THÔNG BÁO

  THỜI GIAN GẦN ĐÂY MỘT SỐ BẠN LỢI DỤNG  WEBSITE NÀY ĐỂ ĐƯA RA NHỮNG PHÁT NGÔN KHÔNG TỐT. CHO NÊN CHÚNG TÔI TẠM THỜI ĐÓNG WEBSITE LẠI ĐỂ NÂNG CẤP NHẰM HẠN CHẾ MỘT SỐ HÀNH VI KHÔNG TỐT LÀM ẢNH HƯỞNG ĐẾN DIỄN ĐÀN .CÁC BẠN CÓ THẮC MẮC XIN LIÊN HỆ : phanthanhhung90@gmail.com
Chương 4.
CỐT TRUYỆN VÀ KẾT CẤU CỦA TÁC PHẨM VĂN HỌC.
Cốt truyện không phải là yếu tố tất yếu cho mọi loại tác phẩm văn học mà chỉ tồn tại trong những tác phẩm thuộc loại tự sự (tiểu thuyết, truyện vừa, truyện ngắn, truyện thơ...), kí và các tác phẩm kịch. Trong một số tác phẩm thuộc loại kí, không có yêu cầu xây dựng cốt truyện một cách chặt chẽ. Loại tác phẩm trữ t́nh không có yếu tố cốt truyện v́ tác phẩm trữ t́nh chủ yếu thể hiện trực tiếp tâm trạng, t́nh cảm, ư nghĩ cảm xúc...của tác giả, nó không đ̣i hỏi nhà văn phải xây dựng những sự kiện, biến cố, hành động thành một hệ thống liên tục làm cơ sở cho sự triển khai các tính cách.
I. CỐT TRUYỆN
1. Cốt truyện và cơ sở của cốt trụyên
1.1.1. Khái niệm chung.
Cốt truyện là một hệ thống cụ thể những sự kiện, biến cố, hành động trong tác phẩm tự sự và tác phẩm kịch thể hiện mối quan hệ qua lại giữa các tính cách trong một hoàn cảnh xă hội nhất định nhằm thể hiện chủ đề tư tưởng của tác phẩm. Cần phân biệt 2 khái niệm: cốt truyện và sườn truyện. Thuật ngữ sườn truyện dùng để chỉ những nét bao quát nhất của một câu chuyện, bao gồm những sự kiện chính, những biến cố chủ yếu cắm mốc cho sự phát triển của cốt truyện. Nó có thể được vay mượn từ nước này sang nước khác, từ nhà văn này sang nhà văn khác trong quá tŕnh giao lưu văn hóa. Dĩ nhiên sự mô phỏng sườn truyện không có nghĩa là sao chép của người khác mà vẫn có một khoảng rộng răi cho sáng tạo của người nghệ sĩ. Việc Nguyễn Du vay mượn sườn truyện "Kim Vân Kiều truyện" của Thanh Tâm Tài Nhân là một ví dụ cụ thể. Sự sáng tạo ấy được thể hiện trên nhiều phương diện, từ thể loại, kết cấu, ngôn ngữ, đến việc xây dựng nhân vật và chủ đề tư tưởng của tác phẩm. Cũng có thể nói như vậy giữa Iphighêni của Euripidơ và Iphighêni của Racine, giữa Le Cid của De Catro và Le Cid của Corneille. -Nếu sườn truyện chỉ là cái khung th́ cốt truyện đă là một hệ thống biến cố, sự kiện cụ thể để diễn đạt cái khung ấy. Cốt truyện là sườn truyện đă được chi tiết hóa, h́nh tượng hóa một cách cụ thể, sinh động qua một chủ thể sáng tạo. Có thể nói cốt truyện là một cái ǵ độc đáo, không lặp lại, gắn bó trực tiếp với những yếu tố khác làm cho tác phẩm văn học trở thành một chỉnh thể nghệ thuật. Có thể kể lại sườn truyện một cách dễ dàng nhưng khó có thể kể lại đầy đủ cốt truyện của một tác phẩm, nhất là một tác phẩm lớn. Khi có người đề nghị kể lại cốt truyện của một tác phẩm, L Tônxtôi cho rằng cứ đọc toàn bộ tác phẩm sẽ khắc biết cốt truyện là ǵ. 1.1.2. Cơ sở chung của cốt truyện.
