THÔNG BÁO

  THỜI GIAN GẦN ĐÂY MỘT SỐ BẠN LỢI DỤNG  WEBSITE NÀY ĐỂ ĐƯA RA NHỮNG PHÁT NGÔN KHÔNG TỐT. CHO NÊN CHÚNG TÔI TẠM THỜI ĐÓNG WEBSITE LẠI ĐỂ NÂNG CẤP NHẰM HẠN CHẾ MỘT SỐ HÀNH VI KHÔNG TỐT LÀM ẢNH HƯỞNG ĐẾN DIỄN ĐÀN .CÁC BẠN CÓ THẮC MẮC XIN LIÊN HỆ : phanthanhhung90@gmail.com
CHƯƠNG III: TÍNH GIAI CẤP VÀ TÍNH NHÂN DÂN CỦA VĂN NGHỆ
I. TÍNH GIAI CẤP CỦA VĂN NGHỆ
Trong xă hội có giai cấp, bất kỳ một hiện tượng văn chương nghệ thuật nào cũng đều đề cập tới mặt này hay mặt khác, khía cạnh này hay khía cạnh khác, nông hay sâu, trực tiếp hay gián tiếp cuộc đấu tranh giai cấp của xă hội trên cơ sở lợi ích của một giai tầng nhất định mà người cầm bút đại diện. Đặc điểm này của văn nghệ được gọi là tính giai cấp.
1. Tính giai cấp là thuộc tính tất yếu của văn nghệ trong xă hội có giai cấp và nảy sinh đấu tranh gai cấp.
a. Tính giai cấp của văn chương là gì?
Tổng hợp tất cả những đặc điểm về đề tài, chủ đề, tư tưởng, t́nh cảm cùng các biện pháp nghệ thuật thể hiện ý thức của một tầng lớp, một giai cấp xă hội nhất định trong văn nghệ là tính giai cấp của nó. Dù người nghệ sĩ cố ư hay không cố ư, muốn hay không muốn, bao giờ cũng sáng tạo nghệ thuật theo quan điểm của một giai tầng nhất định. Ta có thể thấy rơ điều đó khi đem đối chiếu tác phẩm của các tác giả thuộc các giai tầng khác nhau nhưng cùng viết về một đề tài. Chẳng hạn, cùng đề tài về chùa Trấn Bắc, nhưng thơ của bà Huyện Thanh Quan khác với thơ Ngô Ngọc Du về tư tưởng (bài chơi chùa Trấn Bắc và bài Đàm ni thân thế khẩu thuật). Một bên là sự nuối tiếc, chua xót, một bên là hoan hỉ, vui mừng. Khi đi qua chùa Trấn Bắc, bà Huyện Thanh Quan nh́n thấy cảnh điêu tàn do Nguyễn Hữu Chỉnh phá phách, bà chạnh ḷng nhớ tiếc nơi đă từng diễn ra những cuộc hoan lạc dưới thời Lê - Trịnh. Bà viết : Trấn Bắc hành cung có dăi dầu Chạnh niềm cố quốc nghĩ mà đau. … Sóng lớp phế hưng coi đă rộn Chuông hồi kim cổ lắng càng mau Người xưa cảnh cũ, nào đau tả Khéo ngẩn ngơ thay lũ trọc đầu Trong khi đó, Ngô Ngọc Du lại vui mừng trước sự sụp đỗ của triều Lê - Trịnh, tác giả reo vui trước sự đổi dời mà không một chút nuối tiếc thời đă qua. Đây là tiếng nói của một con người bị chà đạp đè nén, được đổi đời, được giải phóng: Một sớm cửa tung, bừng ánh sáng Mọi người ùa tới dắt tay nhau Họ bảo: ngày nay đă đổi đời Trịnh bị diệt vong, Lê cũng tàn rồi Đoạn trường rày hết kiếp oan trái. Tính giai cấp của văn nghệ được biểu hiện trong tác phẩm rất đa dạng, nhiều màu sắc, cung bậc, đậm nhạt khác nhau. Đó có thể là nói một cách xa xôi bóng gió thân phận quẩn quanh của kiếp người dân xưa: Con kiến mà đeo cành đa Leo phải cành cụt leo ra, leo vào Con kiến mà leo cành đào Leo phải cành cụt leo vào leo ra. Hoặc thân phận người phụ nữ bị ràng buộc trong lễ giáo phong kiến khắc khe: Em như con hạc