THÔNG BÁO

  THỜI GIAN GẦN ĐÂY MỘT SỐ BẠN LỢI DỤNG  WEBSITE NÀY ĐỂ ĐƯA RA NHỮNG PHÁT NGÔN KHÔNG TỐT. CHO NÊN CHÚNG TÔI TẠM THỜI ĐÓNG WEBSITE LẠI ĐỂ NÂNG CẤP NHẰM HẠN CHẾ MỘT SỐ HÀNH VI KHÔNG TỐT LÀM ẢNH HƯỞNG ĐẾN DIỄN ĐÀN .CÁC BẠN CÓ THẮC MẮC XIN LIÊN HỆ : phanthanhhung90@gmail.com
e. Hư cấu và tưởng tượng
Sự thống nhất giữa tính cá biệt, cảm tính cụ thể với tính khái quát là một đặc điểm hết sức quan trọng của văn chương. Vì nghệ thuật yêu cầu nhận thức quy luật của đời sống bằng hình tượng. Bản chất của cuộc sống trong nghệ thuật được thể hiện dưới dạng thức của chính đời sống. Tuy nói hiện tượng phong phú hơn quy luật song không phải ở đâu và bao giờ mọi hiện tượng của đời sống đều mang trong ḿnh nó tính quy luật cả. Hơn nữa không phải bản thân nhưng hiện tượng mang trong ḿnh nó tính quy luật đều trôi hơn, đều dễ thấy và đều thường xảy ra. Mặt khác, nhà văn là người đón đầu thời đại, tác phẩm văn chương không chỉ đơn thuần phản ánh cuộc sống một cách thụ động mà c̣n phải hướng đạo cuộc sống. Cuộc sống trong tác phẩm vừa là cuộc sống diễn ra ngoài đời, đồng thời phải là cuộc sống tất phải diễn ra và cần thiết phải diễn ra nhưng chưa diễn ra. Tính hình mâu thuẫn này đặt ra cho nhà văn một nhiệm vinh quang là "hợp lí hóa" sự mâu thuẫn đó. Nhà văn bằng vào kinh nghiệm cuộc sống, bằng vào tài năng và trí tuệ của ḿnh tiến hành công việc : so sánh đối chiếu, khám phá, phát hiện để t́m thấy các hiện tượng chứa nhiều yếu tố quy luật, vứt bỏ, gạt ra ngoài những yếu tố ngẫu nhiên; chọn lấy yếu tố bản chất nhất, quan trọng nhất, trên cơ sở đó bằng vào trí tưởng tượng nhà văn tạo nên những sự kiện, những hiện tượng, những con người thật sinh động, cụ thể nhưng mang trong ḿnh nó đầy đủ tính quy luật. Công việc này trong nghệ thuật gọi là hư cấu. Hư cấu nghệ thuật chính là quá tŕnh tập hợp, lựa chọn, sắp xếp tài liệu từ nhiều hiện tượng khác nhau, trên cơ sở đó thông qua trí tưởng tượng nhà văn sáng tạo ra một hiện tượng cá biệt mới, hiện tượng này thể hiện được bản chất đời sống một cách sinh động, trong sáng và tập trung. Có thể gọi quá tŕnh xây dựng một tác phẩm văn chương là quá tŕnh hư cấu nghệ thuật. Điều này càng khẳng định thêm rằng tác phẩm nghệ thuật không phải là sự đơn thuần chụp ảnh máy móc cuộc sống hay kiểu "thấy gì ghi nấy" tùy tiện được. T́nh h́nh này đặt ra một vấn đề, một yêu cầu quan trọng không thể thiếu được, đồng thời là một yêu cầu thể hiện tài năng nhà văn đó là trí tưởng - sáng tạo. Trên cơ sở tài liệu đă được lựa chọn, bằng vào trí tưởng tượng - sáng tạo, nhà văn xây dựng nên những sự kiện nghệ thuật đó là có sự dung ḥa, xuyên thắm giữa cái cá biệt và cái khái quát, giữa cái hiện tượng và bản chất, giữa yếu tố và hệ thống, giữa chung và riêng … Cho nên, sự kiện nghệ thuật là sự kiện cuộc sống được chỉnh lí lại, nó cô đọng hơn, điển h́nh hơn trong cuộc sống, bằng vào nó mà người đọc nhận thức cuộc sống nhanh hơn, nhạy hơn, đầy đủ hơn và sâu sắc hơn. Gorki đă định nghĩa quá tŕnh hư cấu như sau : "Hư cấu là kết thúc quá tŕnh nghiên cứu, lựa chọn tài liệu, làm cho tài liệu ấy thành một điển h́nh xă hội sinh động, có ư nghĩa tích cực hay tiêu cực." L. Tolstoi kể lại việc sáng tác của ḿnh, một công việc khó khăn phức tạp, đầy suy ngẫm trong quá tŕnh hư cấu : Tôi chán và chẳng viết ǵ cả, tôi làm việc rất khổ năo. Anh không thể h́nh dung