. - Tỉnh lươc V-B1 trong câu C-V-B1-B2: Chúng ḿnh chịu khó ở đây một vài năm. Tôi, để cố lấy cho được mảnh bằng. Anh, để cố dành dụm, gây lấy cho vợ anh một cái vốn con con. - Tỉnh lược C-V-B: Trũi vẫn nằm như chết. Tôi phải nghe và đạp vào ngực Æ xem Æ c̣n thở không. Æ Vẫn c̣n Æ. Đàng cuối làng có tiếng reo ḥ. Đó là tiếng cười, tiếng hát. Æ Có lẽ Æ Æ của dân làng. Cách hiểu uyển chuyển Tỉnh lược từ ngữ thay thế cho từ ngữ đă có trong chủ ngôn cũng được coi là các phương tiện tỉnh lược. - Đă có nhưng được thay thế bằng đại từ hay danh từ +đại từ: Thế là Soan lại thấy thương chồng. Bây giờ Æ lại đi, biết bao giờ Æ về. (Æ = anh ấy, anh ấy thay cho từ chồng) - Đă có nhưng được hợp lại: Một tốp người đi. Một tốp người lại. Æ Tranh nhau đi lại, rồi mắc nghẽn ở lối hẹp. Æ Ùn lại. (Æ = mọi người, tất cả) - Đă có nhưng được chia ra: Một đám ba anh chàng sơ mi đen, kính đen ngồi vắt vẻo trên bục. Æ Đánh trống. Æ Thổi kèn. Æ Găi ghi ta. (Æ = một anh th́) Dựa vào các mặt liên kết văn bản, Trần Ngọc Thêm đă chia văn bản ra làm hai loại: văn bản điển h́nh và văn bản không điển h́nh. Văn bản điển h́nh là văn bản có đủ cả liên kết chủ đề, liên kết logic và liên kết h́nh thức. Loại này chiếm chủ yếu trong số các văn bản. Số c̣n lại là văn bản không điển h́nh. Những văn bản này tuy có đủ cả hai mặt liên kết nội dung, liên kết h́nh thức nhưng thường thiếu hoặc liên kết chủ đề hoặc liên kết logic. Mặt liên kết Loại văn bản Liên kết h́nh thức Liên kết nội dung
Liên kết chủ đề Liên kết lôgic
Văn bản điển h́nh + + +
Văn bản không điển h́nh + + Æ
+ Æ +
Kịch phi lí tiêu biểu cho loại văn bản có liên kết chủ đề không có liên kết lôgic. Cũng thuộc loại này là những bài làm văn có cấu trúc lộn xộn, thiếu tính hợp lí khoa học của học sinh (Chẳng hạn: Mở bài: Vợ nhặt của Kim Lân đă xây dựng được một t́nh huống truyện độc đáo và hấp dẫn. Thân bài: Kể lại tóm tắt truyện Vợ nhặt. Kết bài: Trở lại ư mở bài). Những bài viết loại này là văn bản không điển h́nh v́ thiếu tính thống nhất lập luận, thiếu ư lớn dẫn đến lỗi không làm sáng tỏ được ư trong phần mở bài và lỗi thiếu cơ sở cho phần kết bài. Các bài thuộc thể loại đồng dao tiêu biểu cho loại văn bản có liên kết lôgic, thiếu liên kết chủ đề. Ở các bài này, mỗi câu nói về một chủ đề riêng, nhưng được liên kết nhờ vần điệu, nhờ có chung mục đích giúp con trẻ biết các đặc trưng của từng sự vật. Văn bản điển h́nh và văn bản không điển h́nh là kết quả của phép phân đôi khái niệm để có hai khái niệm có quan hệ mâu thuẫn. Không thể đồng nhất văn bản điển h́nh với văn bản có chất lượng cao và văn bản không điển h́nh với văn bản có chất lượng thấp. Nhiều văn bản không điển h́nh có chất lượng rất cao và ngược lại nhiều văn bản điển h́nh rất ít người biết đến. Chú ư: 1. Các phép liên kết văn bản là mảng kiến thức đă được học ở các lớp phổ thông và ở môn Tiếng Việt thực hành. Bài giảng này giới thiệu bảng tóm tắt kiến thức và bản phụ lục 1 để sinh viên có thể tự xem lại nếu cần. 2. Các câu liên kết với nhau thường nhờ vào nhiều phương tiện liên kết thuộc các phương thức liên kết khác nhau. Rất ít khi chỉ nhờ duy nhất một phương tiện liên kết. Thí dụ: (1) Nhiều học sinh nhất là cấp I, học ở trên lớp được chữ nào th́ được, về nhà sách vở nằm im trong cặp, hôm sau lại cắp đến lớp. (2) Không học, cha mẹ cũng không nhắc nhở. (3) Lâu dần thành thói quen. (4) Học đă kém th́ chán học, bỏ học là lẽ đương nhiên. (1) và (2) : Nghịch đối: không học (2) nghịch đối với học sinh, học (1) Tỉnh lược: Câu (2) tỉnh lược các từ đă có trong câu (1): (Học sinh) Không học, cha mẹ (học sinh) cũng không nhắc nhở (con em ḿnh) Thế bằng miêu tả: không học (2) thế cho sách vở nằm im trong cặp (1) (2) và (3) : Tỉnh lược CN v́ đă có trong câu (1) : Lâu dần (không học) thành thói quen (3) và (4) : Tỉnh lược khiếm diện : (Lược hẳn một câu: Thói quen không học bài dẫn đến kết quả học kém) (1) và (3) : Tỉnh lược chủ ngữ v́ chủ ngữ câu (3) đă có trong vị ngữ của câu (1): (học ở trên lớp được chữ nào th́ được, về nhà sách vở nằm im trong cặp, hôm sau lại cắp đến lớp) Lâu dần thành thói quen. (1) và (4) : Lặp từ : học (4) lặp từ học (1) (2) và (4) : Liên tưởng : học kém, chán học, bỏ học (4) liên tưởng nhân quả với không học (2)