THÔNG BÁO

  THỜI GIAN GẦN ĐÂY MỘT SỐ BẠN LỢI DỤNG  WEBSITE NÀY ĐỂ ĐƯA RA NHỮNG PHÁT NGÔN KHÔNG TỐT. CHO NÊN CHÚNG TÔI TẠM THỜI ĐÓNG WEBSITE LẠI ĐỂ NÂNG CẤP NHẰM HẠN CHẾ MỘT SỐ HÀNH VI KHÔNG TỐT LÀM ẢNH HƯỞNG ĐẾN DIỄN ĐÀN .CÁC BẠN CÓ THẮC MẮC XIN LIÊN HỆ : phanthanhhung90@gmail.com
CÁC LỚP TỪ VỰNG TIẾNG VIỆT
I. CÁC LỚP TỪ VỰNG TIẾNG VIỆT XÉT VỀ MẶT PHẠM VI SỬ DỤNG
1. thuật ngữ .
1.1 Khái niệm:
Thuật ngữ là bộ phận từ vựng dùng để biểu đạt những khái niệm xác định thuộc hệ thống những khái niệm của một nghành khoa học xác định.
1.2. Ðặc điểm:
- Tuy là bộ phận từ vựng không thể thiếu được trong vốn từ dân tộc, nhưng so với từ thường, thuật ngữ ít được sử dụng rộng rãi.
- Thuật ngữ có ý nghĩa biểu vật trùng với phạm vi sự vật hiện tượng trong thực tế của các ngành khoa học - kĩ thuật tương ứng.
- ý nghĩa biểu niệm trùng với khái niệm về các đối tượng ấy trong các ngành khoa học cụ thể.
- Nội dung của thuật ngữ thường đồng nhất ở mọi ngôn ngữ do nó không bị sự chia cắt thực tế khách quan khác nhau của từng ngôn ngữ tác động. Vì vậy, nếu những từ thường mang tính dân tộc, thì thuật ngữ mang tính quốc tế.
1.3. Tiêu chuẩn xây dựng thuật ngữ:
- Tính chính xác:
Một thuật ngữ chính xác có nghĩa là nó chỉ biểu đạt được một khái niệm duy nhất mà không gây nhầm lẫn. Muốn vậy, cần làm sao cho hệ thống thuật ngữ được sử dụng trong một ngành khoa học không xuất hiện hiện tượng đồng âm, đồng nghĩa hay nhiều nghĩa.
- Tính hệ thống.
Tính hệ thống biểu hiện ở cả hai mặt hình thức và nội dung. Về mặt nội dung, mỗi thuật ngữ tương ứng với một khái niệm nhất định có quan hệ chặt chẽ với các thuật ngữ khác trong hệ thống, và mang một giá trị riêng biệt. Về mặt hình thức, tính hệ thống biểu hiện ở chỗ nhìn vào mặt cấu tạo của thuật ngữ , những người trong chuyên ngành có thể nhận diện được đấy là tên gọi của đối tượng nhóm nào, miền nào trong chuyên ngành ấy nhờ những điểm đồng nhất và đối lập của nó với các đơn vị khác về mặt phương thức cấu tạo hay các yếu tố cấu tạo.
-Tính dân tộc và tính quốc tế:
Do thuật ngữ là một bộ phận trong vốn từ dân tộc nên đồng thời nó phải mang tính dân tộc. Tính dân tộc biểu hiện chủ yếu ở mặt hình thức của thuật ngữ. Thuật ngữ phải có những đặc điểm phát âm, cấu tạo phù hợp với tiếng nói dân tộc. Ngoài ra, bởi vì các khái niệm khoa học là tài sản chung của toàn nhân loại nên thuật ngữ cũng phải mang tính quốc tế. Tính quốc tế biểu hiện chủ yếu ở mặt nội dung. Nói như thế không có nghĩa tính quốc tế không có quan hệ gì với mặt hình thức. Các ngôn ngữ cùng khu vực thường có hệ thống thuật ngữ tương tự nhau ở cả mặt cấu tạo. Có một điều cần chú ý là tính dân tộc và tính quốc tế có quan hệ chặt chẽ với nhau. Có thể nói tính quốc tế là cái khuôn hình thức để định hình cho thuật ngữ. Còn tính dân tộc là điều kiện để cho thuật ngữ tồn tại trong một ngôn ngữ cụ thể. Nhờ tính dân tộc, thuật ngữ trở nên gần gũi, dễ nhớ đối với người bản ngữ.
1.4. Các phương thức xây dựng thuật ngữ:
Cũng như nhiều ngôn ngữ khác, thuật ngữ được xây dựng và phát triển bằng ba con đường cơ bản:
- Thuật ngữ hóa từ ngữ thông thường:
Là phuơng thức cấu tạo bằng cách chuyển nghĩa của những từ thường thành thuật ngữ. Do được chuyển nghĩa như vậy cho nên giữa từ thường và thuật ngữ có một độ chênh nhất định về nghĩa. Các thuật ngữ được hình thành bằng con đường này được gọi là thuật ngữ thuần.Nhìn chung xét về mặt hình thái, giữa thuật ngữ và từ thường không có dấu hiệu gì khác biệt. Dấu hiệu duy nhất giúp ta nhận diện được chúng và phân biệt được chúng với từ thường là đặc điểm của chu cảnh mà chúng xuất hiện.
- Mô phỏng thuật ngữ nước ngoài:
Là phương thức cấu tạo bằng cách sử dụng những yếu tố cấu tạo và mô hình cấu tạo từ của tiếng Việt, đặc biệt là khai thác các yếu tố cấu tạo Hán- Việt để dịch nghĩa của thuật ngữ quốc tế.
Ví dụ: Polysyllabic languages dịch là Ngôn ngữ đa âm tiết Prefixe ------- Tiền tố Sufixe ------- Hậu tố Ultrasound ------- Siêu âm Software ------- Phần mềm
- Mượn nguyên thuật ngữ nước ngoài:
Là cách tạo thuật ngữ bằng cách sử dụng thuật ngữ nước ngoài về cả âm lẫn nghĩa.
Ví dụ: calci, sulfure, calcium, alminium,...
Về tình hình xây dựng thuật ngữ ở nước ta, mặc dù từ sau cách mạng tháng tám đến nay đã có một bước phát triển đáng kể, tuy nhiên chưa phải đã thật hoàn hảo. Cụ thể vẫn còn những hiện tượng dùng một thuật ngữ để biểu đạt nhiều khái niệm khác nhau hoặc ngược lại, cùng một khái niệm được biểu đạt bằng nhiều thuật ngữ khác nhau.
Ví dụ cho trường hợp 1:
Thuật ngữ từ vị được dùng tương đương với các khái niệm sau: dictionaire ( từ điển), lexique ( từ vựng), lexème ( từ vị ).
Ví dụ cho trường hợp 2: Khái niệm morphème được biểu hiện bằng nhiều thuật ngữ khác nhau: từ tố, hình vị, moocphem. Khái niệm suffixe được biểu hiện bằng nhiều thuật ngữ không thống nhất: tiếp vĩ tố, tiếp vĩ ngữ, phần gia cuối, hậu tố, tiếp tố. Ngoài ra, cho đến nay hình thức phản ánh (cụ thể cách phiên âm đối với các thuật ngữ gốc ấn-Âu ) vẫn chưa thống nhất.
Ví dụ: Calci ( Ca ) được phiên âm -cal- ci ( Hoàng Xuân Hãn) calci ( Ban khoa học cơ bản ) calxi ( Phạm Văn Sửu) canxi (Hóa)
Chuẩn hóa thuật ngữ vẫn đang là vấn đề bức thiết được đặt ra đối với các nhà khoa học.
2.Từ nghề nghiệp.
2.1.Ðịnh nghĩa:
Từ nghề nghiệp là những từ biểu thị những công cụ, sản phẩm và quá trình sản xuất có tính thủ công, được một số người trong một ngành nghề nào đó sử dụng.
2.2. Ðặc điểm của từ nghề nghiệp:
- Phạm vi sử dụng hạn chế. Mặc dù là bộ phận trong vốn từ dân tộc, nhưng cũng như thuật ngữ khoa học- kỹ thuật, do nội dung thuật ngữ thường đi sâu vào từng ngành nghề riêng biệt nên có không ít từ nghề nghiệp là xa lạ, thậm chí là khó hiểu đối với người ngoài nghề.