được là tôi đă gian nan như thế nào trong bước đầu cày sâu, trên cánh đồng mà trên đó tôi buộc lòng phải gieo. Cân nhắc rồi suy đi nghĩ lại Máci tất cả những điều có thể xảy ra với những nhân vật trong tác phẩm tương lai. Tác phẩm lớn lắm, suy nghĩ, cân nhắc có đến hàng triệu điều có thể kết hợp được, để chọn lấy trong số đó một phần triệu thôi - thật là khó khăn vất vả một cách kinh khủng. Tưởng tượng trong quá tŕnh hư cấu phải đến mức dường như chính ḿnh là nhân vật vậy. Balzac tưởng tượng đến mức: Cảm thấy trên lưng ḿnh có những quần áo rách nát, còn dưới chân th́ có những giày dép há mơm, thủng lỗ của những con người nghèo đói mà tác giả đang viết về họ. Flaubert lại hóa thân vào nhân vật để sáng tạo: Thật là một điều kỳ diệu, viết không phải là sống thu hẹp lại trong bản thân ḿnh mà phải quay về với toàn bộ cuộc sống mà ḿnh nói đến. Chẳng hạn như năm nay tôi là đàn ông lại vừa là đàn bà, kiêm cả đôi trai gái yêu nhau cưởi ngựa dạo chơi trong rừng, giữa một buổi trưa mùa thu dưới lá vàng, gió heo may, vang rộn tiếng cười và ánh mặt trời đỏ tía, làm những đôi mắt say sưa v́ yêu đương phải ngắm lại và cứ từng phút, từng giây tôi phải đặt ḿnh vào địa vị vào những người mà tôi ác cảm, tôi phải cố gắng hết sức lắm mới h́nh dung nổi các nhân vật của ḿnh và nói thay cho họ, khốn nỗi họ lại làm cho tôi ghê tởm một cách sâu sắc. Nhờ vào tài năng hư cấu nghệ thuật mà người nghệ sĩ tạo ra được những h́nh tượng rơ ràng, xác thực, đầy sức hấp dẫn và thuyết phục. Phạm Văn Đồng nói : Văn học, nghệ thuật là công cụ để hiểu biết, để khám phá, để sáng tạo lại thực tế xă hội. Sóng Hồng viết : Tôi tán thành phải sáng tạo trong thơ Đừng nhai lại như voi ăn bă mía. Tố Hữu viết : Cuộc sống muôn h́nh ngh́n vẻ, nghệ thuật không thể lặp lại, nghệ thuật bao giờ cũng sáng tạo. Ông đặc biệt nhất mạnh yếu tố tưởng tượng trong văn chương đặc biệt là trong thơ : Thơ là nghệ thuật kỳ diệu nhất của trí tưởng tượng. Tưởng tượng và sáng tạo là vô cùng quan trọng trong sáng tác nghệ thuật nói chung và văn chương nói riêng. Bởi v́ nghệ thuật không chụp ảnh lại thực tại xă hội mà là sáng tạo lại thực tại xă hội. Nhưng cần lưu ý rằng tưởng tượng sáng tạo không phải là bịa đặt hoặc là vũ đoán hay ảo tưởng. Mà, những điều tưởng tượng ra phải hợp lí, hợp logich của đời sống, có gốc rễ trong đời sống. Muốn có điều này nhà văn phải hiểu nhiều biết rộng và bám sát lấy mảnh đất thực tế. Thoát ly thực tế mà tưởng tượng th́ không thể tránh khỏi bịa đặt giả dối. Phản ánh luận Lénine cho thấy : ý thức phản ánh tồn tại. Vật chất quyết định ý thức. Cho nên sẽ không thể sáng tác được, không thể tưởng tượng ra điều gì hợp lí nếu không có thực tế, không bám vào thực tế. Những yêu cầu đi sâu, bám sát thực tế đối với nhà văn của với Đảng ta có một ư nghĩa vô cùng sâu sắc. Đi vào thực tế, cắm rễ sâu ở các cơ sở sản xuất, công tác, lao động, chiến đấu, tham gia tích cực vào hoạt động xă hội, chẳng những nhà văn trưởng thành về lập trường tưởng tượng mà có còn là nguyên nhân sâu xa : giúp nhà văn nâng cao tay nghề, tài năng và sáng tạo. Cái thực tế vĩ đại - hoạt động thực tiễn sản xuất và chiến đấu của nhân dân sẽ là bệ phóng cho trí tưởng tượng. Tưởng tượng chắp cánh cho công việc hư cấu nghệ thuật và từ đó làm cho h́nh tượng văn chương xác thực hơn và gần cuộc sống hơn. Nhà văn có vốn hiểu nhiều