THÔNG BÁO

  THỜI GIAN GẦN ĐÂY MỘT SỐ BẠN LỢI DỤNG  WEBSITE NÀY ĐỂ ĐƯA RA NHỮNG PHÁT NGÔN KHÔNG TỐT. CHO NÊN CHÚNG TÔI TẠM THỜI ĐÓNG WEBSITE LẠI ĐỂ NÂNG CẤP NHẰM HẠN CHẾ MỘT SỐ HÀNH VI KHÔNG TỐT LÀM ẢNH HƯỞNG ĐẾN DIỄN ĐÀN .CÁC BẠN CÓ THẮC MẮC XIN LIÊN HỆ : phanthanhhung90@gmail.com
CHƯƠNG V: VĂN NGHỆ, MỘT HÌNH THÁI Ý THỨC XĂ HỘI ĐẶC THÙ
I. ĐẶC TRƯNG CỦA ĐỐI TƯỢNG VÀ NỘI DUNG CỦA VĂN NGHỆ
1. Đặc trưng đối tượng của văn nghệ
a. Đối tượng chung
Không có đối tượng thì không có nhận thức. Đối tượng là điều kiện khách quan của nhận thực. Văn nghệ là một h́nh thức ý thức xă hội, một h́nh thức nhận thức, vậy, đối tượng của nó là ǵ? Nhận thức luận Mác xít chỉ rơ : tồn tại khách quan quyết định ư thức con người "ư thức con người không có ǵ khác hơn là tồn tại được ý thức" (C. Mác). Văn nghệ là một trong những h́nh thái ư thức xă hội ; cho nên, đứng ở góc độ nhận thức luận,đối tượng của văn nghệ cũng là đối tượng của nhận thức nói chung: đó là tồn tại khách quan. Biélinski khẳng định: "Chỗ khác nhau giữa khoa học và nghệ thuật không phải ở nội dung mà ở phương pháp sáng tạo ra nội dung". Plékhanov cũng có ư kiến tương tự: "Đối tượng của triết học cũng đồng thời là đối tượng của nghệ thuật". Theo chủ nghĩa triết học th́ không có sự phân biệt giữa đối tượng của khoa học và đối tượng của nghệ thuật. Hiện thực phong phú vô cùng vô tận của tự nhiên và xă hội là đối tượng của nghệ thuật. Biélinski đă từng xác nhận: "Tất cả thế giới, tất cả những bông hoa, màu sắc và âm thanh, tất cả các h́nh thức của tự nhiên và đời sống đều có thể là những hiện tượng của thơ ca". Xác định một phạm vi phản ánh rộng lớn như vậy của nghệ thuật là để khẳng định khả năng to của văn chương trong việc miêu tả và phản ánh. Nhưng sẽ sai lầm nếu đánh đồng đối tượng của khoa học và đối tượng của nghệ thuật. Cần phải phân biệt tồn tại khách quanvà đối tượng (với ư nghĩa đích xác của từ này). Tồn tại khách quan là cơ sở của mọi hoạt động nhận thức và cải tạo của con người. nhưng tồn tại khách quan là vô cùng tận, muôn màu muôn vẻ, mang nhiều phương diện và nhiều tính chất khác nhau. Mỗi một h́nh thức nhận thức của con người chỉ có thể hướng chủ yếu vào một phạm vi nào đó của khách thể và trong phạm vi đó lại quan tâm đến những tính chất nào đó mà thôi, tùy thuộc vào mục đích, yêu cầu, năng lực của ḿnh. Mặt trời làm cho nhiều nhà khoa học quan tâm, nhưng nhà hóa học chú ư đến những phản ứng hóa học, nhà vật lí quan tâm đến nguồn nhiệt năng, nhà sinh vật quan tâm đến nguồn ánh sáng của nó, c̣n nhà thơ chú ư đến khả năng gây hứng thú ở con người. - Mặt trời là trái tim anh Mặt trăng vành vạnh là t́nh của em - Thấy anh như thấy mặt trời Chói chang khó ngó, trao lời khó trao. Viện sỹ T. Pavlov đă chỉ rơ: cả trong tự nhiên lẫn trong xă hội không hề có những đối tượng vật lí, hóa học, mĩ học thuần túy, nhưng mỗi đối tượng ấy lại có những thuộc tính khiến nó thu hút sự chú ư của nhà vật lí, nhà hóa học, nhà nghệ thuật. Như thế, đối tượng của một h́nh thức nhận thức nào đó là những thuộc tính nào đó của một phần khách thể.
b. Đối tượng đặc trưng
Vậy đối tượng đích thực của văn nghệ là gì? Cái làm cho nhà nghệ thuật quan tâm trước tồn tại khách quan là ì́? Trả lời vấn đề này Chernychevski đă khẳng định phạm vi của nghệ thuật "bao hàm trong nó tất cả những gì có trong hiện thực (trong tự nhiên và trong xă hội) khêu gợi được hứng thú của con người - không phải với tư cách là học giả mà với tư cách là con người b́nh thường; cái mọi người quan tâm trong đời sống - đó là nội dung của nghệ thuật ". Trong đời sống, con người có 2 mối quan tâm lớn : mối quan tâm tới tự nhiên và mối quan tâm tới xă hội. Tức chính là 2 mối quan hệ đảm bảo cho con người tồn tại và phát triển : quan hệ tự nhiên và quan hệ xă hội. Hai mối quan hệ này quay quanh một trung tâm là con người. chính những mối quan hệ quay quanh con người này là trung tâm chú ý của nghệ sĩ. Nếu như đối tượng của khoa học là sự vật, hiện tượng tồn tại độc lập với ư thức con người th́ đối tượng của nghệ thuật là tất cả những ǵ quan hệ với con người, là hiện thực trong quan hệ của nó đối với con người. Hay nói chính xác hơn, đối tượng của nghệ thuật là những mối quan hệ có tính người của thế giới. Nhà khoa học và nhà nghệ thuật cũng quan tâm tới thế giới tự nhiên. Nhưng đối tượng của nhà khoa học sẽ là bản chất, quy luật vận động, thuộc tính phổ quát độc lập khách quan với ư thức con người th́ nhà nghệ thuật lại chọn cho ḿnh trong giới tự nhiên những phương diện liên quan đến ư thức con người, đến tư tưởng, t́nh cảm của con người, đến đời sống tinh thần của con người. chẳng hạn, mưa đối với nhà khoa học là quá tŕnh ngưng tụ của hơi nước khi gặp lạnh và rớt xuống. Nhưng mưa đối với nhà thơ bao giờ cũng có hồn người ở trong đó. Nặng ḷng xưa hạt mưa đau Mát ḷng nay trận mưa mau quê nhà (Tố Hữu) Đêm mưa làm nhớ không gian Ḷng run thêm lạnh nổi hàn bao la Tai nương nước giọt mái nhà Nghe trời nằng nặng, nghe ta buồn buồn (Huy Cận) Ôi cơn mưa quê hương Đă ru hồn ta thuở bé Đă tắm nặng ḷng ta t́nh yêu chớm hé Nghe tiếng mưa rơi trên tàu chuối bẹ dừa Thấy mặt trời lên khi tạnh những cơn mưa Ta yêu quá như lần đầu mới biết Ta yêu mưa như yêu ǵ tha thiết (Lê Anh Xuân) Thời tiết ở Trường sơn đối với nhà thiên văn, địa lí khác hẳn đối với nhà thơ. Tố Hữu nghĩ về mưa - nắng Trường sơn. Trường sơn Đông nắng Tây mưa Ai chưa đến đó như chưa rõ mình
Còn Phạm Tiến Duật :
Anh lên xe trời đổ cơn mưa
Cái gạt nước xua đi nỗi nhớ
Em xuống núi nắng về rực rỡ
Cái nhành cây gạt mối riêng tư.