- ý nghĩa biểu vật trùng với phạm vi sự vật hiện tượng trong thực tế ngành nghề và ý nghĩa biểu niệm trùng với khái niệm của ngành nghề về sự vật hiện tượng đó. ở điểm này, từ nghề nghiệp có nhiều nét tương đồng với thuật ngữ.
Tuy nhiên cần chú ý là nội dung của từ nghề nghiệp chỉ phản ánh những sự vật, hoạt động có tính thủ công. Ngoài ra, so với thuật ngữ khoa học- kỹ thuật, mức độ khái quát của từ nghề nghiệp chưa cao song nó lại mang tính cụ thể cao hơn.
- Về mặt cấu tạo, hầu hết từ nghề nghiệp đều sử dụng những đơn vị có sẵn của tiếng Việt và có nguồn gốc thuần Việt.
- Hầu hết các từ đều được cấu tạo theo nguyên tắc có lí do. Tỉ lệ những từ mang tính võ đóan thấp.
- Từ nghề nghiệp và thuật ngữ có mối quan hệ chặt chẽ. Từ nghề nghiệp được phát triển và chỉnh đốn lại sẽ được bổ sung vào hệ thống thuật ngữ. Do dó có thể nói từ nghề nghiệp là thuật ngữ khoa học cấp thấp.
- Từ nghề nghiệp là một bộ phận trong ngôn ngữ dân tộc, nó có quan hệ gần gũi với đời sống nhân dân, do đó nó dễ dàng trở thành từ ngữ toàn dân khi những khái niệm riêng ấy trở nên phổ biến rộng rãi trong xã hội.
3.Biệt ngữ:
3.1. Khái niệm:
Biệt ngữ là những từ hoặc ngữ biểu thị những sự vật, hiện tượng thuộc phạm vi sinh hoạt của một tập thể xã hội riêng biệt. Tập thể xã hội đó có thể là các giai cấp thống trị trong các chế độ xã hội cũ, những giới xã hội như công chức, công nhân, tôn giáo, các thầy mo, thầy cúng, giới học sinh, sinh viên,...
Thí dụ: Trong tôn giáo phật giáo có những từ như : Phật, chúng sinh, niết bàn, thiền, tam bảo, quy y, độ trì , trai giới,... Trong thiên chúa giáo có những từ như: Chúa, thánh, linh mục, rửa tội, xưng tội, amen,... Trong chế độ phong kiến có những từ như: Trẫm, khanh, hạ thần, long nhan, long thể, ngự giá, băng hà,...
3.2. Phân loại biệt ngữ:
Có thể bàn đến hai loại biệt ngữ:
- Những biệt ngữ là tên gọi chính xác các sự vật, hiện tượng trong thực tế và không có tên gọi tương ứng trong ngôn ngữ toàn dân. Thí dụ: Ngai vàng, tàn, lọng, cung, trạng nguyên, bảng nhãn thám hoa,...
-Những biệt ngữ là tên gọi thêm chồng lên tên gọi đã có. Thí dụ: Viên tịch, độ cơm,..(Trong phật giáo). Trẫm, ta, khanh (Từ xưng hô của vua). Thiếp, nàng, chàng,...(Từ xưng hô của người con trai và người con gái với nhau thời phong kiến). Biệt ngữ không hoàn toàn và mãi mãi mãi tách biệt với ngôn ngữ nhân dân. Qua thời gian, những từ được thử thách sẽ được bổ sung vào ngôn ngữ toàn dân.
4.Tiếng lóng:
4.1. Ðịnh nghĩa:
Tiếng lóng là những từ được dùng để gọi tên các sự vật,hiện tượng vốn đã có tên gọi, được một tập thể xã hội nhất định sử dụng nhằm mục đích muốn che giấu những điều mà người nói không muốn cho người ngoài tập thể biết hoặc muốn bộc lộ cái vẻ riêng của tập thể mình hoặc bộc lộ thái độ một cách mạnh mẽ.
4.2. Ðặc điểm của tiếng lóng:
- Có tính tạm thời.
- Có tính lẻ tẻ, không hệ thống.
4.3. Phương thức tạo tiếng lóng:
- Sử dụng từ toàn dân với mợt nghĩa khác.
- Sử dụng những đơn vị không độc lập trong ngôn ngữ toàn dân (bao gồm những yếu tố Hán-Việt chưa dược Việt hoá hoàn toàn, những đơn vị đã bị mờ nghĩa hoặc mất nghĩa...) như những yếu tố độc lập .
- Mượn từ nước ngoài (Sử dụng như những tiếng bồi).
5. Từ địa phương.
5.1. Quan niệm về từ địa phương.
Từ địa phương là những từ được sử dụng hạn chế ở một hoặc vài địa phương nào đó. Từ địa phương là một bộ phận của phương ngữ. Phương ngữ là ngôn ngữ của một địa phương bao gồm cả mặt ngữ âm, từ vựng lẫn ngữ pháp. Nguyên nhân xuất hiện chủ yếu của từ địa phương là do sự phân hoá về dân cư, địa lí và hàng rào kinh tế. Ngoài ra sự phân hóa về mặt chính trị, xã hội cũng là một nhân tố khác tác động đến sự hình thành của phương ngữ .
5.2. Vấn đề phân chia các vùng phương ngữ trong tiếng Việt:
Có hai xu hướng phân chia khác nhau:
-Xu hướng thứ nhất, phân chia thành ba vùng phương ngữ. Bao gồm các phương ngữ sau:
+Phương ngữ Bắc Bộ gồm phương ngữ các vùng từ Thanh Hoá trở ra.
+ Phương ngữ Trung Bộ gồm phương ngữ các vùng từ Nghệ An trở vào.
+Phương ngữ Nam Bộ gồm các phương ngữ các vùng từ Sông Bé trở vào.
- Xu hướng thứ hai, phân chia thành bốn vùng phương ngữ. Bao gồm các phương ngữ cụ thể sau:
+ Phương ngữ Bắc Bộ bao gồm các từ ngữ được sử dụng ở trung tâm Hà Nội và các tỉnh phía Bắc đến Thanh Hóa.
+Phương ngữ Bắc Trung Bộ bao gồm phương ngữ các vùng từ Nghệ Tĩnh đến Bình Trị Thiên.
+ Phương ngữ Nam Trung Bộ bao gồm phương ngữ các vùng từ Quảng Nam, Ðà Nẵng đến Thuận Hải.
+ Phương ngữ Nam Bộ bao gồm phương ngữ vùng Ðông Nam Bộ và Tây Nam Bộ. Phương ngữ Nam Bộ kéo dài từ Ðồng Nai, Sông Bé đến Mũi Cà Mau. trung tâm của phương ngữ Nam Bộ là thành phố Hồ Chí Minh.
5.3. Phân loại từ địa phương:
Có thể thấy có một số kiểu từ địa phương sau:
-Từ địa phương không có sự đối lập với từ vựng toàn dân. Ðó là những từ ngữ biểu thị những sự vật, hiện tượng, những hoạt động, cách sống riêng biệt chỉ có ở một địa phương nào đó chứ không phổ biến đối với toàn dân, do đó không có từ song song trong ngôn ngữ toàn dân.
Thí dụ:
+Từ địa phương Nam Bộ: Chôm chôm, sầu riêng. măng cụt, chao, tràm, đước,...
+ Từ địa phương Bắc Trung Bộ: chẻo, cối, khoé, nhút, thưng,..
-Từ địa phương có sự đối lập với từ vựng toàn dân toàn dân. Kiểu này có thể chia ra hai loại nhỏ. Căn cứ vào hai mặt ngữ âm và ngữ nghĩa của chúng.
+Từ địa phương đối lập về mặt ý nghĩa. Những từ ngữ này về ngữ âm giống với từ ngữ tương ứng trong ngôn ngữ văn học toàn dân, nhưng ý nghĩa khác nhau.
Ví dụ: Từ ngữ Ngôn ngữ toàn dân Nghĩa trong phương ngữ -cậu - Em trai mẹ - Hải Hưng: Anh trai của mẹ. -té -Hắt nước - Nam Bộ: ngã. ở các từ ngữ địa phương kiểu trên cần phân biệt hai trượng hợp:
-Từ địa phương và từ toàn dân vốn cùng một nguồn gốc, nhưng có sự biến dổi về nghĩa. Sự biến đổi này diễn ra theo hướng mở rộng (Thí dụ: nón = nón+ mũ), hoặc chuyển đổi trong phạm vi cùng một trường nghĩa (Thí dụ: chén=bát, mận= roi ).
- Từ địa phương và từ toàn dân đồng âm với nhau chứ không có quan hệ nguồn gốc.Thí dụ giữa té (hắt nước ) và té (ngã ).
