THÔNG BÁO

  THỜI GIAN GẦN ĐÂY MỘT SỐ BẠN LỢI DỤNG  WEBSITE NÀY ĐỂ ĐƯA RA NHỮNG PHÁT NGÔN KHÔNG TỐT. CHO NÊN CHÚNG TÔI TẠM THỜI ĐÓNG WEBSITE LẠI ĐỂ NÂNG CẤP NHẰM HẠN CHẾ MỘT SỐ HÀNH VI KHÔNG TỐT LÀM ẢNH HƯỞNG ĐẾN DIỄN ĐÀN .CÁC BẠN CÓ THẮC MẮC XIN LIÊN HỆ : phanthanhhung90@gmail.com
MỐI QUAN HỆ NGỮ NGHĨA GIỮA CÁC TỪ TRONG HỆ THỐNG
I. HIỆN TƯỢNG ĐỒNG NGHĨA
1. Quan niệm về từ đồng nghĩa.
Ðồng nghĩa là một hiện tượng xảy ra phổ biến trong các ngôn ngữ, nói chung, và trong tiếng Việt, nói riêng. Tuy nhiên cho đến nay quan niệm về hiện tượng này chưa phải đã thống nhất.
1.1.Theo quan niệm truyền thống.
Từ đồng nghĩa là những từ có nghĩa gần nhau hay giống nhau. Nhìn chung quan điểm này đúng nhưng chưa đủ vì còn quá chung chung bởi các lý do sau:
- Không phân biệt nghĩa biểu vật và nghĩa biểu niệm nên không xác định được từ đồng nghĩa giống nhau về nghĩa biểu vật hay nghĩa biểu niệm.
- Không tính tới một cách nghiêm túc hiện tượng nhiều nghĩa.
1.2. Theo quan niệm hiện đại.
Có các khuynh hướng:
- Dựa vào tương quan ngữ cảnh, một số tác giả cho rằng từ đồng là từ có thể thay thế được cho nhau trong những ngữ cảnh giống nhau mà ý nghĩa chung của câu không thay đổi về cơ bản . Quan niệm này quá rộng bởi 2 lý do sau:
+ Có trường hợp từ vốn được xem là đồng nghĩa nhưng không thay thế được cho nhau trong những ngữ cảnh giống nhau.
+ Có trường hợp từ thay thế được cho nhau trong ngữ cảnh này mà không thay thế được cho nhau trong ngữ cảnh khác.
- Dựa vào nghĩa biểu vật và sự vật, hiện tượng được gọi tên, Nguyễn Văn Tu cho rằng từ đồng nghĩa là những từ có nghĩa giống nhau. Ðó là những từ khác nhau cùng chỉ một sự vật, một đặc tính, một hành động nào đó. Ðó là những tên khác nhau của một hiện tượng. [ 26, 92 ].
- Dựa vào nghĩa biểu niệm và khái niệm, Ðỗ Hữu Châu cho rằng hiện tượng đồng nghĩa là hiện tượng xảy ra có tính rộng khắp trong hàng loạt từ, nó xuất hiện khi giữa các từ chỉ cần có một nét nghĩa chung và không có nét nghĩa đối lập. Ông viết: Ðồng nghĩa trước hết là một hiện tượng có phạm vi rộng khắp trong toàn bộ từ vựng, chứ không chỉ bó hẹp trong những nhóm với một số có hạn những từ nhất định. Nói khác đi, đồng nghĩa trước hết là quan hệ về ngữ nghĩa giữa các từ trong toàn bộ từ vựng chứ không phải trước hết là giữa những từ nào đấy. Ðó là quan hệ giữa các từ ít nhất có chung một nét nghĩa. Cũng có thể nói: quan hệ đồng nghĩa bắt đầu xuất hiện khi bắt đầu xuất hiện một nét nghĩa đồng nhất giữa các từ. Sau đó ông viết tiếp: Hiện tượng đồng nghĩa là hiện tượng có nhiều mức độ tùy theo số lượng các nét nghĩa chung trong các từ. Mức độ đồng nghĩa thấp nhất khi các từ ngữ có chung một nét nghĩa chung(nét nghĩa phạm trù). Số lượng các nét nghĩa đồng nhất tăng lên thì từ càng đồng nghĩa với nhau. Múc độ đồng nghĩa cao nhất xảy ra khi các từ đã có tất cả các nét nghĩa hoặc đại bộ phận các nét nghĩa trùng nhau, chỉ khác ở một hoặc vài nét nghĩa cụ thể nào đó. [4, 174 và 184 ]... Tuy rằng cuối cùng tác giả có phân ra chia nhiều mức độ đồng nghĩa, nhưng nói chung quan niệm này nhìn nhận về hiện tượng đồng nghĩa vẫn quá rộng.