- Cơ sở khách quan. Đó là xung đột xă hội. Trong quá tŕnh xây dựng tác phẩm, nhà văn bao giờ cũng thể hiện trực tiếp hoặc gián tiếp những xung đột xă hội của thời đại vào tác phẩm của ḿnh. V́ vậy, cốt truyện mang tính lịch sử cụ thể, được qui định bởi những điều kiện lịch sử, xă hội mà nhà văn đang sống. Chính những điều kiện lịch sử, xă hội khác nhau đă tạo nên sự khác nhau giữa các cốt truyện trong thần thoại và cổ tích, giữa những truyện thơ Nôm và văn học hiện đại...Dostoiepxki nhấn mạnh vai tṛ của cuộc sống trong việc xây dựng cốt truyện : "Anh hăy nhớ lấy lời tôi: đừng bao giờ bịa ra các cốt truyện. anh hăy lấy những cái do bản thân cuộc sống cung cấp. Không một trí tưởng tượng nào nghĩ ra được những điều mà đôi khi cuộc sống b́nh thường quên thuộc nhất đưa lại. Hăy tôn trọng cuộc sống." Không nên tuyệt đối hóa ư kiến của Dostoiepxki nhưng rơ ràng trong đời sống văn học, nhất là trong văn học của các trào lưu hiện thực, nhiều cốt truyện đă được xây dựng từ chính những câu chuyện ngoài cuộc đời. Cốt truyện của những tác phẩm Bà Bovary của Flobert, Đỏ và đen của Standhal. Nhiều cốt truyện của Tsêkhôp, L. Tônxtôi, Dostoiepxki ...thường dựa vào những câu chuyện có thật ngoài cuộc đời và trên báo chí...Ở Việt Nam, ta có thể kể đến cốt truyện của các tác phẩm Đào kép mới của Nguyễn Công Hoan, Chí phèo của Nam Cao, Đất nước đứng lên của Nguyên Ngọc, Ḥn Đất của Anh Đức, Người mẹ cầm súng của Nguyễn Thi...
- Cơ sở chủ quan. Xung đột xă hội mới chỉ là cơ sở khách quan của cốt truyện v́ vậy không thể đồng nhất xung đột xă hội với cốt truyện. Khi nói đến cốt truyện, cần chú ư rằng, đó luôn luôn là sản phẩm sáng tạo của người nghệ sĩ. Thông qua cốt truyện, nhà văn vừa khái quát những xung đột xă hội, vừa thể hiện tâm hồn, t́nh cảm và sự đánh giá chủ quan của họ đối với cuộc sống. V́ vậy, không thể bê nguyên xi những chuyện có thật ngoài cuộc đời vào tác phẩm. Những xung đột xă hội phải được đồng hóa một cách có nghệ thuật nhằm loại trừ những yếu tố ngẫu nhiên, thứ yếu để xây dựng cốt truyện theo hướng điển h́nh hóa. V́ vậy, cùng xuất phát từ một xung đột xă hội giống nhau, những nhà văn khác nhau lại xây dựng những cốt truyện khác nhau nhằm thể hiện quan điểm, thái độ, ư đồ tư tưởng, phong cách nghệ thuật, cá tính sáng tạo của nhà văn đối với cuộc sống. Những xung đột xă hội giữa nông dân, địa chủ, quan lại được thể hiện qua nhiều cốt truyện khác nhau trong các tác phẩm của các nhà văn Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Nam Cao, Nguyên Hồng ...là những thí dụ cụ thể. Quá tŕnh xây dựng cốt truyện là một quá tŕnh lao động phức tạp và gian khổ. Timôfiép có nhận xét về quá tŕnh xây dựng cốt truyện của L. Tônxtôi như sau: "Tất cả các cốt truyện của Tônxtôi đều được thai nghén nhiều năm và mỗi cốt truyện đều có một lai lịch phức tạp và một số phận riêng của nó. Tônxtôi lo lắng về các cốt truyện, giận dỗi đối với chúng như người sống vậy, đôi khi ông chán, mệt mỗi v́ chúng, v́ sự vật lộn với tài liệu và ngôn từ để không ngừng hoàn thiện từng cốt truyện, từng tác phẩm. Trong đầu óc thiên tài của ông, trong các pḥng thí nghiệm tuyệt diệu ấy, bao giờ cũng có nhiều cốt truyện luôn luôn sống và vật chọi với nhau, làm cho ông phải lần lượt chú ư tới chúng lúc nhiều hơn, lúc ít hơn".