- Từ địa phương có sự đối lâp về mặt ngữ âm. Kiểu này có thể chia ra làm hai loại nhỏ, căn cứ vào mức độ khác biệt về ngữ âm so với từ ngữ toàn dân tương ứng.
+ Các từ ngữ địa phương có hình thức ngữ âm khác hoàn toàn với từ ngữ tương ứng trong ngôn ngữ toàn dân.
Thí dụ:
- Toàn dân - Hải Hưng - Thanh Hóa - Nghệ Tĩnh -Nam Bộ bà mậu mụ cá quả cá tràu cá lóc lợn ỉn heo đầu chốc trốc tao choa choa không nỏ hổng thuyền nốc ghe xoan cây đu sầu đâu
+Các từ ngữ địa phương có hình thức ngữ âm khác bộ phận với từ ngữ tương ứng trong ngôn ngữ toàn dân.
Thí dụ: - Toàn dân - Hải Hưng - Thanh Hóa - Nghệ Tĩnh - Nam Bộ đu đủ thù đủ thu đủ chào mào chốc mào chúc mào gà kê kha trâu râu tru tru lưới lái lái thật thiệt sinh sanh Từ địa phương là bộ phận của ngôn ngữ toàn dân. Tuy nhiên cần chú ý là ranh giới giữa từ địa phương và từ toàn dân rất sinh động. Từ địa phương chủ yếu là từ vựng khẩu ngữ, cần sử dụng nó đúng chỗ, đúng lúc để đảm bảo tính đúng đắn, tính trong sáng của văn bản được tạo lập. `
Tóm lại, thuật ngữ khoa học kỹ thuật, từ nghề nghiệp, biệt ngữ và từ địa phương là những nhánh phụ của ngôn ngữ toàn dân. Sau thời gian được thử thách, những yếu tố được đánh giá là tích cực sẽ được bổ sung vào ngôn ngữ toàn dân, làm giàu cho ngôn ngữ toàn dân. Do phạm vi sử dụng của chúng hạn chế cho nên cần chú ý đến loại phong cách ngôn ngữ phù hợp với từng lớp từ để có thể sử dụng chúng được tốt, đồng thời phát huy được hiệu quả của chúng.
II. CÁC LỚP TỪ TIẾNG VIỆT XÉT VỀ MẶT NGUỒN GỐC
1. Vấn đề nguồn gốc của tiếng việt .
Cho đến nay bối cảnh chung của các quan điểm nghiên cưú về nguồn gốc của tiếng Việt vẫn còn khá phức tạp. Tựu trung có ba ý kiến khác nhau sau đây:
- ý kiến thứ nhất cho tiếng Việt thuộc dòng Môn -Khme (tiếng Môn phân bố chủ yếu ở Miến Ðiện và tiếng Khme phân bố chủ yếu ở Campuchia ). Những người tiêu biểu cho ý kiến này là J.R.Logan, X.Sehmidt và gần đây là A.G.Haudricourt. Cơ sở chính của ý kiến này là dựa vào quá trình chuyển biến từ tiếng Việt cổ không có thanh điệu sang tiếng Việt hiện đại có thanh điệu và dựa vào vốn từ cơ bản gốc Môn - Khơme trong tiếng Việt.
- ý kiến thứ hai cho tiếng Việt bắt nguồn từ ngôn ngữ Tày- Thái. Ðại diện cho quan điểm này là Maspéro. Cơ sở để tác giả đưa ra ý kiến này chẳng những dựa vào vốn từ cơ bản giống nhau giữa tiếng Việt và các ngôn ngữ Tày-Thái, mà còn căn cứ vào cơ cấu cấu tạo từ và thanh điệu giữa chúng. Theo tác giả, tiếng Việt và tiếng Thái có quan hệ gần gũi hơn vì cả hai ngôn ngữ này đều không có phụ tố, trong khi đó các ngôn ngữ Môn-Khme lại có nhiều phụ tố, tiền tố và trung tố. Ngoài ra hệ thống thanh điệu của tiếng Việt lại hợp với hệ thanh điệu tiếng Thái cổ, trong khi đó các ngôn ngữ Môn-Khme lại không mang thanh điệu.
- ý kiến thứ ba cho tiếng Việt được tạo nên do sự hỗn hợp của các ngôn ngữ nhóm Nam á, trong đó bao gồm cả ngôn ngữ Môn - Khơ me và Tày-Thái. Người đưa ra ý kiến này là G. Coedes và A.Haudricourt và nhiều tác giả Việt Nam. Hà Văn Tấn và Phạm Ðức Dương căn cứ vào quá trình biến đổi hình thái học của từ cũng có kết luận tương tự. ý kiến này được đưa ra dựa vào hỗn hợp của nhiều tiêu chí: vốn từ cơ bản giống nhau giữa các ngôn ngữ, quá trình chuyển hoá từ ngôn ngữ không có thanh điệu sang ngôn ngữ có thanh điệu của tiếng Việt do sự tiếp xúc với các ngôn ngữ trong khu vực, quá trình biến mất của các phụ tố trong tiếng Việt cổ. Ngữ hệ Nam á phân bố trên một địa bàn rộng lớn từ vùng đông bắc ấn Ðộ (nhóm Mun-đa ) qua Miến Ðiện đến vùng Nam Trung Quốc (nhóm Mèo-Dao) sang phía nam kéo dài đến vùng Mã Lai, Nam Ðảo (nhóm Malaya Po-li-nê-diên). Ngữ hệ này được hình thành trong nhiều thiên niên kỉ, qua sự tiếp xúc với các ngôn ngữ thuộc trong khu vực.
2. Từ thuần việt.
2.1. Quan niệm về từ thuần Việt:
Ngôn ngữ dân tộc không bất biến mà luôn vận động và phát triển qua nhiều giai đoạn.Trong một giai đoạn lịch sử cụ thể bao giờ cũng xảy ra hiện tượng giữ lại từ cũ, cấu tạo từ mới, vay mượn những từ ngữ từ tiếng nước ngoài. Qua nhiều thời kì, việc xác định từ vay mượn và từ thuần không phải là việc làm đơn giản. Do đó có thể quan niệm về từ thuần như sau: Ngoài những từ có thể xác định chắc chắn là tiếng Việt tiếp nhận của tiếng Hán và các ngôn ngữ ấn- Âu, các từ còn lại là các từ thuần Việt. Cụ thể đấy là các từ biểu thị các sự vật, hiện tượng cơ bản nhất và tồn tại từ lâu đời.