Thế giới tự nhiên là vô cùng, vô tận, vô thủy vô chung và thế giới nghệ thuật cũng vô cùng phong phú. Khó có thể và không thể thống kê ra rằng bộ phận nào trong thế giới hiện thực được nhà văn quan tâm nhiều hơn cả. Từ thế giới vi mà đến thế giới vỉ mô, từ hữu sinh đến vô sinh đều có thể xuất hiện trong nghệ thuật. Nhưng khi chúng đă xuất hiện trong nghệ thuật th́ bao giờ cũng là bộ phận tự nhiên bị con người đồng hóa, tiềm ẩn, kết tinh một quan hệ người ở trong đó. Đối với thế giới tự nhiên, nghệ thuật t́m cho ra một quan hệ người kết tinh ở trong đó, th́ đối với thế giới xă hội, nghệ thuật càng quan tâm đến quan hệ này. Quan hệ người ở đây chính là quan hệ xă hội. Nếu bản chất của con người là tổng ḥa của những mối quan hệ xă hội th́ văn nghệ đă biết xác định cho ḿnh đối tượng trong thế giới con người cái bản chất nhất, đó là bản chất xă hội. Nghệ thuật t́m ra cho ḿnh những "kiểu quan hệ xă hội" ở trong con người. Con người là một sinh vật của tự nhiên, một bộ phận của hiện thực. Trong nó, một mặt tồn tại những quy luật của sinh vật, mặt khác tồn tại những quy luật xă hội. Quy luật, bản chất xă hội, quan hệ xă hội của con người là đối tượng của nghệ thuật. Nếu không nhận thức được, hoặc cố t́nh xuyên tác đặc trưng đối tượng của nghệ thuật thì nhà văn sẽ phạm sai lầm nghiêm trọng trong quá tŕnh sáng tạo. Chủ nghĩa tự nhiên, Chủ nghĩa Freud … đă dùng những quy luật sinh học để giải thích con người. Con người trong nghệ thuật của họ không phải con người xă hội mà là con vật - người. Con người hoàn toàn bị bản năng sinh vật chi phối. Đối với tự nhiên, nghệ thuật lưu tâm đến quan hệ người kết tinh trong đó; đối với xă hội, nghệ thuật quan tâm đến những quan hệ xă hội, chính v́ vậy mà người ta đă xác định đối tượng chủ yếu của nghệ thuật là con người. Con người là phạm vi hiện thực chủ yếu mà nghệ thuật quan tâm. Nhưng sẽ không chính xác nếu nói đối tượng của nghệ thuật là con người một cách chung chung. Nếu hiểu theo nghĩa này con người là đối tượng của hàng loạt khoa học (tự nhiên và xă hội) chứ đâu có riêng v́ nghệ thuật. Khác với khoa học, con người trong nghệ thuật là trung tâm, kết tinh của những quan hệ. Con người trong nghệ thuật được miêu tả từ rất nhiều phương diện kinh tế, chính trị, lao động, sản xuất, tinh thần, vật chất, bên trong, bên ngoài … Nhưng cũng sẽ không chính xác nếu nói con người trong nghệ thuật là con người đa diện. Con người trong nghệ thuật không phải là tổng số các tri thức nghiên cứu về con người của các khoa học. Quan hệ xă hội của con người gắn chặt với những phẩm giá tinh thần của nó. Quan hệ xă hội, phẩm giá tinh thần là thế giới vô h́nh - thế giới vô h́nh đó được hun đúc từ thế giới hữu h́nh ở con người. Thế giới vô h́nh càng phong phú phức tạp th́ thế giới hữu h́nh càng phong phú và phức tạp. Chính đối tượng của nghệ thuật là những quan hệ xă hội - những phẩm giá tinh thần sẽ khiến cho người nghệ sĩ quan tâm toàn diện về con người. Như thế, nghệ thuật không lấy miêu tả con người toàn diện làm mục đích mà như là phương tiện để lí giải những kinh nghiệm quan hệ. Do đó, không phải mặt nào của đời sống con người cũng được nghệ thuật quan tâm và không phải những mặt được quan tâm đều có được sự quan tâm ngang nhau. Như nhiều khoa học xă hội khác, nghệ thuật đặt cho ḿnh mục đích t́m hiểu bản chất xă hội con người. Nhưng nghệ thuật không đặt ra cho ḿnh nhiệm vụ khái quát trừu tượng bản chất xă hội của con người như trong chính trị, lịch sử … Nghệ thuật tái hiện và tái tạo bản chất xă hội của con người. Muốn vậy, nghệ thuật phải có miêu tả những mặt bản chất xă hội cụ thể. Do đó, trong nghệ thuật con người xuất hiện như là những cá nhân, những số phận, những tính cách. A. Drémov phân biệt : " … Khi phản ánh những quan hệ đối kháng giữa công nhân và tư bản nào trong tác phẩm nghệ thuật, th́ chúng ta không trực tiếp tŕnh bày các công thức của quy luật giá trị thặng dư (đó là nhiệm vụ của chính trị kinh tế hoc). Nghệ thuật miêu tả những biểu hiện của quy luật ấy trong số phận những cá nhân con người". Trung tâm chú ư của con người trong chính trị, lịch sử là những sự kiện, quy luật đă được trừu tượng hóa. Nghệ thuật có sứ mệnh tái hiện con người với yêu cầu giữ cho được cá tính riêng biệt, sinh động, bảo đảm cho con người có sức sống, hoạt động và phát triển như trong hiện thực. Con người trong nghệ thuật là con người xă hội, đồng thời là con người cá tính… H. Heine nói: "Mỗi con người là cả một vũ trụ … Dưới mỗi tấm mộ bia - có chôn cất cả một pho sử toàn thế giới".
