THÔNG BÁO

  THỜI GIAN GẦN ĐÂY MỘT SỐ BẠN LỢI DỤNG  WEBSITE NÀY ĐỂ ĐƯA RA NHỮNG PHÁT NGÔN KHÔNG TỐT. CHO NÊN CHÚNG TÔI TẠM THỜI ĐÓNG WEBSITE LẠI ĐỂ NÂNG CẤP NHẰM HẠN CHẾ MỘT SỐ HÀNH VI KHÔNG TỐT LÀM ẢNH HƯỞNG ĐẾN DIỄN ĐÀN .CÁC BẠN CÓ THẮC MẮC XIN LIÊN HỆ : phanthanhhung90@gmail.com
ĐẶC ĐIỂM TU TỪ CỦA CÁC PHƯƠNG TIỆN NGÔN NGỮ TIẾNG VIỆT.
A- Đặc điểm tu từ của một số lớp từ ngữ có chức năng tu từ đặc biệt
Trong số từ ngữ tiếng Việt được dùng trong giao tiếp hiện nay, ta thấy có một số lớp từ ngữ có chức năng tu từ đặc biệt dựa trên sự đối lập với những từ ngữ đồng nghĩa hoặc tương đương về ư nghĩa. Đó là những lớp từ : thành ngữ, từ thuầ́n Việt và Hán Việt đẳng nghĩa, từ địa phương, từ xưng hô, từ lịch sử ...
I- Thành ngữ:
1- Khái niệm:
Thành ngữ là những tổ hợp từ có sẵn ( cụm từ cố định) có khả năng định danh như từ dùng để gọi tên sự vật, tính chất, hành động.
2- Đặc điểm tu từ :
2.1- Màu sắc phong cách :
Thành ngữ có khả năng sử dụng rộng răi trong nhiều PCCN tiếng Việt. Dựa vào phạm vi sử dụng mà người ta có thể chia làm: thành ngữ đa phong cách, thành ngữ gọt giũa và thành ngữ khẩu ngữ.
2.2- Sắc thái biểu cảm:
Thành ngữ không mang sắc thái biểu cảm chủ quan, cá nhân kể cả những thành ngữ khẩu ngữ. Sắc thái biểu cảm của thành ngữ mang tính khái quát, tính chung chứ không mang tính chất cá nhân. Điều này chúng ta có thể giải thích từ cách cấu tạo nên thành ngữ. Về mặt h́nh thức, thành ngữ thường dựa vào quy luật hài hoà về âm thanh, trong đó vần, nhịp và kiến trúc sóng đôi đóng một vai tṛ hết sức quan trọng. Về mặt nội dung, thành ngữ thường được cấu tạo theo quy tắc chuyển nghĩa. Ngoại trừ các thành ngữ so sánh có giá trị biểu trưng thấp; các thành ngữ c̣n lại thường được cấu tạo theo quy tắc chuyển nghĩa ẩn dụ và hoán dụ và có giá trị biểu trưng rất cao. Trong cách cấu tạo này người ta lựa chọn những h́nh ảnh quen thuộc, sinh động và cụ thể trong đời sống như : động vật, thực vật, tự nhiên, đồ dùng... dùng chúng làm dấu hiệu để biểu đạt những vấn đề trừu tượng về đời sống xă hội con người. Ví dụ để biểu đạt sự buôn bán, lặn lội vất vả nhằm kiếm miếng ăn độ nhật của những người không nhiều vốn liếng ở phố đông, xóm vắng người ta mượn h́nh ảnh buôn gánh và bán bưng. Do được cấu tạo theo quy tắc chuyển nghĩa ẩn dụ hoặc hoán dụ mà thành ngữ bao giờ cũng có hai nghĩa : nghĩa đen và nghĩa bóng. Nghĩa đen của thành ngữ do bản thân tổ hợp từ ngữ mang lại có tính chất cụ thể, sinh động và h́nh ảnh. Nghĩa bóng có tính chất trừu tượng, khái quát đồng thời có sắc thái biểu cảm. Tuỳ thuộc vào sự đánh giá tốt xấu và tính chất thẩm mĩ của những h́nh ảnh được lấy làm dấu hiệu biểu trưng mà sắc thái biểu cảm của thành ngữ có thể là dương tính hay âm tính.