2.2. Quan hệ về ngữ âm, ngữ nghĩa với các ngôn ngữ cùng ngữ hệ:
Có thể nhận thấy mối quan hệ về ngữ âm, ngữ nghĩa giữa từ thuần Việt với các ngôn ngữ cùng ngữ hệ như sau: a/ Những từ gốc Môn-Khme. Dựa vào nội dung, có thể phân định thành các nhóm sau:
-Những từ chỉ các bộ phận cơ thể: Puok Khme bụng Ko - cổ chơơng - chân Tay Mường tay Sóc Khme tóc Atui - đuôi Sim Amoy tim Menkh - mặt Kaak Mường gạc Mus - mũi Las - lưỡi Keeng Khme cẳng nhơts - nhớt Khnong - sống ta Mường da
- Những từ trỏ các động tác của người và động vật. bât Khme mất kal - (nhảy) cỡn Srônganh srôngang - nghênh ngang Tlec - thè lè Choho - chò hõ (ngồi) Chrohom - (ngồi) chồm hỗm Lnong - lóng ngóng lngơơ - lơ ngơ đâc - dắt Bec - bẻ Nai - nài (xin) đum - đùm Book - bóc Nen - nén đoi - đòi kạo - cạo Rut - ( chạy) rút bât - bít, đóng đôh - đổ chhiên - chiên Thui - thui Cheek - chẻ, xé Beeh - bẻ băng - bưng, mang Khvan - khoan chbôôt - vuốt Tuul - đun, dun (đẩy) Kot ( Mường) gột Kaaj - gài pơơi - với chăl - chạy yơl - dậy Pul - búi
- Những từ trỏ quan hệ họ hàng mđay, mây Khmer mẹ chêê - chị Me - mẹ chău - cháu Mi - mày No - nó
- Những từ trỏ các hiện tượng thiên nhiên ơc hơp Tha Vừng chớp Dak Mường đất tưk Khmer nước ( nác) Khzol Khmer gió Pul Tha Vừng bụi Chroi Khmer doi đất Phnom - non Preek - lạch Thngay - ngày rưa - rễ Cum - khóm
- Các từ trỏ không gian. Kraoi Khmer sau sđam - đăm (bên phải) chvêng - chiêu ( bên trái) Kịa - kề Ni - này Pùung Mường vùng Prai Khmer rải chưt - chật Chngai - ngái (xa)
- Các từ trỏ động vật. Kur Uý Lô cúi (lợn) Kù Mường gấu kả Tha Vừng cá ken Tha Vừng kiến thlăn Khmer trăn, thằn lằn Roi - ruồi Kngan - ngan - Các từ trỏ thực vật. Pir úy Lô bí kâr - cây Sai Khmer tẻ (lúa) Cum Mường cụm, khóm srâu Khmer lúa
-Các từ trỏ đồ dùng dụng cụ. Siu Mường rìu kơten Tha Vừng đèn Mung Sách mùng Khao - khố Coat - cót, vựa thóc đo Khmer đò Sao - sào Pheeng - phên Krolo - lọ Cheo - chèo
- Các từ trỏ việc nấu nướng, đốt lửa. Kho Khme kho đot - đốt Chhe - cháy Choom - chườm Cha - chả chhiên - chiên Comranh - rán chhơ - hơ Thui - thui Khvay - quay
-Các từ trỏ giác quan. Kar úy Lô cay Tek Tha Vừng điếc Chu Khme chua Chót - chát phớêêm - êm (ngọt) sôui - thúi, thối hăng - hăng Banhem - thèm prăn - mặn - Tính từ trỏ người và vật. Skom Khme còm Chal - chán pruôi - buồn thmây - mới Chas - già, cha khlăng - hăng kênh - căng pêpao - bập bềnh
- Số từ. muôi Khme một Bar úy Lô vài, hai Pir Khme vài, hai bây - ba buôn - bốn prăm - năm Pih - bảy
-Phó từ. somrăp Khme sắp rưt - rất răp - rắp chơt - chợt, suýt krêêng - kẻo khtuông - khoảng
- Một số từ khác. Ten Sách đen Cho Tha Vừng chau (mày) hêng Khme hên (may) Khsui - rủi, sui b/ Những từ gốc Tày-Thái.
- Các từ liên quan đến nghề trồng trọt và lúa má. Phai bai (cái đập nước) Quel quê xắm (cả ) dâm (mạ ) ván (cả) vãi (mạ ) ban (nà ) bừa (ruộng ) khốc cối Xí xay đoong nong tăm đâm (gạo ) Pong bánh phồng Pún bún Chỏa xỏa Phang phang, đập lúa Pjếng miếng
- Các từ trỏ công cụ, tư liệu, hành động sản xuất ngàm ngám (khốp) Ki củi Phai vải tông đũng (quần) Khúc guốc lá xa Quặng quặng Kham chàm Chủm chủm chăng dăng (lưới) Phay dao phay phò vò quàng quăng (chài) ẩng súng ống Quéng kén Poong vòng Pooc bóc hải hái (lượm )
- Từ trỏ động vật và động tác của động vật. tua luông thuồng luồng chạng giạng ( chân) Tật đặt Phậc vực Lòi lội Chộc chóc (chim) chẳm chấm Khang gang rào rảo - Từ trỏ thực vật. bôn (khoai ) môn Thùa đậu Dửa dứa Buống (rau ) muống Buộp mướp Ít ớt khả xả Hóm ( rau) thơm Pục bưởi Chúm chùm Hóp hóp (loại tre) Quẻ quế mì mít
- Từ trỏ thức ăn và dụng cụ. Xộm nộ Cọi giỏi chì chả pamăm cá mắm pa om cá om pa kho cá kho pa loọc cá luộc buôi muôi địa đĩa Rử dừ
- Từ trỏ hiện tượng thiên nhiên. đồng đồng, ruộng Khuổi suối Fòng sóng
-Các từ khác. mử mợ Cọt cụt, ngủn Sluộc thuộc (bài) Khốt khuất quàng quàng Ten tên Nẩy này
3. Các từ Việt gốc Hán.
3.1. Quá trình tiếp xúc giữa tiếng Việt và tiếng Hán:
Các nhà nghiên cứu tiếng Việt ngày nay ai cũng nhắc đến những từ Việt gốc Hán, nhưng những định nghĩa và giới thuyết về lớp từ này vẫn chưa phải đã hoàn toàn được thống nhất. Lúc đầu nhiều người cho rằng từ Việt gốc Hán chỉ bao gồm các từ Hán-Việt. Một thực tế mà ai cũng phải thừa nhận là giữa người Việt và người Hán đã có sự tiếp xúc về văn hóa và ngôn ngữ từ lâu đời, từ khoảng hai ngàn năm trước.Do đó, nhìn chung, từ Việt gốc Hán là một hiện tượng đa dạng và phức tạp. Có thể phân các giai đoạn tiếp nhận ấy ra làm hai thời kì lớn:
a/- Giai đoạn trước đời Ðường:
Ngay từ đầu công nguyên, từ khi có sự đô hộ phương bắc, tiếng Hán đã được sử dụng ở Giao Châu với tư cách một sinh ngữ. Người Hán muốn đồng hóa tiếng nói của dân tộc Việt, nhưng tiếng Việt đã có một cơ sở vững vàng từ trước, đến giai đoạn này nó vẫn tiếp tục được kế thừa và tồn tại. Vì vậy, tuy trải qua hàng ngàn năm, người Việt chỉ tiếp nhận lẻ tẻ một số từ Hán thường dùng để lấp đầy vào chỗ thiếu hụt trong tiếng Việt như: buồng, buồn, muộn, mây, muỗi, đục, đuốc...Những từ được tiếp nhận giai đoạn này được gọi là những từ tiền Hán- Việt hay từ Hán cổ.
b/-Giai đoạn từ đời Ðường trở về sau:
Vào khoảng đời Ðường, người Hán đã mở nhiều trường học ở Giao Châu, các thư tịch Hán thuộc đủ các loại được truyền bá rộng rãi. Trước đó, một số thiền sư ấn Ðộ và người Hán cũng truyền giáo ở Giao Châu, một số kinh phật đã được dịch sang chữ Hán cũng được truyền sang Giao Châu.Qua thư tịch, lớp từ văn hóa biểu thị những khái niệm trưù tượng của các phái Nho, Phật, Lão trong tiếng Hán đã được được người Việt vay mượn có tính chất đồng loạt, hệ thống kèm theo sự cải biến về mặt ngữ âm và ý nghĩa để lấp đầy vào khoảng thiếu hụt trong ngôn ngữ của mình.Những từ tiếp nhận ở giai đoạn này được gọi là từ Hán-Việt . Sau khi âm Hán-Việt đã được hình thành, trong tiếng Việt vẫn diễn ra sự biến đổi ngữ âm. Những biến đổi này có thể tác động vào một bộ phận từ Hán-Việt, nhất là những từ thuộc phạm vi sinh hoạt hằng ngày, làm cho những từ này mang những nét mới về ngữ âm, ngữ nghĩa, phong cách, khác với những từ Hán-Việt trước đây. Những từ này được gọi là từ Hán-Việt Việt hoá. Như vậy kết hợp tiêu chí thời gian hình thành với tiêu chí hình thức ngữ âm và phong cách có thể phân những từ gốc Hán ra làm ba loại: Từ tiền Hán-Việt, từ Hán-Việt, từ Hán-Việt Việt hóa.
3.2.Tình hình vay mượn từ tiền Hán-Việt.