- Cùng dựa vào nghĩa biểu niệm và khái niệm, Nguyễn Thiện Giáp viết: Trong hệ thống ngôn ngữ, nói đến hiện tượng đồng nghĩa là phải nói đến sự giống nhau của các nghĩa sở biểu. Vì vậy, chúng tôi tán thành quan niệm cho từ đồng nghĩa là những từ gần nhau về nghĩa, nhưng khác nhau về âm thanh, biểu thị các sắc thái của một khái niệm. [ 7, 216 ] Dựa vào cấu trúc nghĩa của từ như ta đã nêu trên, kết hợp với ý kiến của tác giả Ðỗ Hữu Châu và Nguyễn Thiện Giáp, có thể nêu lên quan niệm về từ đồng nghĩa như sau: từ đồng nghĩa là những từ có hình thức ngữ âm khác nhau nhưng có quan hệ tương đồng về nghĩa biểu niệm.
2.Phân loại từ đồng nghĩa:
Dựa vào mức độ giống nhau về nét nghĩa giữa các từ đồng nghĩa, có thể chia từ đồng nghĩa thành các loại:
2.1.Từ dồng nghĩa tuyệt đối:
Là những từ đồng nghĩa đồng nhất về ý nghĩa biểu niệm và cả nghĩa biểu thái cũng như phạm vi sử dụng của chúng.Ðấy là hiện tượng đồng nghĩa giữa các từ do sự song tồn giữa :
- Từ cũ và từ mới.
Thí dụ:Trăng - nguyệt - chị hằng - gương nga ; trực thăng - máy bay lên thẳng; xe lửa - tàu hỏa - hoả xa; phi cơ - máy bay;...
-Từ địa phương và từ toàn dân.
Thí dụ: Cha - bố - tiá; mẹ - me - má - vú; thấy - chộ; xa - ngái; cô - ả - o;...
-Từ thuần Việt và từ vay mượn.
Thí dụ: Bệnh nhân - người bệnh; sử dụng - dùng; mô bi lết - xe máy.
-Thuật ngữ và từ thường.
Thí dụ: Trần bì - vỏ quýt; lưu huỳnh - diêm sinh , lân- phốt pho...
2.2. Ðồng nghĩa tương đối.
Bao gồm những trường hợp đồng nghĩa khác nhau nhiều hay ít trong các thành phần ý nghĩa hoặc khác nhau ở một hoặc vài nét nghĩa nào đó trong ý nghĩa biểu niệm của các từ. Cụ thể chúng có thể khác nhau ở các điểm sau đây:
- Khác nhau về nghĩa biểu thái.
Thí dụ: Ăn - xơi - tọng - hốt; trẻ em - con nít; phụ nữ - đàn bà.
- Khác nhau về phạm vi biểu vật.
Thí dụ: Chết - qua đời - mất; lạnh - lạnh lẽo; lạnh - lạnh lùng; diệt - tiêu diệt - xoá sổ - loại khỏi vòng chiến;...
- Khác nhau ở các nét nghĩa trong cấu trúc biểu niệm của các từ.