2. Vai tṛ của cốt truyện và tính cách nhân vật qua các giai đoạn lịch sử văn học.
Vai tṛ của cốt truyện và tính cách nhân vật được thể hiện khác nhau trong quá tŕnh phát triển của lịch sử văn học. Nh́n chung, có thể chia làm 2 thời ḱ lớn. Trong văn học phương Tây, thời ḱ đầu bao gồm văn học Hy La đến văn học Trung đại. Thời ḱ 2 đánh dấu bằng văn học thời phục hưng nhưng được thể hiện rơ nét nhất là từ thế kỉ 18 trở về sau. Trong văn học Việt Nam, Truyện Kiều của Nguyễn Du được coi là tác phẩm của thời ḱ đầu nhưng đồng thời cũng có những yếu tố đánh dấu cho sự mở đường của thời ḱ sau. Thời ḱ này chỉ thực sự mở đầu từ thế kỉ 20.
2.1. Trong thời ḱ thứ nhất.
Cốt truyện được coi là yếu tố đặc biệt quan trọng, là nơi xuất phát và quyết định của sự sáng tạo nghệ thuật. Nhà văn sáng tác là sáng tác cốt truyện và người thưởng thức chủ yếu là thưởng thức cốt truyện. Nhà văn chưa thể sáng tác được nếu chưa có được một cốt truyện hấp dẫn. Ơí đây, cốt truyện qui định và chi phối tính cách. Nhà văn chưa xây dựng được tính cách có sự phát triển hợp với logic đời sống mà chỉ dùng nó để triển khai cho hệ thống biến cố của tác phẩm.
2.2. Trong thời ḱ thứ hai.
Vai tṛ của cốt truyện và tính cách hoàn toàn thay đổi. Cốt truyện không c̣n giữ vai tṛ chủ yếu mà thay vào đó là tính cách. Chính tính cách quyết định cho sự diễn biến của cốt truyện. trong Một số kinh nghiệm viết văn của tôi, Tô Hoài viết: "Một sáng tác mà ta có thể thêm vào hay bớt ra bao nhiêu cũng được là một sáng tác hỏng. V́ không thể nào kiểm tra chặt chẽ được khi vị trí của nhân vật đă phải rút xuống hàng dưới cốt truyện. chỉ có nhân vật mới kiểm tra được cốt truyện, nhân vật mới có quyền phân phối ư chính, ư phụ.". Phêđin cũng có phát biểu tương tự: "Trong việc xây dựng cốt truyện, nên xuất phát từ tính cách. Các nhân vật tạo ra cốt truyện chứ không phục tùng cốt truyện". Trong quá tŕnh xây dựng tác phẩm, những nhà văn trong thời ḱ này thường đặt tính cách vào hoàn cảnh nên tính cách phong phú, đa dạng và luôn phát triển theo sự phát triển của hoàn cảnh. Nhà văn không ép nhân vật vào cốt truyện định trước của ḿnh. Tônxtôi kể lại rằng khi viết chương miêu tả tâm trạng của Vrônxki sau cuộc gặp gỡ giữa anh với Anna và chồng nàng, ông bỗng nảy ra ư định là Vrônxki phải tự sát. Và sau đó khi viết tiếp, tác giả thấy điều dó là tất yếu, không thể khác đi được. Rơ ràng những thay đổi về số phận của nhân vật sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến cốt truyện của tác phẩm. Như vậy, trong văn học hiện đại, cốt truyện là phương tiện để bộc lộ tính cách, cốt truyện được sử dụng để triển khai các tính cách chứ không phải cốt truyện quyết định và chi phối tính cách như trước kia. Nói như thế không có nghĩa là xem thường vai tṛ của cốt truyện v́ tính cách chỉ có thể được biểu hiện và phát triển thông qua cốt truyện. Trong quá tŕnh sáng tạo nghệ thuật, các nhà văn luôn cố gắng xây dựng những cốt truyện chân thực và hấp dẫn đồng thời thể hiện được chiều sâu tâm lí của tính cách nhân vật.