3- Tác dụng :
Sử dụng thành ngữ trong giao tiếp làm cho lời nói đậm đà màu sắc dân tộc. Thành ngữ được dùng trong PC khẩu ngữ sẽ giúp cho sự giao tiếp giàu h́nh ảnh và cảm xúc. Sử dụng thành ngữ để diễn đạt sẽ dễ thuyết phục mọi người v́ nó có tính khách quan, bằng h́nh ảnh thực tế chứ không phải bằng những lí luận suông. Trong văn chính luận, nếu biết lấy thành ngữ làm một bộ phận cho cơ sở lí lẽ th́ tính quy luật, tính chính xác của nội dung thành ngữ sẽ được phát huy, sự diễn đạt của câu văn trở nên chắc chắn. Ví dụ: Điểm này, có lẽ các đồng chí nắm vững rồi. Bác chỉ nhắc các cô các chú phải đi sâu đi sát cơ sở, nằm ở cơ sở để chỉ đạo phong trào, không nên xuống cơ sở theo lối chuồn chuồn đạp nước. Vấn đề này nghe th́ dễ nhưng thực hiện chưa tốt lắm. ( Hồ Chí Minh) Trong PCVC, thành ngữ rất cần thiết. Nó giúp nhà văn miêu tả một cách sinh động ngoại h́nh, tâm hồn, tính cách và thân phận nhân vật. Ví dụ: Nh́n bọn Tây đầm thuộc địa ngày thường ồn ào, hống hách, bây giờ cứ cắm mặt xuống tiu nghỉu như mèo bị cắt tai, Toàn hả ngầm trong dạ. ( Vỡ bờ- Nguyễn Đ́nh Thi)
II- Từ Hán Việt và thuần Việt đẳng nghĩa:
1- Khái niệm:
Từ đẳng nghĩa là hiện tượng hai yếu tố ngôn ngữ ngang nghĩa nhau nhưng lại khác nhau về nguồn gốc. Từ Hán Việt và thuần Việt đẳng nghĩa không chỉ khác nhau về nguồn gốc mà cả về màu sắc phong cách, sắc thái ư nghĩa và sắc thái biểu cảm. Ví dụ: Hán Việt Thuần Việt - Phú cường - Giàu mạnh - Vĩ đại - To lớn - Phụ mẫu - Cha mẹ
2- Những đặc điểm khác nhau của các cặp từ Hán Việt và thuần Việt đẳng nghĩa:
2.1- Sắc thái ư nghĩa :
- Từ Hán Việt thường có sắc thái ư nghĩa trừu tượng. Ví dụ: thảo mộc, sơn hà, thiên địa... - Từ thuần Việt đẳng nghĩa thường có sắc thái ư nghĩa cụ thể hơn. Ví dụ: cỏ cây, núi sông, trời đất... Điều này khiến cho từ Hán Việt mang tính chất tĩnh tại, không sinh động, gợi h́nh. Trong khi đó , do có sắc thái ư nghĩa cụ thể nên từ thuần Việt mang tính chất sinh động, gợi h́nh. 2.2- Sắc thái biểu cảm:
Đại bộ phận từ Hán Việt thường có sắc thái biểu cảm dương tính. Ví dụ: phát biểu, phu nhân, hảo tâm, nhân ái, tân niên, hi sinh... Đại bộ phận từ́ thuần Việt đẳng nghĩa thường có sắc thái biểu cảm trung hoà hoặc âm tính. Ví dụ: nói, vợ, ḷng tốt, thương người, năm mới, bỏ mạng...
2.3- Màu sắc phong cách:
Từ Hán Việt thường được dùng trong giao tiếp mang tính nghi thức như :PC khoa học, hành chính, chính luận, thông tấn, văn chương,...Một số từ Hán Việt do chỉ xuất hiện ở giao tiếp mang tính nghi thức hoặc ít xuất hiện trong giao tiếp không mang tính nghi thức nên mang tính chất cổ kính, không thông dụng. Từ thuần Việt nh́n chung có thể được dùng trong nhiều PCCNNN và đặc biệt là PCKN nên có màu sắc đa phong cách và mang tính hiện đại thông dụng.