đầu đ́nh Muốn bay chẳng cất nổi ḿnh mà bay Hoặc đề cập trực tiếp tới vấn đề áp bức bóc lột giai cấp: Địa chủ và nông dân như trong truyện Tấm Cám, tiểu thuyết Tắt đèn, Bước đường cùng … Hoặc đề cập đến một cách gay gắt, trực tiếp cuộc đấu tranh một mất một c̣n đối với kẻ thù giai cấp, dân tộc: Người mẹ cầm súng, Sống như Anh … Văn nghệ nhân loại đă có thời kỳ, người sáng tác ra nó đă không có sự chế ước của hệ tư tưởng giai cấp này hay giai cấp khác và tác phẩm của họ cũng không nói tiếng nói của giai cấp nào cả. Đó là thời kỳ xă hội chưa có giai cấp. Sau này, khi chủ nghĩa cộng sản đă trở thành hiện thực bao trùm lên toàn bộ trái đất th́ văn nghệ cũng sẽ không c̣n biết đến tính giai cấp là ǵ. Nhưng trong điều kiện đấu tranh giai cấp đă trở thành động lực của sự phát triển xă hội th́ văn nghệ mang bản chất giai cấp là điều không tránh khỏi, dù sáng tác là của một em bé, dù nhân vật của một sáng tác nào đó là một em bé. Trần Đăng Khoa có những bài thơ nổi tiếng , tuyệt hay về tư tưởng cũng như nghệ thuật từ lúc 7,8 tuổi. Những bài thơ thật ngây thơ nhưng thật già dặn: Thằng Mĩ nó đến nước tôi Búp bê nó giết, mạng người nó tra Nó bắn các cụ mù ḷa Nó giết cả bé chưa và được cơm. Nhân vật đứa bé đi ở phải bóp cổ giết chết đứa bé con nhà chủ để được ngủ trong chuyện Buồn ngủ của Chekhov phải chăng là phản ứng của bản năng giai cấp.
b. Vì sao trong xă hội có giai cấp và nảy sinh đấu tranh giai cấp văn nghệ lại mang tính giai cấp?
Văn chương là một h́nh thái ư thức xă hội thuộc thượng tầng kiến trúc, chịu sự qui định của hạ tầng cơ sở, khi bản chất cơ sở là bản chất giai cấp thì văn chương nảy sinh trên cơ sở ấy tất yếu mang tính giai cấp. Trong cơ cấu đời sống xă hội, chủ nghĩa Mác khẳng định văn chương là một h́nh thái ư thức xă hội, do cơ sở sinh ra và chịu sự qui định của nó. Trên một cơ sở kinh tế nhất định, nảy sinh một nền văn chương nhất định. Cơ sở kinh tế chẳng những quyết định sử nảy sinh mà phát triển của văn chương mà c̣n quyết định nội dung và tính chất của văn chương. Trong xă hội có giai cấp cơ sở hạ tầng - toàn bộ những quan hệ sản xuất - là quan hệ giữa các giai cấp về địa vị đối với hệ thống sản xuất xă hội đối với h́nh thức chiếm hữu tư liệu sản xuất, về phương thức phân phối của cải. Nói cách khác, là quan hệ giữa các giai cấp và đấu tranh giai cấp. Văn chương nảy sinh trên cơ sở hạ tầng mang bản chất giai cấp đó tất yếu mang bản chất giai cấp - bản chất của cái đă sinh ra nó. Ví dụ: khi xă hội mà mâu thuẫn giai cấp cơ bản là mâu thuẫn giữa địa chủ và nông dân th́ văn chương cũng xoay quanh mâu thuẫn đó (Tấm cám, Vợ chồng A Phủ, Tắt đèn). Khi xă hội chuyển sang chế độ tư bản - bản chất kinh tế là kinh tế hàng hóa, mâu thuẫn giai cấp cơ bản là mâu thuẫn giữa tư sản và vô sản th́ văn chương xoay