3. Các thành phần chính của cốt truyện.
Cơ sở sâu xa của cốt truyện là một xung đột đang vận động. V́ vậy, quá tŕnh phát triển của một cốt truyện cũng giống như quá tŕnh vận động của xung đột, bao gồm các bước h́nh thành, phát triển và kết thúc. Nh́n chung, một cốt truyện thường có các thành phần chính sau:
3.1. Phần tŕnh bày.
Phần này giới thiệu khái quát về bối cảnh xă hội, các điều kiện, nguyên nhân làm náy sinh xung đột và t́nh h́nh buổi ban đầu của nhân vật. Hoàn cảnh ở đây thường nằm trong trạng thái tĩnh, mâu thuẫn chưa vận động và phát triển, nhân vật chưa đứng trước những thử thách nên chưa phát hu tính năng động của ḿnh. Trong Truyện Kiều, phần tŕnh bày là phần giới thiệu tài sắc của chị em Thúy Kiều và gia cảnh của họ. Cảnh Lí trưởng sai Trương tuần đóng cổng làng để thu thuế, cảnh thu thuế ở đ́nh làng, cảnh nghèo đói túng thiếu của gia đ́nh chị Dậu là phần giới thiệu của Tắt đèn.
3.2. Phần thắt nút.
Phần này đánh dấu sự kiện mà từ đó phát sinh mâu thuẫn, xung đột. Đây chính là biến cố đầu tiên của cả hệ thống biến cố tạo thành xung đột của cốt truyện. phần thắt nút có nhiệm vụ bộc lộ trực tiếp những mâu thuẫn đựơc tích tụ một cách âm ỉ từ trước, các nhân vật sẽ đứng trước những thử thách, đ̣i hỏi phải bày tỏ những thái độ, chọn lựa cách xử sự, hành động, phản ứng, từ đó bộc lộ rơ tính cách. Cảnh gia biến và việc Kiều phải bán ḿnh chuộc cha là phần thắt nút của Truyện Kiều. Thắt nút của Tắt đèn là cảnh tuần đinh, lính lệ đến đánh đập anh Dậu để đ̣i sưu thuế (chương IV)
3.3. Phần phát triển.
Đây là phần quan trọng và dài nhất của cốt truyện bao gồm nhiều cảnh ngộ, sự kiện và biến cố khác nhau. tính cách nhân vật chủ yếu được xác định trong phần này. Nó có thể được thay đổi thông qua các bước ngoặt, môi trường khác nhau. phần phát triển của Truyện Kiều là cuộc đời 15 năm lưu lạc, từ "chữ trinh đáng gíá ngh́n vàng" đến "tấm ḷng trinh bạch từ nay xin chừa", là những chuỗi dài bi kịch "thanh lâu hai lượt thanh y hai lần", là sự tiếp xúc với đủ các hạng người trong xă hội, là nỗi đau khổ này đến nỗi đau khổ khác của Kiều. Trong Tắt đèn, phần phát triển bao gồm những sự kiện: đàn con bị đói, chồng bị bắt, chị Dậu một ḿnh tất tả ngược xuôi cho đến lúc người nhà lí trưởng ném cái xác lạnh ngắt, mê man bất tỉnh của anh Dậu vào nhà. (từ chương V - XVII)
3.4. Điểm đỉnh.
C̣n được gọi là cao trào, là phần bộc lộ cao nhất của xung đột. Lúc này, xung đột đă phát triển đến độ gay gắt, quyết liệt, đ̣i hỏi phải được giải quyết theo một chiều hướng nhất định. Điểm đỉnh thường là một khoảnh khắc, một thời điểm ngắn nhưng có tác dụng quyết định đối với nhân vật trung tâm. Điểm đỉnh của Truyện Kiều là khoảnh khắc đau xót nhất của đời Kiều: Từ Hải chết, Kiều phải đánh đàn cho Hồ Tôn Hiến, bị ép gă cho thổ quan và cuối cùng nhảy xuống sông Tiền Đường tự vẫn. Điểm đỉnh của Tắt đèn là lúc chị Dậu bị dồn vào đường cùng đă xô tên Cai Lệ và túm tên ngườn nhà của Lí trưởng "lẳng một cái, ngă nhào ra thềm" (chương XVIII)