3- Nguyên nhân :
3.1- Nguyên nhân xă hội- ngôn ngữ:
-Quá tŕnh vay mượn và sử dụng từ Hán Việt của chúng ta chủ yếu qua con đường sách vở mà không bằng con đường giao tiếp sinh hoạt hàng ngày.
- Trong một thời gian dài của lịch sử, từ Hán Việt được dùng trong công việc hành chính, trong giáo dục và trong sáng tác văn chương.
- Môi trường, hoàn cảnh và mục đích sử dụng đă tạo nên những đặc điểm riêng của từ Hán Việt so với những từ thuần Việt đẳöng nghĩa.
- Quá tŕnh đấu tranh bền bỉ cho vị trí và sự phát triển của tiếng Việt.
3.2- Nguyên nhân ngôn ngữ:
- Từ Hán Việt không có khả năng lập thành đơn vị từ hoặc nếu có th́ cũng rất hạn chế trong sử dụng. Các h́nh vị trong các từ đa tiết Hán Việt thuộc loại này không có nét nghĩa được hiện ra ngay. Do nghĩa không hiện ra ngay nên khi tiếp nhận từ Hán Việt ta thường cảm thấy có cái ǵ mơ hồ, trừu tượng, khó nắm bắt, không rơ ràng, cụ thể, dễ nắm bắt như từ thuần Việt. - Trong các từ ghép thuần Việt, các h́nh vị cấu tạo nên chúng xét theo quan điểm đồng đại th́ cũng lại có khả năng một ḿnh lập thành đơn vị từ. Cho nên, nghĩa của chúng là hiển nhiên, rơ ràng , cụ thể, dễ nắm bắt. Sự khác nhau về khả năng hoạt động của h́nh vị trong từ Hán Việt và thuần Việt đẳng nghĩa đă góp phần tạo nên những khác biệt về sắc thái ư nghĩa trừu tượng- cụ thể; tĩnh tại- sinh động.
4- Quy luật sử dụng :
Qua sự phân tích ở trên chúng ta thấy giữa từ Hán Việt và từ thuần Việt đẳng nghĩa có sự đối lập về đặc điểm tu từ rất rơ rệt. Điều quan trọng là phải biết rơ đặc điểm tu từ để vận dụng chúng trong những hoàn cảnh và mục đích giao tiếp cụ thể nhằm phát huy thế mạnh của từ. Từ Hán Việt do có sắc thái ư nghĩa trừu tượng, khái quát; do có sắc thái biểu cảm dương tính nên thường đem đến cho ta những khái niệm im ĺm, không sắc màu cụ thể, thiếu sự vận động, mang h́nh ảnh của thế giới ư niệm. Do đó, lớp từ này rất thích hợp khi miêu tả những ǵ mơ hồ, ngưng đọng, cổ xưa. Trái lại, từ thuần Việt do có sắc thái ư nghĩa cụ thể; do có sắc thái biểu cảm trung hoà hoặc âm tính nên thường đem đến cho ta những h́nh ảnh quen thuộc, giản dị, sinh động, lắm sắc màu, mang hơi thở của hiện thực khách quan nên rất thích hợp khi miêu tả những chi tiết cụ thể, sinh động. Để chứng minh điều này, ta có thể dựa vào tài sử dụng ngôn ngữ của Nguyễn Du trong Truyện Kiều. Trong giao tiếp ở PC khẩu ngữ , từ thuần Việt thích hợp hơn. Trong những phong cách : khoa học, báo chí, hành chính... người ta thường t́m đến từ Hán Việt.
III- Từ xưng hô :
1- Khái niệm:
Từ xưng hô là lớp từ dùng để tự xưng và gọi đối tượng khi giao tiếp. Từ xưng hô tiếng Việt rất phong phú. Ngoài các đại từ, tiếng Việt c̣n dùng tất cả những từ chỉ quan hệ họ hàng, chức tước để xưng hô. Thậm chí, người ta c̣n xưng hô bằng cách nói trống không.
