THÔNG BÁO

  THỜI GIAN GẦN ĐÂY MỘT SỐ BẠN LỢI DỤNG  WEBSITE NÀY ĐỂ ĐƯA RA NHỮNG PHÁT NGÔN KHÔNG TỐT. CHO NÊN CHÚNG TÔI TẠM THỜI ĐÓNG WEBSITE LẠI ĐỂ NÂNG CẤP NHẰM HẠN CHẾ MỘT SỐ HÀNH VI KHÔNG TỐT LÀM ẢNH HƯỞNG ĐẾN DIỄN ĐÀN .CÁC BẠN CÓ THẮC MẮC XIN LIÊN HỆ : phanthanhhung90@gmail.com
Chương 3 TẢN ĐÀ
I.- CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP CỦA TẢN ĐÀ
1. Cuộc đời :
Tản Đà tên thật là Nguyễn Khắc Hiếu. Ông sinh ngày 08 tháng 5 năm 1888, ở làng Khê Thượng, huyện Bất Bạt, tỉnh Sơn Tây. Ông xuất thân từ một gia đ́nh thuộc ḍng dơi phong kiến quí tộc.
Cha là Nguyễn Danh Kế, từng làm quan đến Án sát, Ngự sử, Anh cả là Nguyễn Tái Tích đỗ phó bảng, làm Đốc học, sau tham gia ban Tu thư, làm Hiệu trưởng trường Qui Thức, là những tổ chức do Pháp lập ra để đối phó vào phong trào Đông Kinh nghĩa thục. Mẹ ông là một cô đào hát có tài có sắc, lấy lẽ Nguyễn Danh Kế lúc ông làm Tri phủ Lư Nhân. Từ lúc nhỏ Nguyễn Khắc Hiếu đă theo cha và anh sống ở những nơi họ làm việc, ở Nam Định, Sơn Tây, Vĩnh Yên. Tản Đà từng theo học chữ nho. Ông cũng là một trong những học tṛ đầu tiên của trường Qui Thức.
Ông đi thi măi nhưng không đỗ đạt ǵ cả. Ông là một nhà nho rờii nông thôn ra thành thị. Cuộc sống thành thị lúc bấy giờ đă ảnh hưởng đến tư tưởng, t́nh cảm và thái độ trước cuộc sống hiện tại của ông. Ông là người đầu tiên đă mạnh dạn bước vào một nghề mới: Nghề viết văn, xem việc sáng tác như một cách kiếm sống "Nôm na phá nghiệp kiếm ăn xoàng". Ông từng tham gia vào hoạt động báo chí: làm chủ bút cho tờ Hữu Thanh, thành lập tờ An Nam tạp chí. Tản Đà mất ngày 07 tháng 6 năm 1939 ở Ngă Tư Sở trong cảnh nghèo nàn, túng thiếu.
2. Sự nghiệp sáng tác :
Tản Đà bắt đầu sáng tác từ năm 1913. Đến năm 1915 ông mới bắt đầu công bố tác phẩm của ḿnh trên tờ Đông Dương tạp chí" Tác phẩm của ông gồm nhiều thể loại :
- Tác phẩm phiên dịch : Đại học, Đàn bà Tàu, Kinh thi, Liêu trai chí dị.
- Tác phẩm luận thuyết : Khối t́nh bản chính, Khối t́nh bản phụ, Đài gương.
- Thơ : Lên sáu, lên tám, Khối t́nh con I, II
- Tiểu thuyết và truyện ngắn : Giấc mộng con, Giấc mộng lớn, Thề non nước, Trần ai tri kỷ, Kiếp phong trần.
- Kịch : Thần tiền. Lúc sinh thời Tản Đà rất tự hào về văn xuôi của ḿnh, ông từng nói : "Văn đă nhiều thay lại lắm lối. Thế nhưng độc giả, những người nghiên cứu lại đánh giá cao những tác phẩm thơ của ông.