3.5. Phần kết thúc.(Mở nút)
Đây là phần giải quyết xung đột của tác phẩm một cách cụ thể. Ởí đây, tác giả tŕnh bày những kết quả của toàn bộ xung đột của cốt truyện. một cốt truyện tốt, bao giờ phần kết thúc cũng được giải quyết một cách tự nhiên, phù hợp với qui luật của cuộc sống. Tuy nhiên trong văn học cổ thường có phần kết thúc phù hợp với ước muốn chủ quan của con người. Phần kết thúc của Truyện Kiều là Kiều được cứu sống, là đoạn đoàn viên của Kiều với Kim Trọng và gia đ́nh sau 15 năm luân lạc. Trong Tắt đèn, chị Dậu từ lúc bị bắt lên hầu quan phủ, sau đó phải xa chồng, xa con để đi làm vú hầu cụ cố nhà quan Tỉnh, đến lúc chị choàng dậy mở cửa chạy té ra sân "Trời tối đen như mực, như cái tiền đồ của chị" là phần kết thúc của tác phẩm. (chương XIX- XXVI) Những thành phần chính trên đây tạo thành một cốt truyện đầy đủ. Tuy nhiên, trong thực tế văn học, không phải lúc nào cốt truyện cũng đầy đủ cả 5 thành phần đồng thời cũng không phải được tŕnh bày theo thứ tự như trên. Ơí một số cốt truyện, có thể thiếu mất một vài thành phần, ở một số cốt truyện khác, có thể không có phần mở đầu hoặc nhiều khi lại bắt đầu bằng phần kết thúc hoặc một biến cố gần với điểm đỉnh. V́ vậy, khi t́m hiểu và xác định các thành phần của cốt truyện, không nên g̣ ép những biến cố hay sự kiện vào thành phần này hay thành phần khác với những lí do có tính chất h́nh thức. Cần t́m hiểu và phân tích sự xây dựng cốt truyện có thể hiện được những xung đột xă hội, sự phát triển của nó có phù hợp với qui luật cuộc sống và có thể hiện được ư đồ nghệ thuật của tác giả hay không.
II. KẾT CẤU
1. Kết cấu và chức năng của kết cấu trong tác phẩm văn học.
1.1. Khái niệm.
Một tác phẩm văn học, dù dung lượng lớn hay nhỏ cũng đều là những chỉnh thể nghệ thuật, bao gồm nhiều yếu tố, bộ phận...Tất cả những yếu tố, bộ phận đó được nhà văn sắp xếp, tổ chức theo một trật tự, hệ thống nào đó nhằm biểu hiện một nội dung nghệ thuật nhất định..gọi là kết cấu. Nói cách khác, kết cấu là toàn bộ tổ chức nghệ thuật sinh động, phức tạp của tác phẩm văn học. Kết cấu là yếu tố tất yếu của mọi tác phẩm. Nếu khái niệm cốt truyện nhằm chỉ sự liên kết những sự kiện, hành động, biến cố...trong tác phẩm tự sự và kịch th́ kết cấu là một khái niệm rộng hơn nhiều. Cần có sự phân biệt giữa kết cấu và bố cục. Bố cục là sự sắp xếp các phần, các chương, các đoạn, các khổ thơ...Đây chỉ là sự tổ chức h́nh thức bên ngoài của tác phẩm. Nói cách khác bố cục mới chỉ là kết cấu bề mặt của tác phẩm. Thuật ngữ kết cấu rộng và phức tạp hơn nhiều. Bên cạnh việc tổ chức, sắp xếp các yếu tố của tác phẩm, kết cấu c̣n bao hàm sự liên kết bên trong, những mối liên hệ qua lại giữa các yếu tố thuộc về nội dung và h́nh thức của tác phẩm, trong đó có cả yếu tố của bố cục.