2- Cách xưng hô:
Tùy theo đối tượng giao tiếp mà cách xưng hô của một cá nhân phải thay đổi cho phù hợp. Những mối quan hệ gia đ́nh, xă hội, t́nh cảm khi giao tiếp là nguyên nhân tạo nên những cách xưng hô khác nhau. Cùng một đối tượng, nhưng hoàn cảnh giao tiếp và nhất là t́nh cảm thay đổi th́ cách dùng từ xưng hô cũng đổi thay. Ví dụ: Anh gọi chị là bà làm chị kiêu hănh, sau đó là chị làm chị ấm ḷng và cuối cùng là em làm chị sung sướng. Cuộc cách mạng về sự xưng hô ấy chỉ diễn ra trong ṿng 15 phút. Phút thứ 16 th́ anh nói đă thuê hai hecta rừng thông chiều nay để không ai được lai văng qua. Phút thứ 17 th́ lưng chị đă lấm đầy cát và sau đó chị bắt đầu vào cuộc hành tŕnh vào thiên đường lần đầu tiên trong đời. ( Văn nghệ số 423) 3- Những mô h́nh xưng hô thường gặp :
3.1- Mô h́nh :
Tôi ( chúng tôi )- Ông ( một từ chỉ quan hệ họ hàng ). Mô h́nh này mang sắc thái biểu cảm trung hoà, có màu sắc đa phong cách.
3.2- Mô h́nh :
Cháu ( một từ chỉ quan hệ họ hàng) - Bác ( một từ chỉ quan hệ họ hàng). Mô h́nh này mang sắc thái biểu cảm dương tính, được dùng chủ yếu trong phong cách khẩu ngữ.
3.3- Mô h́nh :
Tao ( chúng tao)- Mày ( chúng mày, chúng bây ) Mô h́nh này mang sắc thái biểu cảm thân mật, suồng să, được dùng hạn chế trong phong cách khẩu ngữ. Nếu không có quan hệ bạn bè thân mật mà xưng hô theo mô h́nh này sẽ bao hàm sắc thái miệt thị, không tôn trọng.
3.4- Mô h́nh :
Ḿnh - ta ( thiếp- chàng ). Mô h́nh này mang sắc thái biểu cảm dương tính, thân thiết, gắn bó được dùng ở ca dao và văn thơ cổ.
IV- Từ địa phương :
1- Khái niệm
:
Từ địa phương là lớp từ được dùng chủ yếu trong phong cách khẩu ngữ ở các địa phương. Ở các phong cách ngôn ngữ khác không nên dùng từ địa phương v́ nó có thể gây khó khăn cho sự thông hiểu liên tục khi giao tiếp .
2- Giá trị sử dụng :
- Từ địa phương được xem như một lớp từ ngữ mới góp phần làm phong phú vốn ngôn ngữ toàn dân.
- Trong PCVC, để phản ánh sắc thái địa phương , nhất là để biểu hiện tính cách địa phương của nhân vật, người viết có thể sử dụng từ địa phương trong một mức độ nhất định nhằm :
*Bổ sung cho từ toàn dân trong trường hợp vốn từ toàn dân thiếu phương tiện miêu tả thật đúng đối tượng mà nhà văn định biểu hiện. Ví dụ: Có nhà viên ngoại họ Vương
Gia tư nghỉ cũng thường thường bậc trung ( Truyện Kiều - Nguyễn Du)
* Nhấn mạnh về tính chất riêng biệt về khu vực, địa bàn của hiện tượng hoặc nhân vật được miêu tả. Chúng tôi đi nhớ nhất câu ni Dân chúng cầm tay lắc lắc: -Độc lập nhớ rẽ viền chơi ví chắc! ( Nhớ- Hồng Nguyên)
* Tạo nên sự hoà hợp, đồng cảm giữa tác giả và nhân vật. Ví dụ: Răng không cô gái trên sông Ngày mai cô sẽ từ trong tới ngoài.
( Tiếng hát sông Huơng- Tố Hữu)
V- Từ lịch sử :
1- Khái niệm
:
Từ lịch sử là lớp từ dùng để biểu thị những sự vật hoặc những khái niệm xưa. Lớp từ này mang màu sắc lịch sử và đôi khi được dùng trong văn chương hiện đại. Ví dụ: Trẫm, bề tôi, Thăng Long, Đông Đô, toàn quyền, khâm sai, lư trưởng, tri phủ... 2- Đặc điểm tu từ:
2.1- Màu sắc phong cách :
Lớp từ này ngày nay chỉ được dùng trong PC khoa học và PC văn chương.