Thí dụ: Nhà - lâu đài; ngại - sợ - kinh; đẹp - mỹ lệ; mổ - bổ - cắt - ngắt -xé,...
Hiện tượng đồng nghĩa tương đối xảy ra phổ biến hơn trong ngôn ngữ so với từ đồng nghĩa tuyệt đối. Quy luật của ngôn ngữ là tiết kiệm, hiện tượng đồng nghĩa tuyệt đối chẳng những không có tác dụng làm giàu cho hệ thống từ vựng mà ngược lại còn có thể làm cồng kềnh cho hệ thống ngôn ngữ dân tộc. Ði vào tìm hiểu các từ đồng nghĩa cụ thể, các từ đồng nghĩa tương đối có thể khác nhau ở nhiều dạng nét nghĩa rất phong phú, đa dạng.
*Nhận xét:
- Do từ thể có nhiều nghĩa nên một từ có thể đồng nghĩa với nhiều từ khác nghĩa nhau.
-Từ đồng nghĩa có thể xảy ra giữa các từ có các yếu tố cấu tạo và phương thức cấu tạo khác nhau.
Thí dụ: To- lớn- bự- đồ sộ- khổng lồ; nhỏ- tí hon,...
- Từ đồng nghĩa cũng có thể xảy ra giữa các từ có cùng yếu tố cấu tạo .
Thí dụ: máu- máu me; chim- chim chóc; xấu- xấu xí; khoẻ- khỏe khoắn.
Ngoài ra do thành ngữ cũng là một loại đơn vị từ vựng nên bàn đến hiện tượng đồng nghĩa từ vựng cũng có thể tập hợp các thành ngữ có nghĩa giống nhau.
Thí dụ: khoe khoang- múa rìu qua mắt thợ; may mắn- buồn ngủ gặp chiếu manh- chết đuối vớ được cọc-chuột sa hủ nếp- mèo mù vớ cá rán;...
Tóm lại, hiện tượng từ đồng nghĩa chứng tỏ sự nhận thức chính xác, tinh tế của dân tộc về hiện thực khách quan. Cùng một phạm vi sự vật hiện tượng nhưng trong ngôn ngữ có thể có nhiều từ biểu đạt thể hiện thái độ, tình cảm khác nhau, góc nhìn khác nhau của người nói đối với sự vật, hiện tượng; do đó vấn đề quan trọng được đặt ra là phải biết chọn lựa từ ngữ cho chính xác. Muốn vậy người sử dụng ngôn ngữ cần phải nhận diện và phân biệt được các nét nghĩa trong từ đồng nghĩa. Sau dây là một số phương pháp tìm và chỉ ra sự khác biệt ý nghĩa giữa các từ đồng nghĩa .
1/- Xác định từ trung tâm trong dãy đồng nghĩa, giải nghĩa cặn kẽ từ trung tâm, dựa vào từ trung để giải thích ý nghĩa cho những từ còn lại đồng thời chỉ ra sự khác biệt về nghĩa giữa chúng.
Ví dụ: Phân biệt nghĩa của các từ mẹ, má, u, bầm,... Mẹ : người đàn bà đẻ ra mình ( có thể dùng để xưng gọi, được sử dụng trong ngôn ngữ toàn dân) Má : mẹ ( chỉ dùng dể xưng gọi , thường dùng ở Nam Bộ) Bầm : mẹ ( chỉ dùng để xưng gọi, thường dùng ở trung du Bắc Bộ) U : mẹ ( chỉ dùng để xưng gọi, thường dùng ở nông thôn Bắc Bộ)
2/- Phân tích tìm nghĩa chung của các từ trong nhóm từ đồng nghĩa, sau đó kết hợp chỉ ra những nét riêng về nghĩa của từng từ để chỉ ra sự khác biệt về nghĩa giữa chúng.