1.2. Chức năng của kết cấu.
Trước hết, kết cấu có nhiệm vụ góp phần thể hiện chủ đề và tư tưởng của tác phẩm. Trong lao động sáng tạo văn học, có thể coi chủ đề tư tưởng là mục tiêu nhằm hướng tới của nhà văn trong quá tŕnh phát hiện và xây dựng kết cấu. Tiêu chuẩn cao nhất để đánh giá kết cấu một tác phẩm chính là hiệu quả diễn đạt nội dung của nó. Khi Radinxki cho rằng kết cấu của tiểu thuyết Anna Karênina lỏng lẻo, đó là hai cuốn tiểu thuyết với hai tuyến nhân vật (Anna- Vrônxki và Lêvin-Kitti) đứng cạnh nhau, th́ L. Tônxtôi đă viết thư trả lời ông: "Ngược lại, tôi tự hào với cách kết cấu: các ṿm đă được xây dựng thế nào mà không thể nhận ra được bộ đỡ ở đâu. Chính điều này làm cho tôi phải cố gắng nhiều nhất. Mối liên hệ của công tŕnh xây dựng không dựa và sườn truyện và những mối quan hệ của các nhân vật, mà dựa vào mối liên hệ bên trong". Phan Cự Đệ khẳng định mối liên hệ bên trong "chính là tư tưởng chủ đề của tác phẩm. Những t́m kiếm của Levin là một lời giải đáp cho những câu hỏi mà số phận của Anna đặt ra. Anna phải li dị với chồng và sau đó phải tự vẫn v́ không t́m thấy trong xă hội một t́nh yêu chân chính c̣n Lêvin th́ đi t́m một con đường xác lập một thực tế có t́nh yêu. Anna thấy gia đ́nh là một cái ǵ xa lạ đối với con người th́ Lêvin cố gắng đi t́m một gia đ́nh thực sự trong đó có t́nh thương yêu giữa con người với con người" Trong tác phẩm Tắt đèn, Ngô Tất Tố đă dành 2/3 tác phẩm để diễn tả hàng loạt sự việc diễn ra trong 1 ngày. Tác giả đă cố gắng dồn nén tất cả những mâu thuẫn vào trong một thời gian thật ngắn nhằm có điều kiện thể hiện một cách tập trung nhất bản chất của bọn địa chủ, quan lại và nỗi điêu đứng, cơ cực, đau xót của người nông dân đối với sưu cao, thuế nặng. Trong bài thơ Mặt quê hương, Tế Hanh đă sắp xếp để tạo nên sự ḥa nhập và phản ánh, so sánh lẫn nhau giữa khuôn mặt người yêu và h́nh ảnh quê hương nhằm thể hiện một chủ đề tư tưởng: T́nh yêu dành cho quê hương là một t́nh yêu đằm thắm, bền vững như một cái ǵ gắn bó, thân thiết nhất: Mặt em như tấm gương, Anh nh́n thất quê hương Ḱa đôi mắt đôi mắt Ḍng sông yêu trong vắt Ḱa vừng trán thanh thanh Khoảng trời xưa trong lành... Kết cấu có nhiệm vụ tổ chức hệ thống các tính cách nhân vật, sự kiện, các biến cố, h́nh ảnh, cảm xúc...làm cho những yếu tố đó gắn bó chặt chẽ, tác động qua lại ngay từ bên trong tác phẩm, làm cho nó trở thành một chỉnh thể nghệ thuật toàn vẹn không thể chia cắt được. Trong đời sống văn học, đôi khi có người cho rằng một số tác phẩm có chủ đề tư tưởng tốt nhưng tác phẩm vẫn chưa được cảm nhận như một chỉnh thể nghệ thuật. Điều này có thể do nhiều nguyên nhân nhưng một phần quan trọng là do kết cấu. Việc nhà văn sắp xếp các t́nh huống, sự kiện, mối liên hệ qua lại giữa các tính cách, sự tác động giữa bộ phận và toàn thể...không phải đơn giản. Gônsarôp cho rằng "Chỉ riêng một cách cấu tạo, tức là việc xây dựng ṭa nhà cũng đă ngốn hết toàn bộ trí óc của tác giả: Phải suy nghĩ cân nhắc về sự tham gia của các nhân vật, kèm theo vào đó là phải luôn luôn kiểm tra và phê phán sự bất hợp lí của những chỗ thiếu, cả những chỗ thừa". Có thể nh́n thấy sự tác động qua lại giữa các yếu tố trong tác phẩm văn học qua "Suất sưu người chết" trong Tắt đèn của Ngô Tất Tố. Những chi tiết của đoạn văn trên có ư nghia tự thân nhưng đồng thời nếu thay đổi vị trí của nó, để nó xuất hiện ngay từ đầu truyện và chị Dậu cùng một lúc chạy vạy cho đủ tiền để nộp suất sưu th́ ư nghĩa tố cáo của nó sẽ không cao. Sự sắp xếp đúng chỗ đă tạo nên sức mạnh gấp nhiều lần ư nghĩa riêng của nó. Kim Thánh Thán cũng có nhận xét rất tinh về sự sắp xếp hệ thống nhân vật trong Thủy hử : "Một bộ sách lớn 70 hồi, viết 108 người nhưng mở đầu chưa viết 108 người vội mà miêu tả Cao Cầu trước đă: đó là v́ nếu không tả Cao Cầu trước mà viết ngay 108 người th́ tức là loạn nẩy sinh từ dưới, nếu không viết 108 người trước mà viết Cao Cầu trước th́ tức là loạn nổi từ trên. Loạn sinh từ dưới th́ không thể để lâu được, tác giả rất lo là vậy. Một bộ sách lớn 70 hồi mà mở đầu viết Cao Cầu trước, thật là có lí vậy." Như vậy, kết cấu của tác phẩm bao giờ cũng tăng cường sức mạnh nghệ thuật của tác phẩm văn học, tạo nên sức hấp dẫn cho người đọc. Phân tích kết cấu tác phẩm, người đọc có thể so sánh nó với các h́nh thức, thủ pháp kết cấu chung nhưng điều quan trọng là phải xuất phát từ bản thân tác phẩm và xem nó có thể hiện tốt nhất chủ đề tư tưởng của tác phẩm hay không.