2.2- Sắc thái biểu cảm:
Tuỳ vào nội dung biểu đạt và đối tượng, sự vật được đề cập mà người ta chia lớp từ này ra làm hai loại: từ lịch sử có sắc thái biểu cảm dương tính và từ lịch sử có sắc thái biểu cảm âm tính.
2.3- Giá trị sử dụng: Từ lịch sử nói chung không c̣n được dùng trong các phong cách ngôn ngữ tiếng Việt hiện đại nhưng đôi khi cần thiết cho nói, viết về quá khứ. Nó có tác dụng gợi lên không khí xa xưa, gợi lên sự vật và quan niệm xa xưa. V́ vậy, lớp từ này ngày nay chỉ c̣n dùng trong PCVC và PC khoa học.
*Bài tập thực hành :
1- Phân tích sự đối lập về đặc điểm tu từ của lớp từ Hán Việt và từ thuần Việt trong những ví dụ sau :
a- Sư ông đỏ mặt ấp úng :
- Bẩm ngài, đi hát cô đầu cũng chỉ là di dưỡng tinh thần, v́ đó là thuộc kinh nhạc trong tứ thư ngũ kinh của đức Khổng . Tăng ni chúng tôi mà có đi hát th́ cũng không bao giờ phạm đến sắc giới, v́ chúng tôi chỉ hát chay thôi chứ không khi nào ngủ lại cả đêm ở nhà chị em... Vả lại... đến pháp luật của chính phủ bảo hộ cũng bênh vực cho sư đi hát nữa là ! Đấy ngài xem, anh chủ cái báo ǵ ấy dám công kích sư đi hát mà bần tăng kiện tại toà cho phải thua hộc máu mồm ra đấy . ( Vũ Trọng Phụng )
b- Thăng Long thành hoài cổ
Tạo hoá gây chi cuộc hí trường
Đến nay thấm thoát mấy tinh sương Dấu xưa xe ngựa hồn thu thảo Thành cũ lâu đài bóng tịch dương Đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt Nước c̣n cau mặt với tang thương Ngh́n năm gương cũ soi kim cổ Cảnh đấy người đây luống đoạn trường . ( Bà huyện Thanh Quan )
2- Phân tích đặc điểm tu từ của những từ xưng hô trong các câu thơ sau :
Ḿnh về với Bác đường xuôi
Thưa dùm Việt Bắc không nguôi nhớ người
Nhớ ông Cụ mắt sáng ngời
Aïo nâu túi vải đẹp tươi lạ thường ( Tố Hữu )
3- Từ địa phương được dùng trong các phong cách chức năng ngôn ngữ nào? Giải thích .
4-
Thừa một con th́ có !
Tránh vỏ dưa gặp vỏ dừa
đứng núi này trông núi nọ
già kén kẹn hom, ghét của nào trời trao của ấy.
Chị nọ phận hẩm duyên ôi
kết tóc xe tơ với một anh chàng
mặt nạc đóm dày
xấu ma chê quỷ hờn lại đần độn ngốc nghếch
vô tâm vô tính
ruột để ngoài da
thiên lôi chỉ đâu đánh đấy
mười tám cũng ư mười tư cũng gật
học chẳng hay cày chẳng biết
lúng túng như thợ vụng mất kim
chỉ được cái Sáng tai họ điếc tai cày là giỏi .
Trăm dâu đổ đầu tằm
giỗ tết cúng bái trong nhà
công to việc lớn ngoài xóm
hai sương một nắng
tất bật quanh năm
một tay chị lo toan định liệu.
Anh chồng th́ như gà què ăn quẩn cối xay
lừ đừ như ông từ vào đền, như cổ máy không giật không động.