2. Đặc trưng nội dung của văn nghệ
Cần thiết phải phân biệt đối tượng và nội dung của văn nghệ. Giữa đối tượng và nội dung của văn nghệ có sự thống nhất nhưng không đồng nhất. Đối tượng là cái tồn tại khách quan, c̣n nội dung là tồn tại khách quan đă được chiếm hữu bởi chủ quan. Đối tượng là khách thể của nhận thức, c̣n nội dung là sự nhận thức khách thể bởi chủ thể. Nội dung là đối tượng đă được ư thức. tái hiện, tái tạo, khái quát, đánh giá cho phù hợp với t́nh cảm, tư tưởng, lí tưởng của nhà văn. V́ vậy, mặc dù nói văn nghệ phản ánh cuộc sống, nhưng đặc trưng nội dung của văn nghệ không phải ở chỗ những bức ảnh chụp về đời sống. Giá trị nội dung của văn nghệ không phải là ở sức chứa ngồn ngộn những chi tiết sự thực về đời sống, cũng không phải ở sự "tương đương xă hội học" giữa cái được phản ánh (đời sống) và cái phản ánh (tác phẩm). Đặc trưng nội dung của văn nghệ là thế giới chủ quan của nghệ sĩ được bộc lộ trước những vấn đề đời sống phản ánh trong tác phẩm : Trước hết, nội dung của văn nghệ thể hiện rơ khát vọng của nghệ sĩ muốn thể hiện một quan niệm về chân lí đời sống, về đời sống chân, thiện, mĩ. Cuộc sống trong tác phẩm là cuộc sống theo một quan niệm, theo đề nghị, yêu cầu của nhà văn - cuộc sống cần có nên có chứ không chỉ vốn có. Thứ đến, nội dung của văn nghệ là cảm hứng Mácnh liệt của nhà văn trước những vấn đề đời sống. Nhà văn bao giờ cũng muốn khẳng định điều này, phủ nhận điều kia, tôn thờ điều nọ. Cuối cùng, nội dung văn nghệ là cuộc sống được lí giải, đánh giá, biểu hiện theo một khuynh hướng tư tưởng nhất định phù hợp với xu hướng tư tưởng nhất định trong cuộc sống. Tóm lại, nội dung của nghệ thuật là hiện thực được nh́n nhận dưới con mắt của nghệ sĩ, thấm đượm khát vọng, nhiệt t́nh của nghệ sĩ, được tŕnh bày, lí giải dưới ánh sáng của thế giới quan, lí tưởng thẩm mĩ nhất định.
II. ĐẶC TRƯNG PHƯƠNG TIỆN NHẬN THỨC CỦA VĂN CHƯƠNG
1. Hình tượng, phương tiện nhận thức của văn nghệ
Xác định phương tiện nhận thức của văn chương là xác định tế bào của cơ thể sống, xác định yếu tố cơ bản để cấu thành tác phẩm văn chương, xác định công cụ tiếp cận cuộc sống của nhà văn, xác định cơ sở cho sự tồn tại của Khoa nghiên cứu văn chương và cơ sở tiếp thu văn chương của người thưởng thức. Đơn vị cơ bản (hoàn chỉnh, nhỏ nhất, có ư nghĩa) là điều kiện tồn tại của thế giới và là điều kiện tồn tại cho các h́nh thức nhận thức về thế giới. Mọi sinh vật trên trái đất đều được cấu tạo bằng tế bào (đơn bào hoặc đa bào). Tế bào là đơn vị sống nhỏ nhất. Sinh vật học lấy tế bào làm xuất phát điểm. Thế giới vật chất nói chung được cấu tạo bằng những nguyên tử. Nguyên tử là đơn vị trọn vẹn nhỏ nhất có ư nghĩa của vật chất. Nó là điều kiện tối thiểu của sự tồn tại vật chất. Trong khoa học tự nhiên đă vậy, trong khoa học xă hội cũng cần phải như vậy. Chính Mác đă nghiên cứu chủ nghĩa tư bản bắt đầu từ "hàng hóa". Bằng việc nghiên cứu hàng hóa, Mác đă thấy được bản chất mâu thuẫn của chủ nghĩa tư bản. Lênin, trong tác phẩm "Bút kư triết học" phần "về phép biện chứng" đă chỉ cho ta thấy điều đó: Trong Tư bản, Mác đă phân tích trước hết cái đơn giản nhất, quen thuộc nhất, chung nhất, thông thường nhất, cái thường gặp đến hàng ngh́n triệu lần, mối quan hệ xă hội tư sản (xă hội thương phẩm): sự trao đổi hàng hóa, sự phân tích phát hiện trong cái đơn giản ấy (trong cái "tế bào" của xă hội tư bản) tất cả những mâu thuẫn,tức là tất cả những mầm móng của mọi mâu thuẫn xă hội hiện đại. Sau đó, sự tŕnh bày của Marx vạch cho chúng ta thấy sự phát triển (cả sự lớn lên và sự vận động) của các mâu thuẫn ấy trong tổng số các bộ phận của nó, từ lúc bắt đầu cho đến lúc kết thúc của xă hội". Vậy, đối với văn chương nghệ thuật đơn vị cơ bản là ǵ? Tế bào đă cấu tạo nên cơ thể sống - chính thể tác phẩm là gì? Đă có ý kiến cho rằng từ là đơn vị cơ bản của tác phẩm văn chương. Đành rằng, văn chương là nghệ thuật ngôn từ, ngôn từ là yếu tố thứ nhất của văn chương, tác phẩm văn chương là sự tổ chức ngôn từ theo một cách thức nào đó. Nhưng nếu xem từ là phương tiện nhận thức, là đơn vị cơ bản của tác phẩm th́ sẽ không phân biệt được chất liệu cấu tạo nên tác phẩm với phương tiện nhận thức. Triết học, chính trị, và nhiều khoa học khác, tác phẩm của nó cũng là những ngôn từ. Vấn đề là tại sao cũng được xây dựng từ ngôn từ nhưng tác phẩm này là triết học, chính trị, khoa học … còn tác phẩm kia lại là nghệ thuật. Hơn nữa, ngôn từ là phương tiện giao tiếp, là công cụ giao tế, nó là của cải chung của xă hội chứ không phải của riêng nhà văn. Lại có ư kiến cho rằng h́nh ảnh là tế bào của tác phẩm. Ư kiến này phần nào thấy được sự khác biệt giữa nghệ thuật ngôn từ và ngôn từ phi nghệ thuật. Nhưng, h́nh ảnh chỉ là sự phản ánh những thuộc tính của ngoại giới vào đầu óc con người. Nó mang tính chất tri giác. Nó