2. Một số h́nh thức kết cấu trong tác phẩm văn học.
Những h́nh thức kết cấu trong tác phẩm văn học rất phong phú và đa dạng. Nó có thể chịu sự qui định của thể loại (kết cấu tác phẩm tự sự và kịch với kết cấu tác phẩm trữ t́nh) của từng giai đoạn lịch sử khác nhau (có những h́nh thức kết cấu chỉ tồn tại trong một giai đoạn lịch sử nhưng sau đó lại bị loại bỏ hoặc ít sử dụng và thay vào đó là một kết cấu mới phù hợp với giai đoạn lịch sử mới)... V́ vậy, khó có thể xác định những h́nh thức kết cấu nếu thoát li thực tế sáng tác. Tuy nhiên, ở đây có thể t́m hiểu một số h́nh thức kết cấu đă từng xuất hiện trong lịch sử văn học và đă tạo nên nhiều tác phẩm có giá trị.
2.1. Kết cấu theo tŕnh tự thời gian.
Đây là dạng kết cấu phổ biến nhất trong văn học Việt Nam từ trước 1930. Theo kết cấu này, câu chuyện được tŕnh bày theo thứ tự, phát triển trước sau của thời gian. Các sự kiện được sắp xếp, xâu chuỗi lại và lần lượt xuất hiện không bị đứt quăng. Hầu hết những tác phẩm chương hồi sử dụng lối kết cấu này. Ơí đây, tác phẩm được chia thành nhiều chương, hồi théo sự phân bố về mặt hành động và sự kiện của cốt truyện. Mỗi chương, mỗi hồi thường gắn liền với một giai đoạn nào đó của cốt truyện và nhiêu khi khá trọn ven, loại kết cấu này gíup người đọc dễ theo dơi câu chuyện nhưng nhiều khi lại đơn điệu.
2.2. Kết cấu theo hai tuyến nhân vật đối lập.
Lối kết cấu này được sử dụng nhiều trong văn học cổ. Nhà văn xây dựng 2 tuyến nhân vật chính diện và phản diện đối lập nhau về lí tưởng, chính kiến, đạo đức, hành động...Một bên đại diện cho lực lượng chính nghĩa, cái đẹp, chân lí. Một bên th́ ngược lại. Hai lực lượng này đấu tranh không khoan nhượng với nhau và thường kết thúc với thắng lợi của lực lượng chính nghĩa. Hầu hết những truyện thơ Nôm ở Việt Nam sử dụng kết cấu này. Kết cấu này có tác dụng làm nổi rơ chủ đề tư tưởng thông qua so sánh, đối chiếu giữa 2 tuyến nhân vật đối lập. Tuy nhiên sự phân biệt khá rạch ṛi giữa thiện và ác nhiều khi dẫn đến lí tưởng hóa hiện thực. Trong thực tế cuộc sống, các lực lượng xă hội có tác động qua lại, chuyển hóa cho nhau chứ không tồn tại một cách ổn định và tĩnh tại. H́nh thức kết cấu theo 2 tuyến nhân vật đôi khi được tŕnh bày không phải là sự đối lập mà là 2 tuyến song song, làm cơ sở để đối chiếu và hỗ trợ cho nhau. Ở đây mỗi tuyến tập họp những kiểu người gần gũi với nhau về hoàn cảnh sống, về tính cách, đạo đức...Có thể coi Anna Karênina của L. Tônxtôi được xây dựng theo h́nh thức kết cấu này.