Giàu v́ bạn ,sang v́ vợ
hàng xóm láng giềng kháo nhau : Chàng ngốc thật là tốt số , mả táng hàm rồng, như mèo mù vớ cá rán. Chị vợ mỏng mày hay hạt, tháo vát đảm đang, hay lam hay làm, vớ phải chàng ngốc đành nước mắt ngắn nước mắt dài, đeo sầu nuốt tủi, ngậm bồ ḥn làm ngọt cho qua ngày đoạn tháng. Nhiều lúc tức bầm gan tím ruột, cực chẳng đă chị định liều ba bảy cũng liều, lành làm gáo, vỡ làm muôi, rồi anh đi đường anh, tôi đi đường tôi , cho thoát nợ. Nhưng gái có chồng như gông đeo cổ, chim vào lồng biết thuở nào ra, nên đành ngậm đắng nuốt cay, một điều nhịn chín điều lành, tốt đẹp phô ra xấu xa đậy lại, vợ chồng đóng cửa bảo nhau cho êm cửa ấm nhà, sao nỡ vạch áo cho người xem lưng, xấu chàng hổ ai ? Một hôm ngày lành tháng tốt, trời quang mây tạnh, giữa thanh thiên bạch nhật, chị vợ dỗ ngon, dỗ ngọt bảo chồng đi chợ mua ḅ, không quên dặn đi dặn lại: đến chợ phải tuỳ cơ liệu cơm gắp mắm, tiền trao cháo múc, đồng tiền phải liền khúc ruột kẻo lại mất cả ch́ lẫn chài. Được lời như cởi tấm ḷng, ngốc ta mở cờ trong bụng, gật đầu như búa máy, vội khăn gói quả mướp lên đường quyết phen này lập công chuộc tội. Bụng bảo dạ, phải đi đến nơi về đến chốn, một sự bất tín vạn sự bất tin, ngốc quàng chân lên cổ đi như chạy đến chợ. Chợ giữa phiên, người đông như kiến, áo quần như nêm, biết bao món ngon vật lạ, thèm rỏ dăi mà đánh nhắm mắt bước qua. Hai tay giữ bọc tiền khư khư như từ giữ oản, ngốc nuốt nước bọt bước đến băi bán ḅ. Sau một hồi bới lông t́m vết, c̣ kè bớt một thêm hai, nài lên ép xuống, cuối cùng ngốc cũng mua được sáu con ḅ. Thấy ḿnh cũng được việc, không đến nỗi ăn không ngồi rồi báo hại vợ con, ngốc mừng như được của. Hai năm rơ mười, ai dám bảo anh ăn như rồng cuốn, uống như rồng leo, làm như mèo mửa. Nghĩ vậy, ngốc ung dung leo lên lưng con ḅ đi đầu, mồm hô miệng hét diễu vơ giương oai lùa đàn ḅ ra về mà ḷng vui như hội. Giữa đường, sực nhớ lời vợ dặn, suy đi tính lại, cẩn tắc vô áy náy, ngốc quyết định đếm lại đàn ḅ cho chắc chắn. Ngoảnh trước ngó sau, đếm đi đếm lại, đếm tái, đếm hồi vẫn chỉ thấy có năm con, c̣n một con không cánh mà bay đâu mất. Toát mồ hôi, dựng tóc gáy, mặt cắt không c̣n giọt máu, ngốc ṿ đầu găi tai, sợ về nhà vợ mắng cho mất mặn mất nhạt, rồi bù lu bù loa kêu làng kêu nước mà than thân trách phận. Hồn vía lên mây, run như cầy sấy, ngốc về nhà với bộ mặt buồn thiu như đưa đám. Thấy chồng về, chị vợ tươi cười như hoa ra đón, nhưng ngốc vẫn ngồi như bụt mọc trên lưng con ḅ đi đầu, chắp tay lạy vợ như tế sao! - Ḿnh ơi! Tôi đánh mất ḅ! Xin ḿnh tha tội cho tôi... Nh́n chồng mặt như chàm đổ ḿnh dường giẽ run, chị vợ không khỏi lo vốn liếng đi đời nhà ma, liền rít lên như xé lụa: -Đồ ăn hại. Đàn ông mà trói gà không chặt. Làm sao lại để ḅ sổng? Sợ thót tim văi đái, nhưng ngốc vẫn lấy hết b́nh tĩnh để phân trần: -Tôi mua tất cả sáu con, họ cũng giao đủ sáu con, bây giờ đếm măi vẫn chỉ có năm con. Nh́n ngốc ta vẫn ngồi như đóng đinh trên lưng ḅ, chị vợ hiểu rơ đầu đuôi cơ sự, dở khóc dở cười bảo chồng: - Thôi xuống đi! Thiếu đâu mà thiếu, có mà thừa một con th́ có! Các phương tiện từ ngữ được dùng trong văn bản trên có ǵ đặc biệt ? Đặc điểm tu từ và giá trị sử dụng của chúng như thế nào trong các phong cách chức năng tiếng Việt.