quanh vấn đề hàng hóa sức lao động, vấn đề nhân phẩm con người và tiền tài (Eugénie-Grandet, Người mẹ v.v…) Mặt khác, văn chương là một h́nh thái ư thức xă hội, như các h́nh thái ư thức xă hội khác, có tác dụng phục vụ, duy trì, bảo vệ hạ tầng cơ sở; khi cơ sở mà nội dung trọng yếu của nó là đấu tranh giai cấp th́ văn chương có nhiệm vụ phục vụ cho cuộc đấu tranh giai cấp đó. Các giai cấp cầm quyền luôn luôn có ư thức sử dụng thượng tầng kiến trúc để duy tŕ lợi ích giai cấp mình. Văn chương là một trong những vũ khí lợi hại của giai cấp. Các giai cấp tận dụng triệt để sức mạnh của văn chương dùng nó làm vũ khí đấu tranh cho lợi ích giai cấp ḿnh. Vì vậy mà văn chuơng là vũ khí đấu tranh giai cấp. Từ ngày xưa, Chu Đôn Dy đă xem văn chương như là công cụ đằc lực truyền bá tư tưởng: văn dĩ tải đạo. Ngày nay, Bác Hồ khẳng định trực diện vũ khí đấu tranh giai cấp - văn chương rất đặc biệt này:Văn nghệ cũng là một mặt trận, anh chị em văn nghệ sĩ là chiến sĩ trên mặt trận ấy. Đứng ở góc độ nhận thức luận, phản ánh luận, ư thức xă hội là sự phản ánh tồn tại xă hội, văn chương là một h́nh thái ư thức nên nó phản ánh tồn tại xă hội. Khi tồn tại xă hội chủ yếu là quan hệ giữa các giai cấp và đấu tranh giai cấp th́ văn chương - hình ảnh của tồn tại đó - tất yếu phản ánh cuộc đấu tranh giai cấp. Phản ánh hiện thực là thuộc tính cơ bản của văn chương. Dù muốn hay không khi sáng tạo nghệ thuật, nghệ sĩ bao giờ cũng phàn ánh vào trong tác phẩm của ḿnh thế này hay thế khác tồn tại xă hội, đời sống xă hội. Khi tồn tại xă hội là tồn tại mang bản chất giai cấp, văn chương phản ánh nó, tất yếu phản ánh các quan hệ giai cấp và đấu tranh giai cấp.
- Điều đặc biệt quan trọng là: tác phẩm văn chương là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan, khi chủ thể nhận thức mang bản chất giai cấp thì sản phẩm ư thức của nó- tác phẩm văn chương tất yếu mang bản chất giai cấp. Trong xă hội có giai cấp, nhà văn là con đẻ của một giai cấp nhất định. Lênin đă từng nói:không một người nào đang sồng mà lại có thể không đứng về một giai cấp này hay một giai cấp khác. Tác phẩm văn chương là ư thức, là tư tưởng, là hiện thực được khúc xạ qua lăng kính chủ quan của nghệ sỹ mang bản chất giai cấp, tất yếu mang tính giai cấp. Hơn thế, nhà văn là công dân giai cấp, đồng thời c̣n là người phát ngôn, đại biểu cho lợi ích giai cấp. Gorki đă từng khẳng định : Nhà văn là con mắt, là lỗ tai, là tiếng nói của một giai cấp". V́ thế, khi phản ánh hiện thực, sáng tạo nghệ thuật, nhà văn không thể không xất phát từ lập trường, từ quan điểm, từ nguyện vọng, từ lợi ích của giai cấp ḿnh. Tóm lại, Tính giai cấp là một tất yếu lịch sử. 2. Tính giai cấp của văn chương là một hiện tượng lịch sử phức tạp.
a. Tính giai cấp của văn chương không thuần nhất, đơn nhất.