II.- NỘI DUNG VĂN THƠ CỦA TẢN ĐÀ:
1. Tinh thần dân tộc trong thơ văn Tản Đà :
Tản Đà là một nhà nho đứng ngoài cuộc đấu tranh cứu nước của dân tộc lúc bấy giờ. Tuy nhiên, ở ông vẫn tiềm tàng một t́nh yêu quê hương đất nước thiết tha. Tản Đà không nâng ḷng yêu nước của ḿnh tới mức độ có thể xông vào chiến trận, cùng đồng bào cả nước đánh đuổi kẻ thù xâm lược nhưng Tản Đà luôn có ư thức lo đời và mong muốn được giúp đời. Tản Đà thường thắc mắc và cảm thấy lo âu trước t́nh trạng lạc hậu đáng sơû về kinh tế, xă hội của đất nước. "Tính năm sinh đă 4000 ngh́n dư Bước tiến hóa lừ đừ sau mọi kẻ". (Bài hát chúc báo sống) Ông rất đau xót khi nhận ra sự suy tàn của Hán học, lo lắng cho đạo đức thánh hiền sẽ có ngày đi đến chỗ bị tiêu vong (Hủ nho lo việc đời). Trước thực trạng của đất nước, Tản Đà cất lời than năo nuột : "Giời chưa mở mắt biết mai sau thế nào Bây giờ đất thấp mà giời cao !" (Sẩm chợ) Ông luôn tiếc nuối quá khứ vàng son của dân tộc.
Bài "Con quốc và con chẫu chuộc" đă thể hiện điều này : "Bờ ao trên bụi có con quốc Ở dưới lại có con chẫu chuộc Hai con cùng ở cùng hay kêu Một con kêu thảm một con kêu nhuốc Chuộc kêu đắc ư gặp tuần mưa Quốc kêu đau ḷng thương xuân qua Cùng một bờ ao, một bụi rậm Phong cảnh không khác t́nh khác xa". Ông nhớ về những chiến công hiển hách của tổ tiên "Ôi ! Lư Trần Lê đâu mất cả Mà thấy hươu nai đứng đỉnh chơi". (Chơi trại hàng hoa) Có những lúc ông c̣n công nhiên ca ngợi những người anh hùng dân tộc đương thời (viếng Đ́nh Công Tráng). Ông đă tỏ rơ thái độ căm thù đối với những kẻ bán nước, làm tay sai cho giặc. Ông từng làm thơ mỉa mai Hoàng Cao Khải. "Hoạ mi, ai vẽ nên mi ? Trông mi mi đẹp, hót th́ mi hay Ai đưa mi đến chốn này ? Nước trong gạo trắng mi ngày ăn chơi Lồng son cửa đỏ thảnh thơi Mi bay mi nhảy sướng đời nhà mi Nghĩ cho mi cũng gặp th́ Rừng xanh mi có tiếc ǵ nữa không". (Chim hoạ mi trong lồng) Ông châm biếm những kẻ theo giặc : "Anh tiếc cho em phận gái má đào Tham đồng bạc trắng mà gán ḿnh cho chú Tây đen" (Cô Tây đen) Với ư thức lo đời và mong muốn đóng góp cho đời Tản Đà luôn đi t́m giải pháp cứu nước.
 Để thực hiện được việc lớn Tản Đà đă đi t́m người đồng chí cùng với ḿnh gánh vác trọng trách đối với non sông nhưng t́m măi mà không thấy. "Chung quanh những đá cùng cây Biết người tri kỉ đâu đây mà t́m" (Vô đề) Trước hoàn cảnh hiện tại của đất nước, Tản Đà nhận thấy cần phải có sức mạnh của đoàn kết mới có thể xoay trở được t́nh thế, cho nên ông đă cất lời kêu gọi. "Lúc thủy tai, này ai ơi ! Quư tiếc thương yêu lấy giống ṇi Con cháu rồng tiên khi đă bỉ Đừng nên rẻ rúng bỏ nhau hoài !" Tản Đà đă đưa ra chủ trương cứu nước bằng con đường phát triển kinh tế tư bản chủ nghĩa. Ông rất tin vào giải pháp này. Trong bài viết "Một cuộc đấu tranh của người An Nam sẽ khởi đầu từ năm Đinh Măo" đă thể hiện rơ nhiệt t́nh và sự tin tưởng của ông: "Hỡi quốc dân An Nam, nước An Nam từ năm Đinh Măo này trở về trước, cái hay cái dở có chép ở sử sách, chúng ta đều đă biết, nước An Nam từ năm Đinh Măo trở về sau, chúng ta chưa biết ra sao vậy. Cái vận mạng của nước ta sau này hay dở hoặc nhiên có tiền định, thế nào chúng ta cũng phải hết sức tiến thủ, tức như trong nhà có bố mẹ ốm không thể tính số vận, mà kiếm thuốc là cần". Phương thuốc mà Tản Đà nói ở chính là phổ biến khoa học kỹ thuật tiên tiến, là phát triển kinh tế tư bản chủ nghĩa.