Từ tiền Hán-Việt là những từ gốc Hán được dân tộc ta tiếp nhận từ trước đời Ðường. Từ đời Hán cho đến đời Ðường, tiếng Hán đã trải qua hai giai đoạn lớn (Thời kì âm Hán thượng cổ và thời kì âm Hán trung cổ), do đó ngữ âm của tiếng Hán biến đổi và phát triển khá nhiều. Sự biến đổi này có tác động lớn lao đến hệ thống ngữ âm từ gốc Hán trong tiếng Việt, bởi vì những từ Hán - Việt cổ đọc theo âm Hán Thượng cổ, những từ Hán - Việt lại dựa vào âm Hán trung cổ. Dựa vào thành quả nghiên cứu về âm Hán Thượng cổ, đối chiếu với những từ gốc Hán ở Việt Nam, những người có vốn Hán ngữ có thể xác định được những từ nào thuộc về lớp từ Hán-Việt cổ. Về mặt ngữ âm, có thể hình dung lại quá trình biến đổi từ âm Hán Thượng cổ sang âm Hán-Việt cổ như sau: Trước thế kỉ thứ X trong hệ thống âm đầu tiếng Việt còn chưa có âm hữu thanh, vì vậy âm Hán-Việt cổ lúc đầu cũng mang âm đầu vô thanh, về sau chúng mới hữu thanh hóa. Như vậy những từ có âm đầu hữu thanh trong tiếng Việt ở thời kì ban đầu này chính là những từ gốc Hán. Xét về mặt nội dung và phong cách, các từ Hán-Việt cổ do du nhập vào tiếng Việt từ rất sớm, tuyệt đại là những từ đơn âm tiết có đầy đủ hai mặt hình ảnh âm thanh và ý nghĩa, nên đã được Việt hoá rất sâu, có khả năng vận hành độc lập trong tiếng Việt và có một vị trí không khác gì những từ gốc Môn-Khme và gốc Tày-Thái trong tiếng Việt, vì vậy cho nên trong thực tế lâu nay nó vẫn được coi là những từ Việt. Theo quan điểm đồng đại, dựa vào chức năng và giá trị sử dụng, nhiều tác giả xem chúng là từ thuần Việt.
3.3. Từ Hán-Việt. Từ Hán-Việt là những từ gốc Hán đời Ðường-Tống được biến đổi theo quy luật ngữ âm tiếng Việt.
Do thông qua con đường sách vở là chủ yếu, những từ Hán-Việt được hình thành một cách có hệ thống, biểu đạt những khái niệm cần thiết cho việc giao tế lúc đó, nhất là trong ngôn ngữ viết. Xét về mặt nội dung, có thể thấy từ Hán Việt được sử dụng để biểu đạt những khái niệm thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau như chính trị, kinh tế, khoa học, tôn giáo, v.v...
Ví dụ:
- Chính trị: hoàng thượng, thượng, thượng đế, chế độ, chiếm đoạt, xung đột, chính thống, triều đình, ...
- Văn hóa: khoa cử, văn chương, giảng giải, hiền triết,...
- Giáo dục: tú tài, cử nhăn, tiến sĩ, trạng nguyên, thám hoa,...
- Tôn giáo: Phật, nát bàn, hòa thượng, giáng thế, thiên đường,...
- Quân sự: chiến trường, giáp trận, xung đột, chỉ huy, ác chiến,.
- Tư pháp: Nguyên cáo, bị cáo, xử lí, tố cáo, án sát, ân xá,...
- Y học: thương tích, thương hàn, chướng khí, tiêm nhiễm,...
- Kinh tế: thương mại, thương khách, công nghiệp, thương nghiệp,...
Về mặt ngữ âm, có thể miêu tả quá trình hình thành ra âm Hán-Việt thành mấy điểm sau:
Về mặt phụ âm đầu:
Trong tiếng Hán Trung cổ ở các thế kỉ VIII, IX có tất cả 41 âm đầu, trong đó có nhiều âm hữu thanh và âm tắc-xát, trong khi đó ở tiếng Việt thế kỉ X chỉ có 20 âm đầu, lại không có âm hữu thanh và âm tắc-xát, do đó, ở bước đầu tiên, các âm hữu thanh trong tiếng Hán phải chuyển thành âm vô thanh trong Hán-Việt và các âm đầu tắc-xát Hán phải chuyển thành tắc hay xát trong Hán-Việt. Kết quả là 41 âm đầu trong tiếng Hán Trung cổ nhập lại thành 20 âm đầu trong cách đọc Hán-Việt buổi đầu. Ðể bù lại và giữ thế cân bằng sẽ có sự bổ sung về thanh điệu. Các âm đầu vô thanh Hán sang vô thanh Hán-Việt sẽ có các thanh điệu bổng. Các âm đầu hữu thanh Hán sang vô thanh Hán-Việt sẽ có các thanh điệu trầm. Ngoài ra, trong nội bộ tiếng Việt cũng diễn ra sự biến đổi ngữ âm. Một số âm đầu vô thanh lại hữu thanh hóa, một số âm đầu khác được xát hóa hoặc tắc hóa: p > b; t > đ; s > t ; kj.>gi. Cuối cùng là ta có diện mạo hệ thống âm đầu từ Hán-Việt như ngày nay. Về phần vần, cũng có những biến đổi đều đặn từ âm Hán Trung cổ sang âm Hán-Việt. Chọn hệ thống ngữ âm Hán -Việt làm trung điểm để khảo sát hệ thống ngữ âm của những từ vay mượn gốc Hán ở các thời kì, có thể thấy đặc điểm ngữ âm của những từ vay mượn ở hai thời kì này như sau: THV HV THV HV buồng phòng lìa li buông phóng buồm phàm nôm, nồm nam tiệc tịch búa phủ bay phi bùa phù việc dịch Bụa phụ rợ di bửa phá bụt phật béo phì bố phụ đục trọc đúng trúng xét xát đuổi truy đuổi thúc đì trĩ khoe khoa chuộng trọng quen quán giường sàng vuông phương ngỡ nghĩ ngựa mã đuốc trúc (chúc) chứa trũ chuông chung chừa trừ đỡ trợ tựa tự điểm chấm (trấm) cựa cự say si cờ kì mùa vụ ngờ nghi mù vụ thơ thi múa vũ mày mi mụ vu nộp nạp muỗi văn hộp hạp mây(màn) vân đời đại muôn vạn đợi đãi muộn vãn chấm trám mong vọng cởi giải mắng (nghe) văn kéo giao vây vi được đắc góc giác cải giới dời di chèo trào (lộng) chúa chủ chìm trầm bìa bì buồn phiền bia bi kim châm Thông qua cứ liệu thống kê trên, ta có thể rút ra một số đặc điểm ngữ âm của hai thời kì này:
-Có sự đối lập giữa âm hữu thanh và âm vô thanh giữa hai thời kì.
Cụ thể:
+ Sự dối lập giữà / b / và / f / Thí dụ: buồng - phòng; buông - phóng; bùa - phù.
+Sự đối lập giữa / m / và / v /. Thí dụ: mùa -vụ; múa- vũ; muộn- vãn.
+Sự đối lập giữa / d/ và / tr /. Thí dụ: đục -trọc , đuổi -truy ; đúng -trúng.
+Sự đối lập giữa / ia / và / i /. Thí dụ: bia- bi ; lìa- li ; bìa- bì.
+ Sự đối lập giữa / ô / và / a / khi không đứng sau / / i / ngắn. Thí dụ : nôm, nồm - nam, nộp- nạp, hộp - hạp.
+ Sự đối lập của /ă/ ngắn và /i/ khi đứng trước /ng/ và /k/ . Thí dụ: tanh- tinh ; sanh - sinh.
+ Sự đối lập giữa / e / và / a / hay / ie /. Thí dụ: kén- kiển ; quen- quán ; khoe- khoa ; phen- phiên; sen -liên.
+ Sự đối lập giữa / o / và / wo /. Thí dụ: hòn- hoàn.
+ Sự đối lập giữa / ua / và / u /. Thí dụ: chúa - chủ ; múa- vũ .
+ Sự đối lập giữa / ưa / và / ư /. Thí dụ: lừa - lư ; chứa - trữ ; tựa - tự.
+ Sự đối lập giữa / ơ / , / ai / , / ơi / , / âi / và / i /. Thí dụ: cờ- kì; thơ- thi ; mày- mi ; dời -di; vây - vi. ...
Vay mượn là một hiện tượng tất yếu trong quá trình giao lưu văn hóa, kinh tế giữa các dân tộc. Có một điều đáng nói là thái độ tích cực, chủ động của người Việt trong quá trình tiếp thu những từ ngữ của tiếng nước ngoài. Những từ ngữ gốc Hán khi đi vào tiếng Việt chẳng những biến đổi it nhiều về hình thức ngữ âm như vừa nêu mà còn có những cải biến về mặt ý nghĩa. ý nghĩa có thể được biến đổi theo nhiều hướng.
- Mở rộng ý nghĩa của từ Hán.
Thí dụ: Từ khám trong tiếng Hán có một nghĩa xem xét, khi đi vào tiếng Việt nó thêm nhiều nghĩa mới như xét, lục, khám, soát. Từ thủ trong tiếng Hán có 2 nghĩa: 1/. Phần trên cơ thể của người (thủ cấp).
2/. Ðứng trước hết (thủ khoa, thủ lĩnh).
Sang tiếng Việt, ngoài hai nghĩa trên, phát sinh thêm một nghĩa mới là phần trên của cơ thể gia súc ( thủ lợn, thủ bò).
- Thu hẹp nghĩa của từ Hán.