Con người là tổng ḥa của những mối quan hệ xă hội. Các thành viên thuộc các giai cấp trong xă hội luôn luôn đấu tranh, tác động và ảnh hưởng lẫn nhau, các thành viên của từng giai cấp không ngừng thay đổi và chuyển hóa từ giai cấp này sang giai cấp khác. Vì vậy, tính giai cấp của con người là không thuần nhất. Văn chương là tinh thần, tư tưởng của con người, do đó, tính giai cấp của nó không thuần nhất, đơn nhất. Chẳng hạn, Nguyễn Du và Truyện Kiều của ông, những mâu thuẫn gay gắt trong thế giới quan của Nguyễn Du thể hiện trong Truyện Kiều. Mỗi thời đại, giai cấp nào nắm quyền thống trị về vật chất th́ đồng thời nắm quyền thống trị về tinh thần. Tư tưởng thống trị thời đại là tư tưởng giai cấp thống trị. Tư tưởng giai cấp bị trị không thể không bị ảnh hưởng, không thể không mang dấu ấn tư tưởng giai cấp thống trị. Văn chương là sản phẩm tư tưởng của kẻ bị thống trị không thể không bị pha tạp bởi tư tưởng giai cấp thống trị. Do chịu ảnh hưởng của tư tưởng phong kiến thống trị mà trong ca dao xưa - sáng tác của nhân dân lao động, có lúc biểu hiện tư tưởng bi quan, bất lực, cam chịu … thậm chí, ước muốn cao xa nhất cũng chỉ là ước muốn làm kẻ thống trị người khác.
b. Tính giai cấp của văn chương không phải bao giờ cũng mang những h́nh thức riêng biệt, sáng rõ.
Trong lịch sử văn chương, không hiếm những tác phẩm mang những h́nh thức giai cấp riêng biệt, sáng rơ, ca dao cổ là một ví dụ. Ca dao có câu: Vì chưng bác mẹ tôi nghèo Cho nên tôi phải băm bèo, thái rau. Đây chỉ có thể là tiếng nói của nhân dân lao động nghèo khổ mà thôi - không nhầm lẫn vào đâu được. Những con người của tầng lớp phong kiến bóc lột không nói và không thể nói được vậy. Phần lớn các tác phẩm văn chương ưu tú của quá khứ th́ tính giai cấp của chúng lại thường khoác chiếc áo "nhân tính",nhân đạo chung chung, không mang màu sắc giai cấp, thời đại lịch sử cụ thể. Chẳng hạn : Tây Sương kí của Vương Thực Phủ, tác giả nêu lên lí tưởng là mong sao lứa đôi được thành gia thất. Trường hận ca của Bạch Cư Dị nêu lên lí tưởng t́nh yêu chung thủy.
c. Tính giai cấp của tác phẩm không phải lúc nào cũng tương ứng với thành phần giai cấp của tác giả.
Sự phân hóa giai cấp diễn ra gay gắt trong cuộc đấu tranh giai cấp đă làm cho nhiều nhà văn vốn thuộc giai cấp này trở thành người phát ngôn cho giai cấp khác. Nguyễn Du, Nguyễn Khuyến, Tolstoi, balzac chẳng hạn. Do đó, thành phần giai cấp xuất thân của tác giả là một chuyện, c̣n khuynh hướng giai cấp toát ra từ thực tế h́nh tượng tác phẩm của anh ta lại là chuyện khác; có thể tương ứng, cũng có thể không, hoặc chỉ tương ứng một phần nào…
d. Tính giai cấp của tác phẩm không phải lúc nào cũng phụ thuộc vào ư muốn chủ quan hay lời tuyên bố của nhà văn.