Ví dụ: Phân biệt nghĩa giữa các từ cho, tặng, biếu. Phần nghĩa chung giữa ba từ là: ( trao cái gì đó cho ai ) ( được quyền sử dụng riêng vĩnh viễn ) ( mà không đòi hay đổi lại cái gì ). Phần nghĩa riêng của mỗi từ: Cho : ( Người trao có ngôi thứ cao hơn hoặc ngang với người nhận ) ( vật được trao là tiền của hoặc có giá trị sử dụng ) Biếu : ( Người trao có ngôi thứ thấp hơn hoặc bằng người nhận) (vật được trao là tiền của ) ( bằng thái độ kính trọng ) Tặng: ( Người trao có ngôi thứ cao hơn, thấp hơn, hoặc ngang với người nhận ) ( vật được trao mang ý nghĩa tinh thần- để khen ngợi, khuyến khích, hay tỏ lòng quý mến ) Tuy nhiên làm thế nào để phát hiện và chỉ ra được sự khác biệt về nghĩa giữa các từ đồng nghĩa, đặc biệt là giữa các từ đồng nghĩa tương đối là vấn đề không đơn giản. Ðể làm được điều này, ngoài cách tiếp tục so sánh, đối chiếu nghĩa giữa các từ đồng nghĩa trên trục dọc, ta còn có thể áp dụng phương pháp xác lập ngữ cảnh trống hay xác lập ngữ cảnh nói năng khu biệt. Nghĩa là tìm những câu mà hai từ đồng nghĩa không thay thế cho nhau được. Hai từ không thể thay thế cho nhau được trong cùng ngữ cảnh thì đó là dấu hiệu của sự khác biệt. Qua những ngữ cảnh không thay thế cho nhau được ấy sẽ giúp ta chỉ ra được sự khác nhau về nghĩa giữa chúng.
Ví dụ, để tìm sự khác biệt giữa chỗ và nơi, ta có thể dựa vào các ngữ cảnh trống sau: Trên xe cần nhường ... cho người già. Trong nhà hát còn trống hai chục ... ngồi. Hàng cồng kềnh chiếm nhiều .... Tìm khắp ... không thấy. Anh đi ... đâu tôi cũng quyết tìm cho bằng được. Qua việc có khả năng hay không có khả năng điền vào ngữ cảnh trống trên ta có thể chỉ ra điểm khác biệt giữa chỗ và nơi. Chỗ: Nhỏ hẹp, cụ thể hơn nơi, có thể nhìn thấy toàn bộ trong cùng một lúc và xác định được giới hạn chính xác. Nơi rộng hơn chỗ, không xác định được chính xác giới hạn. Giữa các từ đồng nghĩa có thể khác nhau ở các nét nghĩa phổ biến sau:
- Phong cách ( khẩu ngữ/ văn chương/ khoa học,...)
- Sắc thái biểu cảm ( dương tính / trung tính / âm tính; khẳng định / phủ định...)
- Phạm vi sử dụng ( toàn dân/ địa phương/ một tầng lớp xã hội/ một giới nghề nghiệp; thường dùng/ ít dùng; ...)
- Phạm vi biểu vật ( cụ thể / khái quát; cụ thể / trừu tượng; rộng hẹp,...)
- Các nét nghĩa trong ý nghĩa biểu niệm.
+ Ðối với các danh từ, tính từ chỉ các sự vật, hiện tượng, tính chất,... có thể có quy mô, kích thước, mức độ khác nhau ( to / nhỏ; cao / thấp, nhiều / ít,...)
+ Ðối với động từ có thể khác nhau ở chủ thể hành động, đối tượng hành động ( trên / dưới / ngang hàng,...); cách thức hành động ( dụng cụ / bằng tay; chiều ngang / chiều dọc,...); muc đích, nguyên nhân của hành động,...