B- Đặc điểm tu từ của các biện pháp tu từ từ vựng- ngữ nghĩa tiếng Việt .
B.1.Các biện pháp tu từ được cấu tạo theo quan hệ liên tưởng :
Đặc điểm chung của những biện pháp thuộc nhóm này là trong văn cảnh cụ thể, từ ngữ có hiện tượng chuyển đổi ư nghĩa lâm thời. Tức là, nghĩa của từ ngữ vốn biểu thị đối tượng này được lâm thời chuyển sang biểu thị đối tượng khác, dựa trên cơ sở của hai mối quan hệ liên tưởng : liên tưởng tương đồng và logic khách quan. Mặc dù so sánh không phải là hiện tượng chuyển nghĩa nhưng nó là cơ sở của nhiều biện pháp tu từ trong nhóm này.
I- So sánh :
1- Khái niệm
:
So sánh tu từ là cách công khai đối chiếu hai hay nhiều đối tượng có một nét tương đồng nào đó về h́nh thức bên ngoài hay tính chất bên trong để gợi ra h́nh ảnh cụ thể, những cảm xúc thẩm miî trong nhận thức của người đọc, người nghe. Ví dụ: Công cha như núi thái sơn Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra. ( Ca dao ) Cần phân biệt so sánh tu từ với so sánh luận lí. Dù đều là thao tác đối chiếu giữa hai hay nhiều đối tượng với nhau nhưng hai loại so sánh này lại có sự khác nhau về chất. Nếu so sánh tu từ là sự đối chiếu giữa các đối tượng khác loại th́ so sánh luận lí là sự đối chiếu giữa các đối tượng cùng loại. Nếu so sánh tu từ nhằm mục đích gợi lên một cách h́nh ảnh đặc điểm giữa các đối tượng từ đó tạo nên xúc cảm thẩm mĩ trong nhận thức của người tiếp nhận th́ so sánh luận lí đơn thuần chỉ cho ta thấy sự ngang bằng hay hơn kém giữa các đối tượng đấy mà thôi. Ví dụ : So sánh tu từ So sánh luận lí
- Đôi ta như cá ở đ́a Ngày ăn tản lạc, tối d́a ngủ chung - Đứt tay một chút chẳng đau Xa nhau một chút như dao cắt ḷng. - Khôi đă cao bằng mẹ. - Con hơn cha nhà có phúc. - Nam học giỏi như Bắc.
2- Cấu tạo:
2.1- H́nh thức:
Bao giờ cũng công khai phô bày hai vế :
- Vế so sánh
- Vế được so sánh. Ở dạng thức đầy đủ nhất, so sánh tu từ gồm có bốn yếu tố: Vế so sánh Cơ sở so sánh Từ so sánh Vế được so sánh
(1) (2) (3) (4)
Gái có chồng như gông đeo cổ
Ḷng ta vẫn vững như kiềng ba chân
Kẻ chài, người lưới biết vào tay ai? ( Ca dao) *A bao nhiêu B bấy nhiêu: Qua đ́nh ngả nón trông đ́nh Đ́nh bao nhiêu ngói thương ḿnh bấy nhiêu. ( Ca dao) * A là B : Em là gái trong song cửa Anh là mây bốn phương Anh theo cánh gió chơi vơi Em vẫn nằm trong nhung lụa. ( Một mùa đông -Lưu Trọng Lư) * A ( ẩn từ so sánh) B: Tấc đất, tấc vàng 2.2- Nội dung: Các đối tượng nằm trong hai vế là khác loại nhưng lại có nét tương đồng nào đó, tạo thành cơ sở cho so sánh tu từ. Nếu nét giống nhau này thể hiện ra cụ thể bằng từ ngữ ( cơ sở giống nhau) th́ ta có so sánh nổi; nếu nét giống nhau này không thể hiện ra cụ thể bằng từ ngữ th́ ta có so sánh ch́m.