Bên cạnh đó, Tản Đà c̣n đưa ra thuyết thiên lương với mục đích cứu đời: Ông cho rằng xă hội loạn lạc, nền đạo đức phong kiến bị suy thoái là bởi thiên lương của con người đă bị đánh mất. Ông tự nhận là người được trời sai xuống trần gian, mang thiên lương đến nhân loại nhằm cứu nguy cho xă hội. "Trời rằng không phải là trời đày Trời định sai con một việc này Là việc thiên lương của nhân loại Cho con xuống thuật cùng đời hay" Tản Đà không nâng ḷng yêu nước của ḿnh tới mức độ có thể xông vào cuộc đấu tranh cho đất nước nhưng Tản Đà cũng tỏ ra có một nỗi lo lắng muốn giúp ích cho đời, mặc dù nỗi lo lắng đó không đi đến đâu, thậm chí c̣n đầy mâu thuẫn. Nỗi lo lắng của Tản Đà thể hiện ở ư thức muốn muốn đem tài văn chương của ḿnh ra giúp đời, muốn làm cho văn chương của ḿnh "Có bóng mây hơi nước đến dân xă" (Giấc mộng con I). Tờ An Nam tạp chí ra đời cũng để thực hiện chí hướng ấy. Vốn là đồ đệ của Khổng, Mạnh, Tản Đà muốn dùng đạo đức phong kiến cứu văn xă hội đang trụy lạc trước mắt.
V́ thế ông đă viết Đài gương, dịch Đài gương truyện, viết lên sáu, lên tám, nhằm củng cố trật tự gia đ́nh để đi đến củng cố trật tự xă hội. Tản Đà là một người có chí hướng, hoài băo lớn, nhưng hoàn toàn bất lực. Tất cả những giải pháp của ông đều không đưa đến kết quả tốt đẹp. Cuối cùng ông chỉ c̣n có thể tưởng tượng về một xă hội lư tưởng. "Cơi đời mới" của Tản Đà trong "Giấc mộng con II" không có chợ búa, không có tiền bạc, cảnh sống rất vui, "Không có sự thiên tai, không có sự địa biến, không có sự trộm cướp, không có sự án tù, không có sự kiện cáo, không có sự buôn danh bán lợi không có câu thế thái nhân t́nh. Ngoài sự lo ăn lo dùng, chỉ chuyên ư suy cầu nhẽ tiến hóa". Đây là một bằng chứng Tản Đà là một người luôn ôm ấp trong ḷng giấc mơ tốt đẹp về cuộc đời, cũng có thể xem đó là một nét lăng mạn tích cực. Nh́n chung, Tản Đà có một tinh thần dân tộc cao, được thể hiện ở ḷng yêu nước, nỗi lo đời của ông. Có điều những t́nh cảm ấy c̣n mang tính chung chung, mơ hồ. Hơn nữa, Tản Đà cũng không dám nói thẳng mà Tản Đà thường phải ngụy trang bằng nhiều h́nh thức khác nhau, khi nói về tấm ḷng của ḿnh đối với quê hương đất nước. Tản Đà cũng là một người có nhiều mâu thuẫn trong tư tưởng, ḷng yêu nước của ông thể hiện chưa thật rơ ràng và nhất quán.