3/- Dựa vào các yếu tố cấu tạo từ. Nếu hai từ đồng nghĩa có chung một thành tố cấu tạo thì sự khác biệt về nghĩa của chúng thường nằm ở thành tố khác nhau ấy. Ví dụ: ám sát và mưu sát. Hai từ này khác nhau ở các yếu tố ám và mưu . ám có nghĩa là lén lút, tối tăm, kín. Mưu có nghĩa là sắp đặt, kế hoạch. Do đó, ám sát là giết lén; còn mưu sát là giết người có mưu kế, có sắp đặt kế hoạch từ trước. Trên đây là một số cách nhận diện và chỉ ra sự khác biệt về nghĩa giữa các từ đồng nghĩa. Tùy trường hợp mà áp dụng chúng cho phù hợp.
II. HIỆN TƯỢNG TRÁI NGHĨA
1. Quan niệm về từ trái nghĩa:
Cũng như quan niệm về hiện tượng đồng nghĩa, về hiện tượng trái nghĩa cũng có nhiều ý kiến khác nhau . Có tác giả cho rằng từ trái nghĩa là những từ khác nhau về ngữ âm, đối lập đối lập về ý nghĩa biểu hiện khái niệm tương phản về lôgíc, nhưng tương liên lẫn nhau. [ 7, 232 ] Do dựa vào khái niệm cho nên tiêu chí mối quan hệ tương liên trở thành một vấn đề cần được thuyết minh và chiếm một vị trí quan trọng.
Thí dụ: Bé và xinh trong Nhà này tuy bé mà xinh ; đẹp và lười trong Cô ấy đẹp nhưng lười xuất hiện trong các cấu trúc ngữ pháp mang ý nghĩa đối lập nhưng chúng không phải là các từ trái nghĩa vì chúng không có quan hệ tương liên. Tương liên là một khái niệm mơ hồ, có thể gây nhiều tranh luận khi giải quyết các trường hợp cụ thể. Có ý kiến lại cho rằng trái nghĩa có quan hệ với hiện tượng đồng nghĩa.Trái nghĩa và đồng nghĩa là chỉ là những biểu hiện cực đoan của hai quan hệ đồng nhất và đối lập [ 4, 183 ]. Tuy nhiên quan điểm này vẫn còn quá chung chung, chưa cụ thể. Cần phải nhận thấy rằng các từ được xem là trái nghĩa điển hình trước hết phải có các nét nghĩa khái quát trong cấu trúc biểu niệm giống nhau. Chẳng hạn, các cặp từ trái nghĩa to- nhỏ; dài-ngắn...giống nhau ở nét nghĩa phạm trù và nét nghĩa loại. Nét nghĩa này có thể thay thế cho tiêu chí tương liên đã nói ở trên .Từ đó có thể đi đến một cách hiểu về từ trái nghĩa như sau: Từ trái nghĩa là những từ có một số nét nghĩa khái quát trong cấu trúc biểu niệm giống nhau, bên cạnh đó, nổi bật lên ít nhất một nét nghĩa đối lập.
2. Phân loại từ trái nghĩa:
Từ sự khảo sát trên,có thể thấy hiện tượng trái nghĩa xảy ra ở hai mức độ khác nhau: trái nghĩa tuyệt đối và trái nghĩa tương đối.
2.1. Trái nghĩa tuyệt đối (hay trái nghĩa thực sự):
Ðây là trường hợp trái nghĩa giữa các từ thoả mãn các tiêu chí sau:
1) Bên cạnh những nét nghĩa khái quát giống nhau, giữa các từ có xuất hiện nét nghĩa đối lập;
2) Chúng nằm ở vùng liên tưởng nhanh nhất, mạnh nhất, có tần số xuất hiện cao nhất. Nói nôm na, hễ có A là người ta liên tưởng đối lập ngay tới B.
Thí dụ: Dài / ngắn rộng / hẹp to / nhỏ cao /thấp sớm / muộn cứng / mềm quen /lạ yêu /ghét
2.2. Trái nghĩa tương đối:
Là trường hợp trái nghĩa giữa các từ chỉ thỏa mãn tiêu chí
1) mà không thỏa mãn tiêu chí
2). Tức đấy là các trường hợp trái nghĩa nằm ở vùng liên tưởng yếu, nghĩa là nói tới A người ta không liên tưởng đối lập ngay tới B.