Tính giai cấp là khuynh hướng thực tế toát ra từ tác phẩm, cho nên, không nhất thiết là thống nhất với ư định hay lời tuyên bổ của nhà văn, có nhiều nhà văn tuyên bố ḿnh đứng trên các giai cấp (siêu giai cấp) nhưng thực tế tác phẩm của họ phục vụ cho giai cấp tư sản, có nhà văn tuyên bố ḿnh đứng về giai cấp vô sản nhưng thực tế tác phẩm của họ lại chống lại Đảng, chống lại giai cấp vô sản. Tóm lại, tính giai cấp của văn chương là một hiện tượng lịch sử phức tạp, nó là khuynh hướng khách quan của tác phẩm thể hiện mối liên hệ thực tế giữa văn chư giai cấp và đấu tranh giai cấp, thể hiện mối lợi ích lịch sử của các giai cấp trong xă hội. Cho nên, không thể đồng nhất tính giai cấp của tác phẩm với thành phần giai cấp của nhà văn, với tính giai cấp của nhân vật, với ư muốn chủ quan của tác giả, với h́nh thức biểu hiện của tác phẩm…
3. Văn chương là một vũ khí đấu tranh giai cấp.
Là một hình thái ý thức xă hội thuộc thượng tầng kiến trúc, văn chương có tác dụng năng động trở lại hạ tầng cơ sở, phục vụ cơ sở. Trong xă hội có giai cấp, văn chương phục vụ hạ tầng cơ sở, có nghĩa là phục vụ cho cuộc đấu tranh giai cấp và tất yếu trở thành vũ khí đấu tranh giai cấp. Nhà văn sáng tạo ra h́nh tượng nghệ thuật để thể hiện lí tưởng thẩm mĩ của ḿnh,tức là thể hiện những nhu cầu khát vọng và tư tưởng của một giai cấp nhất định. Trong tác phẩm, nhà văn bao giờ cũng miêu tả lí tưởng của ḿnh thành ra cái đẹp và các hợp lí hơn cả, đáng noi theo và đúng hơn cả. Bà huyện Thanh Quan viết bài thơ Đèo ngang với một t́nh cảm lạc hậu nhưng bà cho đó là t́nh cảm hợp lí nhất: Bà nhớ tiếc Triều Lê - Trịnh đă bị đánh đổ, Đèo ngang là nơi chia cắt Trịnh - Nguyễn, lẽ ra việc được phá bỏ sự chia cắt, thống nhất giang san thành một mối th́ vui mới phải, nhưng Bà huyện lại buồn tái tê. Dù muốn hay không, qua tác phẩm của ḿnh, nhà văn đă khuôn tư tưởng, t́nh cảm của người đọc theo kích thước, cung bậc của tư tưởng, t́nh cảm của ḿnh, truyền cho người đọc sự cảm thụ thế giới theo phương thức cảm thụ của ḿnh và phù hợp với lợi ích lịch sử của một giai cấp lịch sử nhất định. Trong ư nghĩa đó mà mọi tác phẩm văn chương mang tính giai cấp đều trở thành vũ khí đấu tranh giai cấp. Cũng chính với ư nghĩa như vậy mà Gorki đă nói: "Nhà văn là lỗ tai, con mắt, tiếng nói của một giai cấp". Để bảo vệ quyền lợi của ḿnh, giai cấp thống trị luôn luôn t́m cách làm cho tư tưởng, t́nh cảm của giai cấp ḿnh trở thành tư tưởng, t́nh cảm thống trị thời đại. Giai cấp thống trị không từ bỏ một thủ đoạn nào (bạo lực, dụ dỗ, mua chuộc …), không từ bỏ một phương tiện nào (báo chí, xuất bản …) để tuyên truyền, giáo dục ư thức hệ của giai cấp ḿnh. Cho nên, giai cấp thống trị luôn luôn có ý thức dùng văn nghệ làm vũ khí đấu tranh giai cấp, đào tạo ra một đội ngũ văn nghệ sĩ chuyên nghiệp phục vụ tích cực cho giai cấp ḿnh, và sẵn sàng trấn áp, thủ tiêu nền văn nghệ đối lập. Ngược lại, nhân dân lao động và giai cấp bị trị bao giờ cũng dùng văn nghệ để chống lại ư thức hệ của giai cấp thống trị. Bởi