2.3. Kết cấu đa tuyến.
Trong những bộ tiểu thuyết lớn, để khái quát về một bức tranh xă hội rộng lớn gồm nhiều hạng người, nhiều mối quan hệ đan xen nhau, khai thác nhiều mặt khác nhau của đời sống, các nhà văn thường sử dụng h́nh thức kết cấu theo tuyến nhân vật. Trong những tác phẩm này, nhà văn tổ chức các nhân vật theo các tuyến dựa trên những mối quan hệ về gia đ́nh, nghề nghiệp, giai cấp... Trong Chiến tranh và ḥa b́nh, L. Tônxtôi đă xây dựng hai tuyến lớn và ở mỗi tuyến lớn lại có nhiều tuyến nhỏ tập họp các nhân vật theo từng ḍng họ, từng gia đ́nh. H́nh thưc kết cấu này thường được sử dụng trong văn học hiện đại, nhất là trong các tiểu thuyết lớn. Erenbourg có nhận xét về kết cấu của một số tiểu thuyết trong thế kỉ XX: "Tiểu thuyết của thời đại ta có nhiều chỗ khác với tiểu thuyết thế kỉ XIX vốn xây dựng trên lịch sử một con người hay một gia đ́nh. Trong tiểu thuyết hiện đại có nhiều nhân vật hơn, số phận của họ đan chéo vào nhau, nhà văn thường hay đưa người đọc từ thành phố này sang thành phố khác, đôi khi di sang một nước khác nữa, cách kết cấu khiến ta nghĩ tới sự luân phiên của những đoạn cận cảnh với những cảnh quần chúng trên màn ảnh". Có thể coi những bộ tiểu thuyết Sông Đông êm đềm của Sôlôkhôp hay Vỡ bờ của Nguyễn Đ́nh Thi, Cửa biển của Nguyên Hồng ...sử dụng lối kết cấu này.
2.4. Kết cấu tâm lí.
Đây là h́nh thức kết cấu dựa theo qui luật phát triển tâm lí của các nhân vật trong tác phẩm. Loại kết cấu này xuất hiện cùng với sự xuất hiện của các trào lưu văn học khẳng định vai tṛ của cá nhân trong xă hội. Kết cấu này thường dựa vào trạng thái tâm lí có ư nghĩa nào đó để sắp xếp các sự kiện, nhân vật, cốt truyện...Trong Sống ṃn, Nam Cao đă sắp xếp nhiều mẫu chuyện vặt vănh, quẩn quanh trong sinh hoạt hằng ngày với những trạng thái tâm lí bi quan, bất lực, tự ti, khinh bạc...của các nhân vật. Kết cấu đó góp phần thể hiện cuộc sống chật hep, tù túng, bế tắc của người tiểu tư sản nghèo trong xă hội cũ. 2.5. Kết cấu trong tác phẩm trữ t́nh. Những h́nh thức kết cấu trên tiêu biểu cho loại tác phẩm có cốt truyện: tác phẩm tự sự và kịch. Loại tác phẩm trữ t́nh, tiêu biểu nhất là thơ trữ t́nh không có cốt truyện nên cần xem xét cho phù hợp với đặc trưng thể loại: tác phẩm trữ t́nh chủ yếu thể hiện trực tiếp tâm trạng, cảm xúc, ư nghĩ chủ quan của người nghệ sĩ. V́ vậy, xây dựng kết cấu trong tác phẩm trữ t́nh là sự tổ chức hệ thống cảm xúc, tâm trạng trong quá tŕnh vận động và phát triển của chúng. Một kết cấu tốt trong tác phẩm trữ t́nh phải liên kết được các mạch thơ, ḍng thơ, các biện pháp biểu hiện nhằm thể hiện tốt nhất sự vận động cảm xúc nội tâm của nhân vật. Có thể nói đến nhiều h́nh thức kết cấu khác nhau và nhà văn khi xây dựng tác phẩm, lựa chọn kết cấu nào bao giờ cũng nhằm nâng cao sức biểu hiện của chủ đề tư tưởng, tăng cường sức tác động thẩm mĩ của tác phẩm đối với người đọc. Các h́nh thức kết cấu dù phong phú và đa dạng cũng chỉ là hữu hạn trong khi thực tế sáng tác th́ vô hạn. Tong từng tác phẩm, nhà văn có thể vận dụng nhiều h́nh thức kết cấu khác nhau với sự sáng tạo nghệ thuật. V́ vậy, không thể qui những tác phẩm cụ thể vào một dạng kết cấu riêng biệt nào mà cần phải xem xét tác động nghệ thuật của kết cấu đối với người đọc cũng như chức năng cụ thể của nó trong việc thể hiện chủ đề tư tưởng của tác phẩm