2. Tư tưởng lăng mạn thoát ly trong thơ văn Tản Đà :
2.1- Một số biểu hiện của tư tưởng lăng mạn thoát ly :
Lăng mạn thoát ly là khuynh hướng chủ yếu trong thơ văn Tản Đà. Ông xuất thân từ tầng lớp phong kiến đang thời suy thoái. Bản thân sống ở thành thị, gần gũi với tầng lớp tiểu tư sản bất lực lưng chừng, ông lại đứng ngoài các cuộc đấu tranh của dân tộc. Cuộc đời ông phải trải qua nhiều thất bại, éo le nên tư tưởng trở nên tiêu cực thoát ly, điều này được thể hiện qua nhiều khía cạnh. Thơ văn Tản Đà nói nhiều đến chữ sầu: Tản Đà đă xướng lên một nỗi buồn đặc biệt, lăng mạn. Cái buồn của Tản Đà là nỗi buồn thầm kín, như nằm tận đáy sâu của ḷng người có thể bật dậy bất cứ lúc nào. Nó không sầu năo, tang tóc nhưng da diết, khó nguôi. Tản Đà buồn bởi các nguyên nhân :
+ Buồn về thân phận tài t́nh của ḿnh, của những người cùng cảnh ngộ :
"Ngắn dài sáu lớp mươi câu hát
Vui khóc năm canh một cuộc đời
Cũng muốn thôi đi thôi chửa dứt
Tài t́nh lụy lắm bạn t́nh ơi !" (Đề tuồng Tây Thi)
+ Buồn v́ thời thế thay đổi, ông lại bất lực trước hoàn cảnh, mộng giúp đời không thành.
- Thơ văn Tản Đà nói nhiều đến chữ t́nh. Tản Đà thường viết về nỗi ḷng của một kẻ cô đơn, bơ vơ, khao khát yêu thương. Thơ văn ông thường đề cập đến t́nh yêu đôi lứa, kiểu t́nh yêu thật sự lăng mạn. Đó không phải là t́nh vợ chồng, t́nh yêu trong tác phẩm của ông không đi đến hôn nhân. Ông thường nói đến t́nh yêu ban đầu dang dở. Ông kể lại những kỉ niệm về t́nh yêu, những đau khổ trong t́nh yêu... Nói chung, t́nh yêu trong sáng tác Tản Đà là t́nh buồn, t́nh sầu, t́nh hoài nhớ. Đó cũng chính là những nội dung phổ biến của văn học lăng mạn tư sản. Đây là lần đầu tiên trong văn học Việt Nam, một nhà nho đă cất bút viết về những mối t́nh của ḿnh, những diễn biến, những cảm nghĩ về t́nh yêu... Viết để lưu lại h́nh bóng cũ, măi măi không thể phai mờ được, để ghi nhớ những gương mặt thân thương... - Tản Đà sống bằng tưởng tượng nhiều hơn bằng hiện thực. Thơ văn ông cũng nói nhiều đến chữ mộng. Ông mộng được lên trời để hầu chuyện Ngọc Hoàng thượng đế, mộng đi khắp năm châu thế giới gặp toàn những vĩ nhân và mĩ nhân, mộng được làm bạn với những người đẹp. "Giấc mộng mười năm đă tỉnh rồi Tỉnh rồi lại muốn mộng mà chơi".
- Tản Đà quan niệm đời là một bể khổ nên t́m mọi cách để trốn đời, ông lao vào con đường hành lạc. Trước tiên là t́m đến với rượu :
"Cảnh đời gió gió mưa mưa
Buồn trông ta phải say sưa đở buồn".
Rượu vào th́ thi hứng bắt đầu được khơi dậy, cho nên ở Tản Đà rượu thường đi liền với thơ:
"Trời đất sinh ta rượu với thơ
Không thơ không rượu sống sinh thừa".
Nhưng rồi rượu với thơ cũng không làm vơi đi được nỗi buồn của Tản Đà. Chán chường quá ông lại muốn thoát lên cơi tiên, cơi phật, xa lánh trốn trần ai đầy khổ ải này (Muốn làm thằng Cuội, Hầu trời, Tống biệt...). Tản Đà c̣n t́m nguồn vui ở thú đi chơi, ông đi rất nhiều nơi, biết nhiều chỗ. Và với ông mỗi điểm dừng chân đều in lại những kỉ niệm khó quên (Thú ăn chơi).
2.2- Đặc điểm của tư tưởng lăng mạn thoát ly trong thơ văn Tản Đà :
- Lăng mạn thoát ly nhưng không quay lưng lại với cuộc sống :
Tản Đà v́ gặp cảnh ngộ éo le, thất chí nên t́m cách lánh đời, coi đời là cơi tục là nơi ở trọ. Nhưng Tản Đà thoát ly mà không thoát tục. Tản Đà chủ trương trốn đời nhưng lại muốn nhập thế. Ở ông có sự giằng xé giữa chán đời và gánh lănh trách nhiệm. Ông có ư định trốn đời để quên đời, mượn thú nhàn tản để t́m sự thanh thản cho tâm hồn nhưng cuối cùng đă không quên được và luôn phiền năo, lo lắng cho cuộc đời.