vậy, trong xă hội có giai cấp đối kháng "Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận" (Bác Hồ). Trong mặt trận đó, diễn ra sự đấu tranh giữa cái tiến bộ v́ lợi ích của nhân dân lao động với cái thoái bộ v́ lợi ích của bọn thống trị bóc lột; giữa cái cũ và cái mới, giữa cái tiến bộ và cái lạc hậu, giữa cái trưởng thành và cái mục nát. Những bức thư trao đổi giữa Phan Đ́nh Phùng và Hoàng Cao Khải, những bài thơ xướng họa của Phan Văn Trị và Tôn Thọ Tường, những bài bút chiến giữa Ngô Đức Kế, Huỳnh Thúc Kháng với Phạm Quỳnh, những bài bút chiến giữa Bùi Công Trừng, Hải Triều với những nhà văn "nghệ thuật vị nghệ thuật" … đều là sự phản ánh xung đột tư tưởng giai cấp trên lĩnh vực văn nghệ.
4. Biểu hiện tính giai cấp trong tác phẩm văn chương.
Trong một tác phẩm, tính giai cấp không chỉ biểu hiện ở nội dung tư tưởng mà c̣n cả h́nh thức nghệ thuật. Để xác định tính giai cấp của tác phẩm ta phải xem xét nhiều mặt: đề tài, chủ đề, tư tưởng, h́nh tượng, ngôn ngữ … đồng thời tùy theo từng tác phẩm cụ thể mà có cách xem xét tính giai cấp khác nhau v́ tính giai cấp của tác phẩm được biểu hiện ra một cách khác nhau tùy theo phương pháp sáng tác, phong cách, sức mạnh t́nh cảm giai cấp của từng nhà văn cụ thể.
- Về đề tài.
Đứng trước hiện thực đời sống phong phú, muôn màu muôn vẻ nhà văn chọn lấy phạm vi hiện thực nào để đưa vào tác phẩm, đương nhiên, tùy thuộc vào nhiều điều kiện chủ quan của tác giả trong có có vấn đề lập trường, quan điểm giai cấp. Chủ nghĩa cổ điển ở châu Âu thế kỷ XVII, các tác phẩm của nó được quy định nghiêm ngặt về nhiều mặt, trong đó có đề tài. Cuộc sống của ông Hoàng, bà Chúa chốn cung đ́nh là loại đề tài "cao quí" , cuộc sống của con người thuộc đẳng cấp thứ ba là đề tài "thấp hèn". Các nhà văn của chủ nghĩa hiện thực xă hội chủ nghĩa với quan điểm nhân dân lao động là người làm chủ lịch sử thời đại mới đă hướng về đề tài cuộc sống lao động, chiến đấu, xây dựng của quần chúng lao động.
- Tư tưởng chủ đề.
Điều quan trọng là không phải chọn cái ǵ để miêu tả, mà quan trọng là ở chỗ miêu tả, lí giải cái đă chọn như thế nào. Ở đây bộc lộ rơ khuynh hướng tư tưởng giai cấp của tác giả, tác phẩm. Cùng viết về đề tài người phụ nữ nông dân nhưng cách nh́n nhận và lí giải số phận của họ đối với các nhà văn của chủ nghĩa hiện thực phê phán khác với các nhà văn của chủ nghĩa hiện thực XHCN. Ngô Tất Tố với lập trường tiểu tư sản tiến bộ một mặt ca ngợi những đức tính tốt đẹp của chị Dậu, nhưng mặt khác lại thấy một tương lai "tối như mực" của chị. Nguyễn Thi với lập trường giai cấp vô sản đă chẳng những nh́n thấy được những mặt bản chất tốt đẹp, truyền thống của người phụ nữ Việt Nam mà c̣n thấy được bản chất cách mạng của học. Hơn thế, tương lai của số phận người phụ nữ dưới ng̣i bút Nguyễn Thi khác Ngô Tất Tố về căn bản. Nếu như chị Dậu thụ động, bất lực không có lối thoát trước bao nhiêu thế lực hắc ám, th́ chị Út Tịch luôn luôn chủ động, vươn lên chiến thắng mọi kẻ thù để làm chủ cuộc sống và trở thành người anh hùng.