chưa phải là kết quả của một sự nhận thức đúng đắn. Mặt khác, h́nh ảnh không phải là gia tài riêng của nghệ thuật. Trong các tác phẩm ngôn từ không phải nghệ thuật ta vẫn thường bắt gặp các h́nh ảnh. Những h́nh ảnh đó có tác dụng minh họa cho các phán đoán và kết luận trừu tượng, làm cho các kết luận ấy rơ ràng, sinh động và trực quan. Chẳng hạn, các nhà thiên văn nghiên cứu về sao chỗi halây, ngoài việc khái quát nên bản chất và quy luật vận động của nó th́ họ đă không thể không mô tả về nó và đặc biệt là chụp những bức ảnh về nó để minh họa cho kết quả của ḿnh. Trong văn chương, "cái chung nhất, cái quen thuộc nhất, cái thường gặp hàng ngh́n triệu lần" đấy là h́nh tượng. Người sáng tác luôn luôn trăn trở, suy nghĩ, phấn đấu cho sáng tác của ḿnh có h́nh tượng đạt chất lượng cao. Doboline nói : đối với tôi "h́nh tượng luôn luôn nằm ở đầu ng̣i bút". Biélinski cho rằng "nhà thơ tư duy bằng h́nh tượng, nhà thơ không chứng minh mà tŕnh bày chân lí" . Ipxen: "Trước khi viết ra giấy một chữ nào,tôi cần nắm chắc h́nh tượng đă nảy sinh trong tôi". Tchekhov, ở trong đầu ông h́nh thành "cả một đội ngũ sẵn sàng chờ lệnh". Gorky gọi văn chương là khoa học về con người và "nghệ thuật bắt đầu nói mà độc giả quên mất tác giả, chỉ trông thấy và nghe thấy những con người do tác giả tŕnh bày trước độc giả". Nếu nhà văn không xây dựng được h́nh tượng th́ tác phẩm của anh ta sẽ rơi vào lí thuyết khô khan trừu tượng. Trường Chinh đă có một so sánh thú vị: Không long lanh h́nh tượng Chắp cánh ước mơ Th́ thơ đó chỉ thua vè một chút. Vè, diễn ca thực sự là loại văn vần minh họa chủ trương đường lối. H́nh tượng là phương tiện cơ bản, độc lập duy nhất để nhà văn nhận thức cuộc sống. Nghệ thuật và khoa học là hai h́nh thức nhận thức cơ bản của con người. chúng thống nhất với nhau ề mục đích nhận thức : phát hiện ra quy luật, bản chất của thế giới để giúp con người tiến hành cải tạo thế giới ngày càng tích cực hơn. Khoa học và nghệ thuật tồn tại bên nhau để bổ sung cho nhau; làm cho nhận thức con người phong phú toàn diện, làm cho đời sống vật chất và tinh thần của con người được đầy đủ. Nhưng khoa học và nghệ thuật không bài trừ lẫn nhau chính v́ chúng có những đặc trưng riêng. Chẳng hạn, nghệ thuật và khoa học đều có chức năng nhận thức thế giới. Nhưng đặc trưng chức năng nhận thức của nghệ thuật là ở chỗ không chỉ góp phần vào việc nhận thức thế giới mà c̣n giúp con người bồi dưỡng tâm hồn dưới ánh sáng của một lí tưởng đạo đức và thẩm mĩ nhất định. Năng lực gây cảm xúc là một đặc tính tất yếu của nghệ thuật. Song, sự khác nhau quan trọng mà ta cần đặc biệt chú ư là ở phương tiện nhận thức của chúng. Khoa học nhận thức thế giới bằng công thức , định lí, định luật, khái niệm … trừu tượng. C̣n nghệ thuật nhận thức thế giới bằng hình tượng cụ thể, cảm tính, trực tiếp. Đến với một tác phẩm khoa học là đến với những công thức định lí, định luật, khái niệm. Tất cả những cái đó là h́nh thức tóm gọn bản chất thế giới muôn màu lại. Quá tŕnh thâm nhập sau vào bản chất thế giới là quá tŕnh nhà khoa học trừu tượng hóa các điểm cá biệt riêng lẽ của từng hiện tượng, sự vật để rút ra thuộc tính chung nhất của đối tượng. Thuộc tính chung nhất được biểu thị bằng một khái niệm nhất định. Chẳng hạn, sau quá tŕnh nghiên cứu về nước từ nhiều thứ nước khác nhau người ta đă t́m ra thuộc tính cơ bản của nước là tổng hợp của hai chất Hydro và Oxy, cứ một phân tử nước có hai nguyên tử Hydro và một nguyên tử Oxy. Và người ta kư hiệu H2O. H2O là công thức trừu tượng và là một sự kư hiệu , quy ước. Công thức này không hề gợi cho ta một sự liên hệ trực tiếp nào giữa nó với nước cả. Một ngành khoa học sẽ có một hệ thống những khái niệm, công thức trừu tượng, có nội dung được xác định rơ ràng, chặt chẽ. Hệ thống những khái niệm, thuật ngữ, công thức là phương tiện nhận thức thế giới của nhà khoa học, là phương tiện truyền thụ kiến thức của nhà khoa học đến người khác, cũng tức là phương tiện tư duy của nhà khoa học. Do đó mà người ta nói nhà khoa học tư duy bằng khái niệm. Nhưng đến với nghệ thuật, ta không đến với những công thức khô khan trừu tượng. Đến với nghệ thuật là đến với "thế giới đă qua bàn tay nhào nặn của con người nhưng chung quy vẫn là ở dạng thái cuộc sống". Nghĩa là thế giới qua nghệ thuật không bị khô đi, cứng lại trừu tượng hóa ra. Một pho tượng, một bức tranh, một điệu múa, một cuốn phim ta không hề thấy công thức hay một khái niệm nào cả mà chỉ thấy những cảnh đời, những con người, những phong cảnh thiên nhiên có h́nh dáng, diện mạo, màu sắc, âm thanh, đường nét cụ thể. Ở đây, bằng giác quan ta có thể trực tiếp nh́n thấy, nghe thấy và cảm thấy h́nh hài cuộc sống. Trong nghệ thuật có một sự nhập nhằng thú vị : nội dung của nó là sự phản ánh về đời sống, là ư thức tư tưởng của tác giả nhưng nhiều