Việc thu hẹp nghĩa có thể diễn ra dưới nhiều hình thức.
a). Giảm bớt các nghĩa được sử dụng trong tiếng Hán.
Thí dụ: Trong tiếng Hán từ nhất có mười hai nghĩa, khi đi vào tiếng Việt nó chỉ được sử dụng có hai nghĩa : số thứ tự và đều hay cùng. Từ phong trào trong tiếng Hán có ba nghĩa:
1- Hướng gió và cữ thủy triều.
2- Gió lốc, gió xoáy giữa biển khơi.
3- Sự việc diễn ra sôi nổi trong một thời kì nhất định.
Khi đi vào tiếng Việt , chỉ có nghĩa 3- được giữ lại.
b). Chỉ bảo lưu nghĩa của một trong hai thành tố của từ được sử dụng trong tiếng Hán.
Thí dụ: Ðột ngột trong tiếng Hán có nghĩa là cao chót vót, cao ngất một mình, trong đó đột có nghĩa là bất chợt, ngột có nghĩa là cao mà phẳng. Trong tiếng Việt, chỉ có nghĩa của đột được giữ lại để chỉ sự bất ngờ, không có dấu hiệu gì báo trước.
c). Chỉ sử dụng nghĩa của tiếng Hán theo nghĩa hẹp.
Thí dụ: Tiêu hóa trong tiếng Hán có nghĩa là tiêu tan vật chất hóa ra chất khác. Thí dụ như chất đặc nấu chảy ra chất lỏng...Nói chung, có thể dùng cho mọi quá trình biến đổi của vật chất. Trong tiếng Việt, tiêu hóa chỉ được sử dụng để chỉ quá trình biến thức ăn thành chất nuôi dưỡng cơ thể của người và động vật.
 - Chuyển sang nghĩa hoàn toàn mới.
Thí dụ: Từ ngoại ô trong tiếng Hán có nghĩa là cái bờ thành nhỏ đắp bằng đất để ngăn trộm cướp. Trong tiếng Việt ngoại ô chỉ khu vực bên ngoài thành phố. Phương phi trong tiếng Hán có nghĩa là hoa cỏ thơm tho; trong tiếng Việt có nghĩa là béo tốt. Khôi ngô trong tiếng Hán có nghĩa là cao to; trong tiếngViệt có nghĩa là mặt mũi sáng sủa, dễ coi. Bồi hồi trong tiếng Hán có nghĩa là đi đi lại lại; trong tiếng Việt có nghĩa là trạng thái tâm lí bồn chồn, xúc động. Kĩ lưỡng trong tiếng Hán có nghĩa là khéo léo, trong tiếng Việt có nghĩa là cẩn thận. Ðáo để trong tiếng Hán có nghĩa là đến đáy, trong tiếng Việt có nghĩa là quá quắt trong đối xử, không chịu ở thế kém đối với bất cứ ai.
- Thay đổi sắc thái biểu cảm.
Thí dụ: Trong tiếng Hán , từ thủ đoạn có nghĩa là tài lược, mưu cơ.
Trong tiếng Việt thủ đoạn mang nghĩa xấu, tương đương với cách thức lừa bịp. Phụ nữ, nhi đồng trong tiếng Hán mang sắc thái trung tính, sang tiếng Việt nó diễn đạt khái niệm mang sắc thái dương tính . Sự thay đổi sắc thái biểu cảm có thể gắn liền với sự thay đổi các nét nghĩa trong ý nghĩa biểu niệm.
Thí dụ: Tiểu tâm trong tiếng Hán có nghĩa là cẩn thận, chú ý ( sắc thái dương tính). Trong tiếng Việt có nghĩa là lòng dạ nhỏ mọn, hẹp hòi (sắc thái âm tính). Lợi dụng trong tiếng Hán có nghĩa là đồ vật tiện dùng hay sử dụng đồ vật sao cho có lợi (trung tính). Trong tiếng Việt có nghĩa là dựa vào điều kiện thuận lợi nào đó để mưu cầu quyền lợi riêng không chính đáng ( sắc thái âm tính) Về mặt phong cách, từ tiền Hán-Việt do được du nhập sớm nên hầu hết có nội dung biểu đạt những khái niệm cụ thể và được Việt hoá rất sâu ( như: buồng, bình, đục, đuốc mây, mùa, mù, đúng,...). Từ Hán-Việt do được du nhập muộn hơn, khi tiếng Việt đã có những từ biểu thị các sự vật cụ thể thuộc nền văn minh vật chất, cho nên phần lớn chúng được sử dụng để biểu thị những khái niệm trừu tượng thuộc lớp từ văn hóa và được Việt hóa chưa sâu. Trong tiếng Việt chúng mất khả năng sử dụng độc lập, chỉ được sử dụng với tư cách như những yếu tố cấu tạo từ. So sánh từ cỏ và thảo, miệng và khẩu, mặt và nhan...có thể thấy rõ điều đó. Do đó, để hiểu được từ Hán-Việt , người Việt thường đặt nó vào trong các chùm quan hệ. Thí dụ: Thảo > thảo mộc, thu thảo, thảo đường, thảo khấu, thảo dã,... Hòa > hòa hiếu, hòa bình, bất hòa, hòa hoãn, hiền hoà,... Về mặt cấu tạo, từ đa tiết Hán-Việt do phần lớn là mượn từ tiếng Hán nên được cấu tạo theo ngữ pháp Hán. Trong các kết cấu chính phụ, yếu tố phụ bao giờ cũng được đặt trước. Thí dụ: + Ðịnh tố + danh từ. Thí dụ : chính phủ, thủ pháp, thiên tử. thủy điện, ngoại quốc, độc giả, ... + Bổ tố + động từ. Thí dụ: cưỡng đoạt, độc lập, độc tấu, bi quan, ngoại lai, lạm dụng, kí sinh,... Một số lớn từ Hán-Việt cũng được cấu tạo theo kết cấu đẳng lập.Thí dụ: +Danh từ +danh từ. Thí dụ: mô phạm, quy củ, nhân dân, phụ nữ, thư tịch, quốc gia,... +Tính từ +tính từ. Thí dụ: hạnh phúc, phú quý, khổ sở, cơ hàn, phong phú, trang nghiêm thích hợp,... +Ðộng từ +động từ . Thí dụ: tiếp nhận, tàn sát, chiến đấu, thương vong, đả phá, giáo dưỡng,... Có điều cần chú ý là những từ Hán-Việt kiểu này ít có thể đảo vị trí giữa các yếu tố như những từ thuần Việt . Ngoài ra trên cơ sở những yếu tố Hán-Việt này, hàng loạt những từ mới sau đó đã được tạo ra. Người Việt có thể kết hợp yếu tố Hán-Việt với yếu tố thuần Việt để tạo ra từ mới. Thí dụ: binh lính, cướp đoạt, đói khổ, súng trường, kẻ địch, tàu hoả,...
3.4. Từ Hán-Việt hóa.
Từ Hán-Việt Việt hóa là những từ được hình thành trên cơ sở sự biến đổi về mặt ngữ âm, ngữ nghĩa và phong cách của những từ Hán-Việt. So với những từ Hán-Việt, những từ Hán-Việt Việt hóa mang ý nghĩa cụ thể hơn. So sánh: can và gan, đình và dừng , hoạ và vẽ. Có thể nhận thấy sự biến đổi ngữ âm từ âm Hán-Việt sang âm Hán-Việt Việt hoá như sau:
- Về âm đầu: Biến đổi k > g can gan kính gương kiếm gươm cận gần cẩm gấm kí ghi kí gửi cang gang quả goá cưỡng gượng cá gác kỉ ghế cấp gấp kiêm gồm cấp góp (mẹ) kế (mẹ) ghẻ Biến đổi đ > d. đình dừng đao dao đốc dốc (lòng) đai dải đột (xoi thủng) dột đãi dối (trá) Biến đổi b > v. bản vốn bích vách bổ vá bái vái biên ven bút viết Biến đổi h, w > v . họa vẽ hoàn vẹn hoạch vạch hoàn vẹn hồi về họa vạ Biến đổi s > th . sư thày sá tha sả (xả ) thả sơ thưa
- Về phần vần. Những nguyên âm hẹp có khuynh hướng chuyển sang các nguyên âm rộng. Cụ thể, âm /i/ > /e/ , /iê/ > /ê/ , /ê/ > /e/ ,... lí lẽ trĩ trẻ dị dễ tiễn tên thiêm thêm biên bên tích tiếc miêu mèo khê khe lề lệ sơ xưa sự thờ lô lò khố kho hô hò cộng cùng thống thùng lư lừa bảo báu cát cắt hộ họ lự lo nhục nhuốc, nhọc trai chay đắc được hợp họp lượng lạng nương nàng đãi đợi ân ơn uy oai tổ giỗ nguyên nguồn trào trêu thuyết thốt tầm tìm tình tạnh (mưa) lĩnh lãnh viên vườn viên vượn nhiễm nhuộm kiều cầu dạng dáng loại loài tán, tản tan ngạn nhàn thệ thề kế kề
Chú ý:
Từ Hán-Việt cổ và từ Hán-Việt Việt hóa được hình thành từ hai điểm xuất phát khác nhau và ở vào hai thời điểm khác nhau nên không thể có hiện tượng một từ Hán vừa có âm Hán-Việt cổ, lại vừa có âm Hán-Việt Việt hóa. Như vậy là ở Việt Nam, chỉ xảy ra hiện tượng song tồn giữa
a/. Từ Hán-Việt cổ và từ Hán-Việt.
b/. Từ Hán-Việt và Hán-Việt Việt hóa.