- Về hình tượng.
Hình tượng, đặc biệt, là hình tượng nhân vật, là nơi bộc lộ tập trung, rơ rệt tính giai cấp của tác phẩm. Tính giai cấp của hình tượng nhân vật bộc lộ chủ yếu ở hành động, ở tư tưởng t́nh cảm của nhân vật. Phương diện này của hình tượng - phương diện nội dung, chúng ta đă đề cập ở phần tư tưởng chủ đề. Nhưng h́nh tượng là yếu tố nội dung mang tính chất h́nh thức. Tính giai cấp còn biểu lộ ở quan niệm nghệ thuật về con người của tác giả. Quan niệm nghệ thuật về người anh hùng thời đại của Nguyễn Du qua Từ Hải, khác với quan niệm nghệ thuật và người anh hùng của Trần Đ́nh Vân qua Nguyễn Văn Trỗi. Nhân vật trung tâm của chủ nghĩa cổ điển, chủ nghĩa hiện thực phê phán và chủ nghĩa hiện thực xă hội chủ nghĩa là khác nhau. Nếu nhân vật trung tâm của chủ nghĩa hiện thực phê phán chủ yếu là phản diện thì nhân vật trung tâm của chủ nghĩa hiện thực xă hội chủ nghĩa là chính diện. Nếu nhân vật người lao động trong chủ nghĩa hiện thực phê phán là những con người nhỏ bé quẩn trong miếng cơm, manh áo sau lũy tre làng, th́ người lao động của chủ nghĩa hiện thực xă hội chủ nghĩa là con người chính trị tham gia cuộc vận động lớn của lịch sử nhằm giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, xóa bỏ chế độ người bóc lột người, xây dựng xă hội mới. Chính lập trường, quan niệm giai cấp bao gồm cả quan điểm thẩm mĩ của tác giả đă chi phối quan niệm nghệ thuật về con người - nhân vật của tác phẩm.
- Về loại thể.
Loại thể là một yếu tố của h́nh thức biểu hiện. Tính giai cấp biểu hiện qua loại thể thật khó thấy. Nhưng không phải loại thể không bị chi phối bởi quan điểm giai cấp của người sáng tác. Các nhà văn của chủ nghĩa hiện thực xă hội chủ nghĩa mở rộng cửa cho các loại thể trong sáng tác nhưng khước từ loại nghệ thuật cầu kỳ, bí hiểm tắc tị của nghệ thuật tư sản trong thời kỳ suy đồi, đồng thời cũng không xem là khuôn thước loại nghệ thuật có tính quy phạm với những quy định ngặt nghèo g̣ bó sáng tạo của nghệ thuật phong kiến.
- Về ngôn ngữ.
Ngôn ngữ thì không mang tính giai cấp. Nhưng khi tồn tại trong tác phẩm nghệ thuật với tư cách là ngôn từ - chất liệu xây dựng h́nh tượng nghệ thuật th́ nó mang màu sắc cá nhân, và do đó, mang khuynh hướng tư tưởng. Văn chương văn gian tiếng nói của người lao động, ngôn ngữ của nó giản dị, mộc mạc, trong sáng nhưng cũng điêu luyện. Văn chương của tầng lớp phong kiến thống trị, ngôn ngữ của nó mang đậm màu sắc khoa cử, khuôn phép do đó thường sáo ṃn, thiếu tính đại chúng.