3- Chức năng :
So sánh tu từ có hai chức năng là nhận thức và biểu cảm.Biện pháp tu từ này được vận dụng rộng răi trong nhiều phong cách khác nhau như :khẩu ngữ, chính luận, thông tấn, văn chương,...
II- Ẩn dụ tu từ : 
1- Khái niệm
:
Ẩn dụ là cách lâm thời lấy tên gọi biểu thị đối tượng này để chỉ đối tượng kia dựa vào nét tương đồng giữa hai đối tượng. Ví dụ:
Tưởng nước giếng sâu nối sợi dây dài
Ai ngờ giếng cạn tiếc hoài sợi dây. ( Ca dao )
2- Cấu tạo:
2.1- H́nh thức:
Ẩn dụ tu từ chỉ phô bày một đối tượng- đối tượng dùng để biểu thị- c̣n đối tượng định nói đến- được biểu thị- th́ dấu đi, ẩn đi, không phô ra như so sánh tu từ.
2.2- Nội dung:
Ẩn dụ tu từ cũng giống như so sánh tu từ (do đó người ta c̣n gọi là so sánh ngầm), nghĩa là cần phải liên tưởng rút ra nét tương đồng giữa hai đối tượng. Những mối quan hệ liên tưởng tương đồng thường được dùng để cấu tạo ẩn dụ tu từ là: tương đồng về màu sắc, tương đồng về tính chất, tương đồng về trạng thái, tương đồng về hành động, tương đồng về cơ cấu...
3- Chức năng :
Ẩn dụ tu từ có hai chức năng: biểu cảm và nhận thức. Biện pháp tu từ này cũng được dùng rộng răi trong các PCCN tiếng Việt.
III- Nhân hoá :
1- Khái niệm:
Nhân hoá là một biến thể của ẩn dụ tu từ, trong đó người ta lấy những từ ngữ biểu thị những thuộc tính, hoạt động của người dùng để biểu thị hoạt động của đối tượng khác loại dựa trên nét tương đồng về thuộc tính, về hoaüt động giữa người và đối tượng không phải là người. Ví dụ: Những chị luá phất phơ bím tóc
Những cây tre bá vai nhau th́ thầm đứng học Đàn c̣ trắng Khiêng nắng qua sông. ( Trần Đăng Khoa )
2- Cấu tạo :
2.1- H́nh thức:
-Dùng những từ chỉ tính chất, hoạt động của người để biểu thị những tính chất, hoạt động của đối tượng không phải là người. Ví dụ:
Đây những tháp gầy ṃn v́ mong đợi
Những đền xưa đổ nát dưới thời gian
Những sông vắng lê ḿnh trong bóng tối
Những tượng đài lở lói rỉ rên than. ( Chế Lan Viên)
- Xem đối tượng không phải là người như con người để tâm t́nh tṛ chuyện. Ví dụ:
Đêm nằm than thở, thở than
Gối ơi hỡi gối, bạn lan đâu rồi? ( Ca dao)
2.2- Nội dung:
Dựa trên sự liên tưởng nhằm phát hiện ra nét giống nhau giữa đối tượng không phải là người và người.
3- Chức năng:
Nhân hoá có hai chức năng: nhận thức và biểu cảm.Nhân hoá được dùng rộng răi trong các phong cách : khẩu ngữ, chính luận,văn chương. Ngoài ra c̣n có biện pháp vật hoá. Đó là cách dùng các từ ngữ chỉ thuộc tính, hoạt động của loài vật, đồ vật sang chỉ những thuộc tính và hoạt động của con người. Biện pháp này thường được dùng trong khẩu ngữ và trong văn thơ châm biếm. Ví dụ:
Gái chính chuyên lấy được chín chồng
Vo viên bỏ lọ gánh gồng đi chơi,
Ai ngờ quang đứt lọ rơi
Ḅ ra lổm ngổm chín nơi chín chồng. ( Ca dao)