- Cái tôi lăng mạn có tư tưởng thoát ly vẫn c̣n bị chi phối bởi ư thức hệ phong kiến:
Tư tưởng thoát ly của Tản Đà gắn liền với ư thức muốn đứng ra ngoài cuộc đời nhơ bẩn để giữ lấy thanh cao trong sạch cho ḿnh :
"Trung hiếu vẹn toàn hai khối ngọc
Thanh cao phô trắng một nhành mai
Bạc tiền gió thoảng thơ đầy túi
Danh lợi bèo trôi rượu nặng vai". (Tự vịnh)
Tản Đà sống vào thời kỳ xă hội trên con đường tư sản hóa, nền kinh tế tư bản chủ nghĩa chi phối mạnh mẽ sinh hoạt của con người, chủ nghĩa cá nhân được công nhiên bộc lộ. Cho nên nội dung thoát ly của Tản Đà in dấu vết của thời đại. Hưởng lạc của Tản Đà bắt đầu bê tha, chủ nghĩa cá nhân bộc lộ rơ. Tuy nhiên, Tản Đà chưa bị sa vào trụy lạc, chưa hủy hoại thể xác và tinh thần như một số tác giả của văn học lăng mạn ở giai đoạn 1939 - 1945. Ở Tản Đà trong cái tôi thoát ly hưởng lạc vẫn c̣n bóng dáng của cái ǵ thuộc nề nếp đạo đức phong kiến (Giấc mộng con, Thề non nước...).
III.- NGHỆ THUẬT THƠ VĂN TẢN ĐÀ
1. Vận dụng một số thành tựu nghệ thuật của văn học dân gian :
- Thể loại :
Các làn điệu xẩm, lư, chèo, ca cổ bản, các thể loại dân ca ở cả miền Bắc lẫn miền Trung đều được Tản Đà chú ư khai thác. Sự am hiểu dân ca làm cho Tản Đà viết phong thi và ca khúc đạt tŕnh độ nghệ thuật rất cao. Rất nhiều bài ca dao của Tản Đà trở thành tác phẩm văn học dân gian, lưu hành khá rộng răi trong quần chúng. Tản Đà gọi ca dao của ḿnh là phong thi.
- Ngôn ngữ :
Tản Đà đă học tập cách sử dụng ngôn ngữ của văn học dân gian, tạo cho ngôn ngữ trong sáng tác của ông có tính giản dị, tự nhiên. Ông c̣n đưa lời ăn tiếng nói của quần chúng vào trong tác phẩm. Có thể thấy rơ thơ của Tản Đà được sáng tác với ngôn ngữ của văn học dân gian, với chất liệu nghệ thuật mà người lao động đă dùng. Ngôn ngữ trong thơ Tản Đà là ngôn ngữ của ca dao, hát ru, hát ví...
- Tản Đà c̣n vận dụng một số công thức trong ca dao. Ví dụ :
"Gió đưa", "Con c̣"... "
Gió đưa thầy khóa sang sông
Để em trông thấy trong ḷng ngẩn ngơ".
hoặc
"Con c̣ lặn lội bờ ao
Phất phơ đôi dải yếm đào gió bay
Em về giục mẹ cùng thầy
Cắm sào đợi nước biết ngày nào trong ?"
 Ảnh hưởng của văn học dân gian trong thơ Tản Đà rất đậm. Có nhiều câu thơ đă bám sát vào các câu hát, ví của văn học dân gian. Câu ví :
Hỡi cô yếm trắng ḷa ḷa
Sao cô không bảo mẹ già nhuộm thâm.
Tản Đà :
Hỡi cô yếm trắng kia là
Chồng cô, cô bỏ ở nhà đi chơi.
2. Cách tân nghệ thuật sáng tác của nhà nho :
- Tản Đà đă sử dụng các thể loại sáng tác của văn chương trung đại trên tinh thần cách tân. Ông là người thể hiện đầy đủ và thành công phương hướng giải quyết của thời đại. Chính ông đă tuyên bố :
"Đờn là đờn, thơ là thơ
Thơ thời có chữ, đờn có tơ
Nếu không phá cách vứt điệu luật
Khó cho thiên hạ đến bao giờ ".