lúc người ta tưởng đó chính là cuộc sống. Có người kể rằng khi đọc xong truyện Pḥng số 6 của Tchekhov Lénine đă nói với chị của ḿnh rằng : "Tôi không thể ngồi trong pḥng của ḿnh được nữa, tôi đứng dậy và đi ra ngoài. Tôi có cảm giác là chính tôi đang bị giam trong pḥng số 6 đó". Mặc dầu Lénine rất tán thành ư kiến sau đây của Feuerbach: "Nghệ thuật không đ̣i hỏi người ta thừa nhận các tác phẩm của nó như là hiện thực". Nhưng chính Lénine đă bị nghệ thuật cuốn hút đến mức tưởng nó là sự thực ngoài đời. H́nh thức phản ánh đời sống như đă nói trên, theo Tchernychevski là phản ánh hiện thực dưới "h́nh thức đời sống". Biélinski đă so sánh 2 cách nhận thức thế giới của khoa học và nghệ thuật như sau: "Tự vũ trang bằng những con số thống kê để tác động vào trí tuệ của thính giavà độc giả, nhà chính trị kinh tế học chứng minh rằng t́nh h́nh của một giai cấp nào đó đang hưng thịnh hay đang suy đồi do những hậu quả của những nguyên nhân nào đó … C̣n nhà thơ vũ trang bằng những h́nh ảnh trong sáng và sinh động của hiện thực trong một bức tranh chân thực để tác động đến trí tưởng tượng của độc giả ḿnh, cho thấy t́nh h́nh của một giai cấp nào đó đang hưng thịnh hay đang suy đồi do những nguyên nhân nào đó … Một đằng là chứng minh, một đằng là biểu hiện và cả hai đều thuyết phục, một đằng chỉ có lí là logic, c̣n một đằng là những bức tranh. "Những bức tranh" đời sống đấy là những h́nh tượng. H́nh tượng chính là phương tiện nhận thức và phản ánh hiện thực của nhà văn, là môi giới giữa nhà văn và bạn đọc, là phương tiện truyền đạt tư tưởng, t́nh cảm của nhà văn tới bạn đọc. H́nh tượng là ngôn ngữ của nghệ sĩ, là ngôn ngữ đích thực của nghệ thuật. Công cụ giao tiếp của tác giả với độc giả là h́nh tượng chứ không phải là ngôn ngữ hàng ngày. Ngôn ngữ hàng ngày ngoài xă hội là công cụ giao tiếp của xă hội chỉ là chất liệu vật chất để xây dựng nên h́nh tượng. Người ta gọi người nghệ sĩ tư duy bằng h́nh tượng.
2. Những thuộc tính cơ bản của h́nh tượng văn chương.
a. Phản ánh và sáng tạo. Phản ánh hiện thực là quy luật của văn chương.
Tác phẩm nghệ thuật là h́nh ảnh của thế giới khách quan. Tuy vậy, không được đánh đồng khái niệm "hình tượng" trong nhận thức luận (triết học) với "hình tượng" trong lí luận văn học. Trong triết học, khái niệm h́nh tượng hiểu là bất kỳ một sự phản ánh nào về ngoại giới vào trong ư thức con người. Ở đây, "h́nh tượng" đồng nghĩa với "h́nh ảnh" Lénine viết: ... Cảm giác, tri giác, biểu tượng và nói chung, ý thức của con người là hình ảnh của thực tại khách quan. Trong nghệ thuật, h́nh tượng nghệ thuật không phải là bất kỳ một sự phản ánh nào về hiện thực mà là một sự phản ánh được ghi giữ lại trong một chất liệu của một loại h́nh nghệ thuật nhất định. Cụ thể, trong tác phẩm nghệ thuật sự phản ánh về hiện thực phải có được một sự tái hiện có nghệ thuật trong một chất liệu nhất định của một loại h́nh nghệ thuật cụ thể. Như thế, nghệ thuật bao gồm cả tư duy h́nh tượng và cả hoạt động thực tiễn nhất định sự sáng tạo nghệ thuật, sự nhào nặn thẩm mĩ một chất liệu nhất định. Nghệ thuật vừa tư duy (bằng h́nh tượng) vừa là hoạt động thực tiễn trực tiếp. Được vật chất hóa ở trong một tác phẩm nghệ thuật cụ thể, nghệ thuật tồn tại như một khách thể tinh thần trong dạng các giá trị nghệ thuật nhất định. Ở đây, tác phẩm nghệ thuật cũng là tự nhiên thứ hai như tất cả những ǵ được tạo ra bằng bàn tay khối óc của con người. Với tư cách là một h́nh thái đặc thù của ư thức xă hội, nghệ thuật chính là một sự thống nhất liên tục của nhận thức h́nh tượng về hiện thực và sự tái hiện cảm tính - cụ thể hiện thực trong chất liệu của một loại h́nh nghệ thuật . Do đó, không được xem h́nh tượng chỉ là một kiểu tư duy (tư duy h́nh tượng) mà nó c̣n là một hành động thực tiễn vật chất - hoạt động sáng tạo, tạo ra một sự vật mới, tạo ra hiện thực khách quan. H́nh tượng văn chương được vật chất hóa nhờ chất liệu ngôn ngữ. Nó vừa là ư thức tư tưởng của nhà văn vừa là tài năng sáng tạo - nhào nặn chất liệu ngôn ngữ của nhà văn. Tuy vậy, không được xem phản ánh và sáng tạo như là 2 giai đoạn của việc xây dựng h́nh tượng theo nghĩa , nhà văn có sẵn h́nh tượng tinh thần ở trong đầu óc sau đó, t́m và khoác cho nó một bộ áo vật liệu cụ thể nào đó. Thực ra, trước khi được vật chất hóa ra, h́nh tượng nghệ thuật đă tồn tại trong óc người nghệ sĩ, nghĩa là đă bao hàm sự sáng tạo trong ư thức tư tưởng. Lénine viết ư thức con người không chỉ phản ánh thế giới khách quan mà c̣n sáng tạo ra thế giới khách quan. H́nh tượng nghệ thuật không phải là một bức ảnh chụp, một h́nh ảnh thu được trong tấm gương, cũng không phải là một sự tái hiện đơn giản cuộc sống, sự bắt chước máy móc tự nhiên. Sự bắt chước giỏi lắm cũng chỉ nhân đôi đối tượng mô tả chứ không tạo ra giá trị thẩm mĩ mới. Hình tượng nghệ thuật