Các từ Hán-Việt cổ và từ Hán-Việt Việt hóa có đặc điểm chung là đã được Việt hóa hoàn toàn về các mặt ngữ âm, ngữ nghĩa và phong cách, giống với từ gốc bản địa, chúng có thể hoạt động độc lập trong việc cấu tạo từ và câu. Chính vì vậy có tác giả xếp chúng vào cùng một loại từ gốc Hán không đọc theo âm Hán-Việt hay từ thuần Việt. Tóm lại, những từ gốc Hán trong tiếng Việt chiếm số lượng rất lớn và giữ vai trò quan trọng trong việc biểu đạt tư tưởng, tình cảm của người Việt. Tuy nhiên cần chú ý sử dụng đúng chỗ, đúng lúc mới có thể phát huy được tác dụng to lớn của chúng.
4. Từ vựng gốc Âu - Ấn
4.1. Tình hình tiếp xúc của tiếng Việt với các ngôn ngữ ấn-Âu Quá trình tiếp xúc với ngôn ngữ ấn-Âu bắt đầu từ thế kỉ XIX, sau khi thực dân Pháp hoàn thành việc xâm chiếm nước ta, biến nước ta thành thuộc địa của chúng. Tiếng Pháp là nguồn chủ yếu của những từ gốc ấn-Âu trong tiếng Việt. Sau đó là những từ gốc Anh, Mỹ và cuối cùng là những từ gốc Nga. So với những từ gốc Hán, những từ gốc ấn-Âu chiếm số lượng ít hơn, do chúng được tiếp nhận sau, khi tiếng Việt đã có diện mạo tương đối ổn định . Những từ gốc ấn- Âu chủ yếu được tiếp nhận để diễn đạt những khái niệm thuộc lĩnh vực khoa học, kĩ thuật, hoặc những khái niệm có liên quan đến những sinh hoạt hành chính, công vụ hay quân sự. Cụ thể:
- Từ chỉ những sản phẩm hàng hoá: ximăng, xàphòng, sơmi, len, áo ghilê, ...
- Thuật ngữ khoa học kĩ thuật: ête, ampe, compa, bêtông, canxi, vitamin,...
- Thuật ngữ âm nhạc: acmônica, tănggô, viôlông, guita,...
- Thuật ngữ quân sự, hành chánh: canông, lôcốt, moócchê, ca, kíp, ...
4.2. Cách thức vay mượn:
Có hai cách thức vay mượn: trực tiếp và gián tiếp.
4.2.1. Vay mượn trực tiếp:
Mượn cả âm lẫn nghĩa và dĩ nhiên có sự biến đổi nhất định cho phù hợp hệ thống ngữ âm tiếng Việt.Hình thức ngữ âm có thể biến đổi theo các dạng chủ yếu sau đây:
a/- Chuyển âm:
Những phụ âm đầu hoặc âm cuối nào không có trong tiếng Việt sẽ được chuyển sang một âm gần gũi về phương thức và vị trí phát âm . Cụ thể:
+ Âm cuối / b / , / f / > / p /. Thí dụ: double > đúp, chef > sếp.
+ Âm cuối / d /, / g / , / s / được chuyển sang âm bẹt đầu lưỡi.Thí dụ: Mode > mốt ; vis > vit ; mousse > mut ; chemise > sơmi fromage > phó mát .
+ Âm cuối / z / được chuyển thành / k /. Thí dụ: Fermeture > phẹc mơ tuya ; marge > mac (đường kẻ biên trên tờ giấy ).
+Âm đầu: / p / > /b / . Thí dụ: Palabre > ba láp ; pardessuse > ba đờ xuy.
+ Âm chính có nhiều cách chuyển đổi cho phù hợp. Thí dụ: Timbale > tanh banh ; olive >ô liu ; sausisse > xúc xích ; chef > sếp.
b/-Giảm âm:
Có nhiều cách giảm âm:
+ Giảm đi một phụ âm trong nguyên âm đôi của ngôn ngữ được vay mượn. Fromage > phó mát ; crem > kem ; gram > gam; Riêng với các tổ hợp Bl, Cl , Gl, Pl thì phụ âm thứ hai thường được giữ lại vì L là âm vang và ở vị trí dễ phát âm. Thí dụ: Bloc > lốc ; cyclo > xích lô ; complet > com lê.
+ Giảm hẳn một âm tiết trong nguyên ngữ. Thí dụ: equipe > kip ; course > cua ; caisse > két.
c/- Thêm âm:
có thể thêm âm bằng cách âm tiết hoá các phụ âm đôI hay lặp lại một phụ âm nhằm tạo ra những tù mà âm cuối của âm tiết này trùng với âm đầu của âm tiết đứng sau đó. Thí dụ: Crem > cà rem ; gram > gờ ram ; scandale > xì căng đan. Super > súp pe ; roquette > rốc két ; sacoche > xắc cốt.
d/- Thêm âm:
dưới các hình thức cụ thể sau:
+ Vần mở thường mang thanh ngang hoặc thanh huyền.Thí dụ: Chaland > sà lan ; brancard > băng ca ; depart > đề pa. ( Những trường hợp kiểu kí lô ít khi xảy ra.)
+ Các vần khép tận cùng bằng phụ âm tắc / p/, / t / , / k / dược chuyển sang thanh sắc hoặc thanh nặng. Thí dụ: Lít , xúc xích , mốt , rờ móc , rờ moọc , cạc ( các ) tông. Cần chú ý là những hình thức biến âm trên không biệt lập mà nhiều khi được kết hợp với nhau làm thay đổi hình thức ngữ âm của cùng một từ.
4.2.2. Vay mượn gián tiếp:
Vay mượn gián tiếp dưới hai hình thức: dịch nghĩa và vay mượn thông qua một ngôn ngữ khác.
- Dịch nghĩa hay suy phỏng. Thí dụ: Gardeboue > chắn bùn ; ultrason > siêu âm ; sofware > phần mềm.
- Vay mượn từ của một ngôn ngữ khác thông qua tiếng Hán . Thí dụ, các trường hợp vay mượn ở các từ: câu lạc bộ , Anh, Pháp, Mĩ, Mạnh Ðức Tư Cưu , Kha Luân Bố. Vay mượn trong ngôn ngữ là một hiện tượng tất yếu . Ðồng thời với việc làm giàu cho ngôn ngữ, chúng có tác dụng mở rộng nhận thức về thế giới khách quan của dân tộc trong đà phát triển văn minh chung của xã hội loài người. Vay mượn là cần thiết, tuy nhiên lạm dụng từ vay mượn là điều đáng phê phán.
III. CÁC LỚP TỪ TIẾNG VIỆT XÉT VỀ MẶT TẦN SỐ SỬ DỤNG
Tất cả các từ đều cần thiết và có khả năng tham gia vào hoạt động giao tiếp, tuy nhiên phải thừa nhận rằng mức độ sử dụng của các từ không ngang nhau trong hoạt động giao tiếp của xã hội ở những giai đoạn lịch sử khác nhau. Căn cứ vào tần số sử dụng, có thể chia vốn từ của một ngôn ngữ thành hai loại : lớp từ tích cực và lớp từ tiêu cực.