5. Vài nét về tính đảng trong văn chương.
Tính đảng cộng sản là nguyên tắc tối cao, là linh hồn của toàn bộ nền nghệ thuật xă hội chủ nghĩa. Nhưng tính đảng nói chung lại là linh hồn của mọi nền văn nghệ. Bởi vì, tính đảng không ǵ khác hơn là sự biểu hiện tập trung nhất và cao nhất của tính giai cấp. Xă hội phân chia giai cấp thì cá nhân con người trong xă hội đó bao giờ cũng thuộc về một giai cấp nhất định và mang bản chất giai cấp. Lênin viết: "Không có người nào sống lại có thể không đứng về phía giai cấp này hay giai cấp khác…" và quan điểm của mọi người bao giờ "tất yếu cũng xuất phát từ một môi trường xă hội nhất định, môi trường đó là vật liệu, là đối tượng đời sống tinh thần của cá nhân và được phản ánh vào ư nghĩ, t́nh cảm của cá nhân một cách tiêu cực hay tích cực, đại diện cho quyền lợi giai cấp xă hội này hay giai cấp xă hội khác". Lênin cũng chỉ rơ rằng: "Trong xă hội dựa vào sự phân chia giai cấp th́ đến một mức độ phát triển nhất định của nó, cuộc đấu tranh giữa các giai cấp thù địch nhất thiết sẽ trở thành cuộc đấu tranh chính trị. Cuộc đấu tranh giữa các đảng phái là biểu hiện hoàn chỉnh, đầy đủ, rơ rệt nhất của cuộc đấu tranh chính trị giữa các giai cấp". Đấu tranh giai cấp tất yếu dẫn tới tổ chức đảng. Nếu như đảng là h́nh thức tổ chức cao nhất của giai cấp th́ tính đảng chính là biểu hiện tập trung nhất, cao nhất của tính giai cấp. Lênin nói: "Tính đảng nghiêm túc là người bạn đường và là kết quả của cuộc đấu tranh giai cấp phát triển đến cao độ". Là một vũ khí sắc bén trong cuộc đấu tranh giai cấp của các giai cấp trong xă hội, khi mà cuộc đấu tranh giai cấp phát triển đến cao độ, bản thân văn chương tự nó đă mang tính đảng - theo nghĩa rộng răi nhất của nó. Nhưng do, giai cấp tư sản luôn luôn che đậy tính đảng trên mọi lĩnh vực, cho nên họ phủ nhận luôn tính đảng trong văn chương. C̣n giai cấp vô sản chẳng những công khai thừa nhận tính đảng của văn chương mà c̣n đề ra yêu cầu và nguyên tắc tính đảng cho văn chương của ḿnh. Do đó, trong thực tế, tính đảng trong văn chương thường được dùng để chỉ tính đảng cộng sản của văn chương. V́ vậy, tính đảng của văn chương là khái niệm phản ánh mối liên hệ giữa văn chương với giai cấp vô sản và đảng của nó. Tóm lại:
- Trong cơ cấu đời sống xă hội, văn chương là sản phẩm tinh thần của xă hội, "Xă hội thế nào, văn nhgệ thế ấy". Bản chất xă hội quy định bản chất nghệ thuật. Trong xă hội có giai cấp và đấu tranh giai cấp, bản chất xă hội là bản chất giai cấp; văn chương là con đẻ của xă hội, tất yếu mang bản chất giai cấp. Tính giai cấp của văn chương, v́ vậy, là một thuộc tính tất yếu.
- Văn chương mang tính giai cấp nên lịch sử văn chương trong xă hội có giai cấp c̣n là lịch sử đấu tranh giai cấp trên mặt trận văn chương, là nhà văn là chiến sĩ trên mặt trận ấy. - Tính giai cấp là một bản chất xă hội lịch sử của văn chương, do đó, không thể hiểu các hiện tượng nếu như không phân tích nội dung giai cấp của nó.