không phải là h́nh ảnh minh họa của khoa học. H́nh ảnh minh họa của khoa học tái hiện các h́nh tượng như chúng vốn có trong hiện thực. Tức là tái hiện thực tế một cách chính xác. C̣n h́nh tượng nghệ thuật, sáng tạo là bản chất của nó. H́nh tượng nghệ thuật bao hàm cả sự phóng đại, cường điệu, cả sự tỉa xén, nhào nặn. H́nh tượng nghệ thuật là kết quả của trí tưởng tượng và tư duy sáng tạo của người nghệ sĩ. Phản ánh và sáng tạo là hai mặt của quá tŕnh sản sinh ra h́nh tượng nghệ thuật. H́nh tượng nghệ thuật một mặt là h́nh ảnh của thế giới khách quan, mặt khác là sự sáng tạo lại thế giới khách quan ; một mặt là ư thức tư tưởng mặt khác là hoạt động thực tiễn vật chất của nhà văn; một mặt là khách thể tinh thần mặt khác là thế giới hiện thực (tự nhiên thứ 2).
b. Cụ thể và khái quát
Cả hình tượng nghệ thuật và khái niệm khoa học đều là sự phản ánh hiện thực khách quan; đều không phải là sự lặp lại hiện thực. Nhưng nếu khái niệm khoa học là sự trừu tượng hóa cái chung ra khỏi cái cá biệt, cụ thể của đối tượng th́ h́nh tượng nghệ thuật lại phản ánh cái chung thông qua cái cá biệt, cụ thể cảm tính trong dạng thái bản thân cuộc sống. Một công thức khoa học cũng như một h́nh tượng nghệ thuật đó là sự thống nhất biện chứng giữa cái riêng và cái chung. Nhưng nếu như công thức khoa học, phép biện chứng này được biểu lộ thông qua cái chung th́ ở h́nh tượng nghệ thuật phép biện chứng này lại được biểu lộ thông qua cái riêng, cái đơn nhất. Một h́nh tượng nghệ thuật là tổng ḥa các phẩm chất , thuộc tính, đặc điểm tiêu biểu cho một hiện tượng nhất định, con người nhất định. H́nh tượng nghệ thuật là nơi phơi bày sự phong phú của cái cá biệt, tính muôn vẻ của các hiện tượng. H́nh tượng nghệ thuật tác động trực tiếp vào giác quan của chúng ta. Tiếp xúc với h́nh tượng nghệ thuật là tiếp xúc với những bức tranh những sự vật, những hiện tượng, những cảnh đời, những con người, những số phận riêng lẻ, cụ thể đang sống, vận động trong một tương quan cụ thể. Nội dung cụ thể của các tác phẩm là không hề bao giờ lặp lại nhau. Điều đó có nghĩa là các h́nh tượng nghệ thuật mang tính cá biệt - kể cả h́nh tượng phong cảnh tự nhiên và h́nh tượng nhân vật. Có biết bao nhân vật xuất hiện trong các sách ta đă đọc nhưng có ai giống ai đâu. Sự riêng biệt của các nhân vật không phải chủ yếu ở tên gọi, h́nh hài diện mạo mà chủ yếu ở tính cách, ở cá tính. Có người đă nhận định : nền văn chương nhân loại là một pḥng triển lăm các tính cách, là nơi phơi bày sự đa dạng phong phú của cốt cách, phẩm chất của con người. Tính cá biệt cụ thể của h́nh tượng không chỉ biểu hiện ở chỗ miêu tả trực quan có tính chất tạo h́nh các sự vật và con người riêng biệt mà c̣n là ở chỗ : nhưng tâm trạng của các nhân vật. Mỗi bài thơ trữ t́nh là mỗi một trạng thái t́nh cảm, suy nghĩ riêng của nhà thơ, của nhân vật trữ t́nh. Nếu như hiện tượng phong phú hơn quy luật, th́ tính cụ thể, cá biệt của h́nh tượng đem đến cho con người sự nhận thức về tính đa dạng, phong phú của hiện tượng. H́nh tượng nghệ thuật bao giờ cũng nói với độc giả về một vấn đề ǵ đó của đời sống. Bạn đọc thông qua những chi tiết, h́nh ảnh … của h́nh tượng để hiểu về đời sống. Tính cụ thể, cá biệt của h́nh tượng, v́ vậy hàm chứa ư nghĩa khái quát . Trong h́nh tượng nghệ thuật không có chỗ cho những chi tiết, hiện tượng ngẫu nhiên. Trong nghệ thuật cái riêng chỉ tồn tại trong mối liên hệ dẫn tới cái chung. Chị Út Tịch 6 con ở xă Tam Ngăi huyện Cầu Kè với những đặc tính rất riêng biệt. Nhưng chị Út Tịch c̣n là người phụ nữ Việt Nam trong giai đoạn chống Mĩ cứu nước. Qua chị, ta hiểu được một lớp người và thậm chí, có thể hiểu cả một dân tộc, một thời đại. Trong h́nh tượng nghệ thuật cái cụ thể và cái khái quát xuyên thấu vào nhau, xoắn xuưt lẫn nhau; cái khái quát chuyển ra dưới dạng cái cụ thể, cái cụ thể lại chuyển vào cái khái quát, cái này chuyển thành cái kia; cả hai ḥa với nhau làm một. Balzac đă nói: Tư tưởng phải trở thành nhân vật
c. Chủ quan và khách quan
Tất cả các h́nh thái ư thức xă hội đều không chỉ là sự phản ánh thế giới khách quan mà c̣n là sự biểu hiện thế giới chủ quan. Lénine đă chỉ rõ : Tư tưởng không chỉ là nhận thức mà còn là ý nguyện của con người. Điều này đúng với cả nghệ thuật. Và hơn thế, trong nghệ thuật ý nguyện của con người (những rung cảm, hưng phấn, khát vọng …) là một đ̣i hỏi có tính tất yếu, là bản chất. nhà văn hướng tới đối tượng của ḿnh không phải với tư cách là người chiêm ngưỡng mà với tư cách là chiến sĩ đấu tranh tích cực vì những lí tưởng của ḿnh. Bélinski đă từng khẳng định : tác phẩm sẽ chết nếu nó miêu tả cuộc sống để mà miêu tả, không có sự thôi thúc chủ quan mạnh mẽ nào đó có nguồn gốc từ trong tư tưởng bao trùm thời đại, nếu nó không phải là tiếng kêu đau khổ , một lời ca sung sướng, một câu hỏi đặt ra hay một câu