1. Lớp từ tích cực:
Lớp từ tích cực bao gồm tất cả những từ được dùng hằng ngày, bất cứ ở đâu trong xã hội ở một giai đoạn lịch sử nhất định. Như vậy lớp từ tích cực bao gồm những từ được toàn dân dùng,những từ nghề nghiệp, thuật ngữ, từ địa phương. Cần phân biệt vốn từ tích cực của toàn dân với vốn từ tích cực của cá nhân. Một người không thể biết hết các thuật ngữ, từ nghề nghiệp thuộc các ngành nghề khác nhau, nhưng không phải vì thế mà chúng không thuộc lớp từ tích cực. Dựa vào mức độ bền vững có thể phân lớp từ tích cực ra làm hai nhóm khác nhau:
- Nhóm 1: Gồm những từ rất bền vững, hầu như không thay đổi trong trường kì lịch sử. Ðó là những từ cơ bản chỉ các bộ phận cơ thể, chỉ số đếm, chỉ quan hệ thân thuộc trong gia đình, xã hội, chỉ các hiện tượng nhiên thiên, chỉ trạng thái, tính chất, hành động gắn liền với sinh hoạt hằng ngày.
- Nhóm 2: Gồm những từ chỉ có tần số sử dụng cao trong một thời đoạn lịch sử nhất định. Chúng không có tính bền vững cao, thường không còn được sử dụng nhiều khi lịch sử bước sang một thời kì khác. Thí dụ: tố khổ, ba cùng, ba mũi giáp công, ba vùng chiến lược, vùng da báo, cán gáo,...
2. Lớp từ tiêu cực:
Là những từ ít hay không còn được sử dụng trong cuộc sống đương đại. Thuộc lớp từ tiêu cực có hai loại khác nhau: những từ cũ ít hoặc không được dùng trong cuộc sống đương đại và những từ mới chưa được sử dụng rộng rãi. Trong những từ cũ có thể phân biệt hai loại nhỏ:
- Từ cổ: là những từ biểu thị những đối tượng, sự vật còn tồn tại trong thực tế đương đại, tuy nhiên đã trở nên lỗi thời do sự xuất hiện và phổ biến của một từ đồng nghĩa với nó. Có hai loại từ cổ sau:
+ Những từ cổ đã hoàn tách khỏi ngôn ngữ văn học hiện đại, chúng chỉ được gặp trong các văn bản cổ. Muốn xác định được nghĩa của chúng, phải dựa vào tư liệu ngôn ngữ học lịch sử. Ví dụ: Từ ngữ cổ Nghĩa Ngữ cảnh 1 2 3 am nhà nhỏ của người ở ẩn QÂTT: Am quê về ở dưỡng thân nhàn ầm Nhiều TNNL : Nhân tông từ ấy mừng ầm âu có lẽ TNNL: Mạnh âu như sói, mạnh âu như hầm. áy Héo LTKN : Cỏ áy hoa nhàu phận hẩm hưu. bát Gang QÂTT: Bảy tám mươi bằng một gang tay. bui duy, riêng QÂTT: Bui có một niềm chăng nỡ trễ. chác Mua QÂTT : Túi đã không tiền khôn chác rượu. cóc Biết QÂTT: Thế gian ai có thì cóc dã Hỏi TNNL: Nghĩa thầy tớ cũ cùng ngồi dã nhau dái Sợ TNNL: Triệu Ðà chẳng chút dái vì he hãi TNNL: Minh nhân bại trận dái he. khôn khó, không thể QÂTT: Khôn biết lòng người vắn dài khởi Khỉ TNNL: Mặt nhăn như khởi mình gầy như ve khứng muốn, chịụ QÂTT: Thuyền mọn còn chèo chẳng khứng đỗ. lọ huống chi QÂTT: ẩn cả lọ chi thành thị nữa mảng mải QÂTT: Quân tủ ai chẳng mải danh. min tôi, tao TNNL: Sớm ngày min đI chợ trưa. mỡ chẳng TNNL: Mỡ lo rằng sự nguy nàn làm chi. mựa chớ, đừng QÂTT: Làm người mựa cậy khi quyền thế. phen sánh QÂTT: Bằng rồng nọ ai phen kịp. tải đời TNNL: Hai mươi tá tải dân càng xót xa. thác Vén TNNL: Tay thác rèm châu rén rén ngồi. tộ phù hộ TNNL: Thấy trời còn tộ nước rày muôn năm. xoa Hẩm QÂTT: Bát cơm xoa nhờ ơn xã tắc. nhẫn Tới QÂTT: Nguyệt bao nhiêu kiếp nhẫn nay. lăm rắp tâm QÂTT: Quân tủ hãy lăm bền chí cũ. chốc mòng, nhặt mong nhớ luôn luôn QÂTT: Cảnh cũ non quê nhặt chốc mòng. duồng Bỏ QÂTT: Lành người đến dữ người duồng. nghỉ, nghĩ nó, va Kiều: Gia tư nghĩ cũng thường thường bậc trung. dái Nể TN: Khôn cho người ta dái, dại chongười ta thương. vâm Voi Th.N: Khoẻ như vâm đọi bát Th N: Ăn không nên đọi, nói không nên lời đăm chiêu phải trái Th.N: Chân đăm đá chân chiêu. cái Mẹ Th.N: Con dại cái mang. tày bằng, ngang với TN: Học thầy không tày học bạn. Th.N: Tội tày trời ; tội tày đình vóc Nhiều Th.N: Ăn vóc học hay.
+ Những từ cổ còn để lại dấu vết trong tiếng Việt hiện đại nhưng ý nghĩa đã bị lu mờ vì chúng không được dùng độc lập nữa.Ví dụ: từ cổ Dấu tích ngữ cảnh bỏng bé bỏng TNNL: Trẻ thơ bỏng dại thiếu người lo toan. dấu yêu dấu TNNL: Loan nâng phượng dắt trăm chiều dấu. dẻ khinh dẻ TNNL: Thúc Loan dả thằng bé con. dông dông dài TNNL: Hoàn rằng già lẫn nói dông. đỉnh đủng đỉnh TNNL: Ðỉnh ngoài đường đắp chơi bời ngâm thi. đon đon đả PT: Tối than trăng chị ngày đon gió dì. giã từ giã TNNL: Giã con giã vợ một khi. gìn giữ gìn TNNL: Gìn lòng sự cả vẹn bề. han hỏi han QÂTT: Khó ở kinh thành thiếu kẻ han hổ xấu hổ TNNL: Hai người hổ nước thẹn vua vẫn mình. kham kham khổ TNNL: Kham loạn lấy vũ trị dùng lấy văn. lăm lăm le TNNL: Những lăm ra chí phục thù. le song le TNNL: Muốn ai le chẳngcó rằng ai hay. lệ e lệ TNNL: Cờ ai nấy phất lệ chi. mài miệt mài TNNL: Hoàng hậu cầm giáo đâm mài. nề nề hà PT: Chớ nề dưa muối am mây. nệ câu nệ PT: Rút dây chẳng nệ động rừng. ngặt nghèo ngặt QÂTT: Chẳng âu ngặt, chẳng âu già. ngõ ngõ hầu TNNL: Dấu tìm ngõ dược một nhà gặp nhau. ngơi nghỉ ngơi TNNL: Ơn vua cáo lão nhàn ngơi. pha xông pha TNNL: Quân ân phải lối ngựa pha. rỡ rực rỡ Kiều: Rỡ mình lạ vẻ cân đai. ruồng ruồng rẫy QÂTT: Lành người đến dữ người ruồng. tác tuổi tác TNNL: Thái công trí độ tác nhiều. thốt thưa thốt TNNL: Mụ già thấy thốt mỉm cười. toan lo toan TNNL: Ðược thì toan cho kịp thì. trốc trốc đầu QÂTT: Hổ xanh xanh ở trốc đầu. vạnh vành vạnh TNNL: Mổt son vạnh tựa Hằng Nga. vầy vui vầy QÂTT: A³ng cúc thông quen vầy bầu bạn. vì vì nể PT: Chẳng yêu chẳng ghét chẳng vì.võ võ võ vàng PT: Xem hoa dường võ xem đào đường phai. xôn xôn xao TNNL: Dân ngoài An Quảng sợ xôn. đam đam mê QÂTT: Sắc là giặc đam làm chi. lác lác đác QÂTT; Khách đến vườn còn hoa lác.
- Từ lịch sử: Là những từ ít dược dùng do sự biến mất của đối tượng được gọi tên hay do các quy định xã hội. Ví dụ:
+ Tên gọi những chức tước phẩm hàm thời xưa: án sát, bát phẩm, chánh hội, chánh tổng, cung, phi, cửu phẩm, công sứ, hoàng hậu, lãnh binh, lí trưởng, phó lí, ngự sử, tham tri, thái thú, thư l