Thí dụ: Nhỏ / khổng lồ thấp / lêu nghêu cao / lùn tịt Trái nghĩa và đồng nghĩa là hai hiện tượng phổ biến trong các ngôn ngữ, nói chung, và trong tiếng Việt, nói riêng; tuy nhiên những nghiên cứu và giải đáp về nó vẫn còn chừng mực.
III. HIỆN TƯỢNG ĐỒNG ÂM
1. Quan niệm về hiện tượng đồng âm.
- Phân biệt từ đồng âm và từ nhiều nghĩa: Cả hai cùng có đặc điểm là sử dụng vỏ ngữ âm giống nhau để biểu thị những ý nghĩa khác nhau, nhưng ở hiện tượng đồng âm giữa các nghĩa của từ không có quan hệ; còn ở hiện tượng nhiều nghĩa, giữa các nghĩa có quan hệ, xảy ra do hiện tượng nhiều nghĩa và sự chuyển biến ý nghĩa của từ. Như vậy có thể nói hai đơn vị được xem là đồng âm khi giữa chúng có hình thức ngữ âm giống nhau và không có quan hệ với nhau về mặt ý nghĩa.
Chú ý:
- Hiện tượng đồng âm có thể xảy ra ở nhiều cấp độ ( giữa các cụm từ tự do với nhau, giữa những từ đa âm tiết, giữa những từ đơn âm tiết, giữa từ đơn âm tiết và các yếu tố cấu tạo từ( tiếng không độc lập).
- Những trường hợp chệch chuẩn không được xem là những hiện tượng đồng âm.
-Với những trường hợp chuyển nghĩa quá xa, không xác định được cơ chế chuyển nghĩa, có thể xem chúng là những trường hợp đồng âm.
2.Phân loại:
Có thể có nhiều tiêu chí phân loại từ đồng âm khác nhau. Dựa vào cấp độ các đơn vị đồng âm có thể phân hiện tượng đồng âm trong tiếng Việt thành các loại sau: 2.1. Ðồng âm giữa từ với từ.
ở đây tất cả các đơn vị tham gia vào nhóm đồng âm đều là từ. Loại này được chia thành hai loại nhỏ hơn:
- Ðồng âm từ vựng:
Tât cả các từ đều thuộc cùng một loại.
Thí dụ:
+ Ðường 1(đường đi)
- Ðường 2 (đường phèn)
+Cất 1 ( cất tiền vào tủ)
- Cất 2 ( cất hàng)
- Cất 3( cất rượu).
-Ðồng âm từ vựng- ngữ pháp:
Các từ trong nhóm đồng âm khác nhau về từ loại.
Ví dụ:
+ Chỉ 1( cuộn chỉ)
- Chỉ 2(chỉ đường)
- Chỉ 3( chỉ có 5 đồng) .
+Câu 1(câu nói)
- Câu 2( câu cá) .
2.2.Ðồng âm giữa từ với tiếng ở đây các đơn vị tham gia vào nhóm từ đồng âm khác nhau về cấp độ.
Yếu tố là từ bản thân là một tiếng độc lập, yếu tố còn lại là tiếng không độc lập.
Thí dụ:
+ Ðồng1 (cánh đồng)
- Ðồng2( Ðồng lòng)
-Ðồng3( mục đồng)
+Yếu 1( yếu đuối)
- Yếu 2 (yếu điểm).
Ngoài ra dựa vào tiêu chí nguồn gốc, có thể thấy hiện tượng đồng âm xảy ra giữa các yếu tố sau:
-Yếu tố thuần Việt
- Yếu tố thuầnViệt
- Yếu tố thuần Việt
- Yếu tố vay mượn.
-Yếu tố vay mượn
- Yếu tố vay mượn.
Trong số những yếu tố vay mượn, những yếu tố có nguồn gốc từ tiếng Hán chiếm số lượng lớn. Loại này thường gây hiểu lầm cho cả với người sử dụng bản ngữ.