trả lời. Trong h́nh tượng nghệ thuật, sự giống với tự nhiên không phải là yêu cầu duy nhất, chưa phải là tất cả tính chân thực. Tính chân thực của nghệ thuật còn bao hàm cả việc phản ánh chân thực cảm xúc, cảm nhận và sự đánh giá về thực tại của người sáng tác. Trong tác phẩm nghệ thuật, sự biểu hiện nhân cách cá tính độc đáo của người sáng tạo cũng quan trọng như sự tái hiện chân thực hiện thực đời sống . Khái niệm khoa học có thể có hoặc không có chứa đựng sự đánh giá, nhưng h́nh tượng nghệ thuật bao giờ cũng là bản án đối với hiện thực , bao giờ cũng là sự đánh giá về hiện thực. Trong h́nh tượng nghệ thuật, hiện thực được phản ánh dưới ánh sáng của một lí tưởng, thẩm mĩ xă hội nhất định, dưới ánh sáng của các phạm trù cái đẹp và cái xấu, cái bi và cái hài, cái cao cả và cái thấp hèn… Nhưng, sự đánh giá trong h́nh tượng nghệ thuật không phải là những lời b́nh luận đưa từ ngoài vào. Sự đánh giá về nghệ thuật nằm ngay trong bản chất của h́nh tượng. Một h́nh tượng nghệ thuật vừa bao hàm sự phản ánh về hiện thực vừa bao hàm sự đánh giá về hiện thực đó. Nghĩa là, bằng hình tượng nghệ thuật nhà văn phản ánh để đánh giá và đánh giá qua việc phản ánh hiện thực. Cái khách quan và chủ quan ở đây xuyên thấu vào nhau.
d. Lí trí và tình cảm
Cùng với khoa học, nghệ thuật có nhiệm vụ giúp con người nhận thức về thế giới, về con người và đời sống. Các h́nh tượng nghệ thuật, vì vậy tác động vào lí trí con người. Qua h́nh tượng, nhà văn bày tỏ quan điểm, quan niệm và lí giải những vấn đề đời sống. Bất kỳ một h́nh tượng nghệ thuật nào cũng chứa đựng trong đó những nhận thức của người sáng tác. Qua h́nh tượng nghệ thuật, bạn đọc tiếp nhận được những vấn đề về đời sống, lí trí bạn đọc bao giờ cũng được soi sáng, nhận thức của bạn đọc bao giờ cũng được mở rộng, nâng cao. Nhưng nếu như khái niệm khoa học là kết quả của lí trí th́ h́nh tượng nghệ thuật lại có sự thống nhất của hai yếu tố : lí trí và t́nh cảm. K. Marx viết : Con người khẳng định ḿnh trong thế giới vật thể không chỉ bằng tư duy mà c̣n bằng tất cả cảm xúc. Điều này được bộc lộ đặc biệt rơ ràng trong nghệ thuật. H́nh tượng nghệ thuật vừa thức tĩnh lí trí lại vừa rung động trái tim. Hai mặt thức tĩnh và rung động này của nghệ thuật ḥa quyện vào nhau. Từ rung động mà thức tĩnh càng thức tĩnh càng rung động hơn. Giá trị thức tĩnh của h́nh tượng nghệ thuật to lớn bao nhiêu là do sức rung động Mácnh liệt bấy nhiêu. Đối với nghệ thuật, không thể nói giá trị nhận thức to lớn mà lại không gắn liền với một t́nh cảm mạnh mẽ được. Thậm chí giá trị nhận thức của nghệ thuật chỉ có thể có được khi nghệ thuật đó tác động vào t́nh cảm con người. T́nh cảm đối với nghệ thuật là quy luật. Đồng chí Lê Duẫn đă khẳng định : thường thường triết học giải quyết vấn đề lí trí, nghệ thuật xây dựng t́nh cảm và nói đến nghệ thuật là nói đến quy luật riêng của t́nh cảm. Do vậy, h́nh tượng bao giờ cũng là kết quả của t́nh cảm chín muồi của nhà văn trước những vấn đề đời sống. Nguyên nhân thành công của Truyện Kiều về cơ bản chính là sự đau đớn của tác giả đối với thân phận người phụ nữ trong xă hội vạn ác. Phải có một t́nh cảm cháy bỏng "Lệ chảy quanh thân Kiều" như Nguyễn Du mới có tuyệt tác Truyện Kiều. Tâm sự về thơ, Tố Hữu khẳng định: "Thơ là từ trái tim đi rồi về trái tim". Nhà văn phải có t́nh cảm với cuộc sống, rồi những "h́nh bóng" của đời sống - h́nh tượng do nhà văn tạo nên thấm đượm t́nh cảm và t́nh cảm đó lây lan qua bạn đọc. Nếu như t́nh cảm có thể là nguyên nhân sâu sa của sự ra đời một công thức khoa học, nhưng bản thân nó không gắn liền trực tiếp với t́nh cảm của người sáng tạo ra nó, th́, ở h́nh tượng nghệ thuật t́nh cảm không chỉ là nguyên nhân mà c̣n là kết quả. Quá tŕnh xây dựng h́nh tượng cũng như quá tŕnh h́nh thành khái niệm khoa học là đi từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng. Song điểm khác biệt của tư duy trừu tượng là trên mọi giai đoạn của tư tưởng đều gắn liền với cảm xúc. Tư tưởng không tách khỏi h́nh tượng và được thể hiện trong h́nh tượng đầy cảm xúc, nên h́nh tượng, không chỉ hướng va lí trí mà c̣n hướng vào cảm xúc chúng ta. Chính ở đây ta hiểu thêm lí do tại sao h́nh tượng nghệ thuật lại mang tính cá biệt, cụ thể cảm tính. T́nh cảm con người nảy sinh do chỗ tiếp xúc trực tiếp với sự vật, hiện tượng cụ thể sinh động, riêng lẻ của thế giới bên ngoài. Nhà văn muốn truyền đạt tới bạn đọc tư tưởng và t́nh cảm của ḿnh th́ không thể không làm cho tư tưởng t́nh cảm đó có h́nh hài xương thịt của đời sống, không thể không làm cho tư tưởng h́nh tượng của ḿnh có một dạng thái của đời sống - một "tự nhiên thứ 2" trong một chất liệu nhất định của đời sống. Tính sinh động của h́nh tượng là yêu cầu đối với nghệ sĩ, là bản chất của h́nh tượng. Lénine viết: "nắm lấy cái sinh động - chính là sức mạnh của nghệ sĩ".
đ. Tạo h́nh và biểu hiện
Xét về mặt quá tŕnh vận động của tư duy th́ quá tŕnh vận động của tư duy logic là đi từ những h́nh tượng cá biệt riêng rẽ để rút ra cái chung cái quy luật. Trong quá tŕnh này người ta tiến hành gạt bỏ những cái ngẫu nhiên để đi đến cái chung. Nhưng trong cái chung khi đă được rút ra th́ tách hẳn khỏi cái riêng. Còn ở tư duy nghệ thuật cái chung và cái riêng, cái khái quát và cái cụ thể thống nhất ngay từ đầu và cái chung, cái khái quát được biểu hiện qua cái riêng, cái cụ thể. Nếu như yếu tố ngẫu nhiên, tạm thời lạ với tư duy khoa học, th́ nó lại có chỗ đứng trong tư duy nghệ thuật. Quá tŕnh phát hiện bản chất của sự vật và quá tŕnh lựa chọn, sáng tạo những chi tiết cụ thể gợi cảm bộc lộ bản chất sự vật kết hợp hữu cơ với nhau. Nhà văn, nhà nghệ sĩ luôn luôn nghiền ngẫm, nh́n nhận và thể hiện đối tượng trong dạng thái tổng hợp sinh động, họ không một phú rời bỏ cái cụ thể, cá biệt. Nhà nghệ thuật âm nhạc vĩ đại Tchaikovski nói : "Tôi không bao giờ sáng tác một cách trừu tượng, nghĩa là bao giờ tư tưởng âm nhạc cũng hiện ra trong tôi dưới một h́nh thức bề ngoài thích ứng với nó. Như vậy, tôi phát hiện ra tư tưởng âm nhạc cùng một lúc với sự phối khí". Từ cơ sở tư duy này mà h́nh tượng nghệ thuật có thuộc tính tạo h́nh. Các h́nh tượng nghệ thuật … là đứa con tinh thần của nhà văn. Nhưng không vô h́nh mà tồn tại một cách cụ thể, cảm tính trong một chất liệu vật chất nhất định. Đứa con tinh thần của nghệ sĩ luôn luôn có h́nh hài cụ thể, tồn tại trong không gian, thời gian và trong những mối quan hệ nhất định. Người ta chỉ có thể hiểu được phần hồn đứa con của nghệ sĩ thông qua phần xác của nó. Do đó, phần xác của h́nh tượng không phải là một thứ áo khoác ngoài, một loại nước sơn mà nó thực sự là một h́nh thức tồn tại một cách cụ thể vật chất của h́nh tượng. Không có nó thì không có h́nh tượng. Tính tạo hình của h́nh tượng đă khiến cho người thưởng thức nó luôn luôn có cảm giác là đấy không phải là tư tưởng mà là cuộc sống thực. Tính tạo h́nh của h́nh tượng không chỉ bao hàm việc tái tạo không gian hay ngoại h́nh của đối tượng mà điều quan trọng là tạo dựng cả thời gian, cả những mối quan hệ, cả nội tâm - những cái không thể sờ thấy, nh́n thấy. Nguyễn Du viết : Đầu tường lửa lựu lập ḷe đâm bông
Thì ta không chỉ nhìn thấy hoa lựu đỏ như lửa ở đầu tường (màu sắc, không gian) mà ta còn thấy được cả sự vận động của nó trong thời gian : đang nở - lập ḷe đâm bông. Ta biết hoa lựu nở qua động từ "đâm" nhưng ta thấy hoa lựu nở qua từ 'lập ḷe" . Tính tạo h́nh làm cho h́nh tượng tương đồng với đối tượng nhưng h́nh tượng không phải là sự lập lại, bắt chước đơn giản hay sự thống kê, liệt kê. Nhà văn chọn lọc những chi tiết có ư nghĩa nhất để tạo dựng h́nh tượng. Cho nên, h́nh tượng nghệ thuật nhiều khi là "những nét chấm phá" nhưng từ một giọt nước mà thấy biển cả, từ một cây mà thấy cả rừng. Như vậy, tạo h́nh là một đ̣i hỏi tất yếu nhưng lại không phải là mục đích cuối cùng. Qua tạo h́nh mà biểu hiện. Thông qua tạo h́nh mà h́nh tượng bộc lộ cái bên trong, cái bản chất, cái vô h́nh. Mọi chi tiết tạo h́nh chỉ có ý nghĩa khi nó là sự nén chặt năng lượng. Biểu hiện là phẩm chất tất yếu của tạo h́nh. Biểu hiện làm cho h́nh tượng mang tính đa nghĩa, vừa gợi không gian, vừa gợi thời gian, vừa gợi tình huống, tính cách và thái độ của tác giả, và cũng vì vậy, trong h́nh tượng nghệ thuật mọi chi tiết có ý nghĩa và chức năng của chúng. Không có chi tiết thừa.