3. Nguyên nhân xuất hiện hiện tượng đồng âm.
Có thể kể ra 4 nguyên nhân chính sau:
- Do sự tiếp nhận từ ngữ nước ngoài.
- Do sự biến đổi ngữ âm.
- Do sự rút gọn các từ đa âm tiết.
-Do sự phân hóa của từ đa nghĩa.
Tóm lại, đồng âm là một hiện tượng xảy ra phổ biến trong tiếng Việt, nó đã được người Việt khai thác một cách hiệu quả, đặc biệt trong thơ văn đấu tranh giai cấp, trong các áng văn thơ yêu nước chống ngoại xâm, trong các câu đối ,...Hiện tượng đồng âm tạo ra những ngữ cảnh trong đó mỗi từ có thể được hiểu nước đôi để ngầm ẩn ý nghĩa tố cáo, châm biếm hay đả kích.
 IV. CÁC TRƯỜNG TỪ VỰNG TIẾNG VIỆT
1. Ðịnh nghĩa trường từ vựng.
Trường từ vựng là tập hợp các đơn vị từ vựng có quan hệ với nhau theo một tiêu chí nào đó ( quan hệ tuyến tính, quan hệ trực tuyến, quan hệ liên tưởng).
2. Trường tuyến tính :
Là tập hợp các đơn vị từ vựng có khả năng kết hợp với một từ trung tâm nào đó trên trục tuyến tính.
3.. Trường trực tuyến.
3.1. Trường biểu vật:
Là tập hợp các từ có quan hệ dồng nhất về phạm vi biểu vật.
*Nhận xét:
- Số lượng từ ngữ không đồng đều nhau giữa các trường. Có những trường có nhiều từ biểu thị, có những trừơng có ít từ biểu thị. Số lượng từ ngữ cũng không đồng đều nhau giữa các miền trong các trường biểu vật của các ngôn ngữ. Có những miền trong ngôn ngữ này có từ biểu thị, nhưng trong ngôn ngữ kia không có từ biểu thị.
- Do từ có hiện tượng nhiều nghĩa nên mỗi từ có thể nằm trong nhiều trường khác nhau tạo nên hiện tượng giao trường. Mỗi trường thường có một nhóm từ trung tâm có tác dụng quy định đặc trưng ngữ nghĩa của trường.
3.2. Trường biểu niệm:
Là tập hợp các đơn vị từ vựng có cùng cấu trúc biểu niệm khái quát.
* Nhận xét:
- Cũng như trường biểu vật, trường biểu niệm có thể được phân thành nhiều miền nhỏ, với mật độ từ ngữ khác nhau.
- Vì cũng có hiện tượng nhiều nghĩa biểu niệm nên một từ có thể được nằm trong nhều trường biểu niệm khác nhau tạo nên hiện tượng giao trường.
- Trường biểu niệm có quan hệ với khái niệm nhưng không đồng nhất với tập hợp các khái niệm về thực tế khách quan tồng tại trong tư duy,
4. Trường liên tưởng tự do.
Là tập hợp các đơn vị từ vựng được gợi lên do sự liên tưởng tự do với một từ trung tâm nào đó.
* Nhận xét:
- Các từ trong trường có thể có cùng quan hệ về mặt cấu tạo.
- Các từ trong trường có thể có quan hệ đồng nghĩa hoặc trái nghĩa hay gần nghĩa.
- Các từ trong trường có thể có khả năng kết hợp trong chuỗi lời nói.
Nói chung, phạm vi liên tưởng rất rộng. Có những liên tưởng phổ biến nhưng cũng có những liên tưởng mang tính cá nhân, điều đó lệ thuộc vào giai cấp, trình độ lứa tuổi, thời đại của người sử dụng ngôn ngữ. Trường liên tưởng tự do chấp cánh cho nhà văn sáng tạo, bay cao trong vùng trời văn học.