biết rộng, vũ trang cho ḿnh thế giới quan, nhân sinh quan cách mạng là cơ sở chắc chắn để cho trí tưởng tượng ḿnh bay bổng nhưng lại không vượt ra ngoài quỹ đạo của đời sống cũng như quy luật và quy tắc phản ánh của nghệ thuật. Có sự hiểu nhiều biết rộng, có nhân sinh quan và thế giới quan đúng đắn th́ cuộc sống nên có mà tác phẩm đặt ra theo giả định của nhà văn là có cơ sở thực tế và cơ sở khoa học, từ đó hình tượng có sức thuyết phục hơn. Cũng nhờ hiểu sâu biết rộng, có nhân sinh quan và thế giới quan đúng đắn mà trí tưởng tượng của nhà văn không hề bay bổng đến mức hư ảo, thoát ly hiện thực. Điều này ta thấy rất rơ hiện tượng một số nhân vật của tác giả đă tỏ ra bất kham với dự định ban đầu của nhà văn trong quá trình sáng tác. Có những nhân vật theo dự kiến chủ quan ban đầu là phải thế này nhưng trong quá tŕnh sáng tác vì tuân theo logic cuộc sống nhân vật đó lại trở thành thế khác. Có những nhân vật theo ư muốn tốt đẹp của nhà văn là phải sống, nhưng thể hiện nó vào tác phẩm thì nó phải chết. Nếu tác phẩm nghệ thuật là nhận thức th́ cuộc sống là thước đo của sự nhận thức đó. Lénine chỉ rõ : thực tiễn là tiêu chuẩn, là thước đo của nhận thức. Bám sát thực tiễn tuân thủ những nguyên tắc của đời sống, nghệ sĩ chân chính không bao giờ uốn cong ng̣i bút theo ư muốn chủ quan, đă đành, nhà văn c̣n có thể dùng ng̣i bút để đón đầu thời đại, dự kiến tương lai một cách có căn cứ. Trường hợp I.Tolstoi viết Sống lại là một ví dụ. Ông ta phải thay đổi kết cấu câu chuyện sau rất nhiều lần t́m ṭi, suy nghĩ. Câu chuyện t́nh yêu giữa Nekholiudov và Maxlov được viết lần đầu theo một chiều hướng tốt đẹp : Nekholiudov lấy Maxlov làm vợ, sống với nhau ở Xibêri, biên soạn trước tác về vấn đề chiếm hữu ruộng đất và dạy học ở trong vùng … Nhưng vừa qua bản thảo đầu tiên đó, tác giả thấy cần phải thay đổi bố cục : trọng tâm câu chuyện trước kia là ở Nekholiudov nay phải chuyển sang Katiusa. Ông thấy cách kết thúc tốt đẹp trước đây là không thực tế, trái với sự thật cuộc sống, làm mờ mắt những mâu thuẫn xă hội đang tồn tại hiển nhiên trước mắt ông. L.Tolstoi đă tự nhận thấy tại sao Sống lại bị bế tắc mặc dù nó đă được viết ra. Bởi v́, - ông nói: Tôi đă xuất phát sai. Tôi nhận thấy rằng tôi cần phải xuất phát từ đời sống nông dân. Nông dân mới là mục tiêu, mới là cái chính diện, c̣n cái kia (đời sống của giai cấp thống trị) chỉ là bóng tối, chỉ là cái phản diện, cần phải xuất phát từ cái chính diện. V́ ông cảm thấy rằng việc Nekholiudov, một gă quư tộc giàu có v́ cắn xé lương tâm đă nhường lại điền trang để theo đuổi và quyết tâm lấy Maxlov cô gái ở đă bị anh quyến rũ rồi bỏ rơi trước đây làm vợ, L. Tolstoi không hoàn toàn thỏa măn. Ông tự phê phán: tất cả đều là bịa đặt, kém cỏi …. Vì vậy, cho nên đến cuối 1888, L. Tolstoi đă viết lại tác phẩm lần cuối, chiều hướng câu chuyện lần này thay đổi hoàn toàn. Cái kết thúc tốt đẹp cũ bị bỏ đi và thay vào đấy một kết thúc thực tế hơn: Maxlova từ chối đề nghị của Nekkholiudov, tiếp xúc với anh em tù chính trị, nàng đă được sống lại và lớn lên. Ta cũng có thể thấy một trường hợp viết lại cho hợp lí hơn ở Tô Hoài về chuyện ngắn Vợ chồng A Phủ và chuyện phim Vợ chồng A Phủ. Trong truyện ngắn Vợ chồng A Phủ, Mỵ sau khi cởi trói cho A Phủ th́ cùng A Phủ chạy thoát khỏi nhà thống lí Pá- Tra đến khu du kích nhưng trong chuyện phim Vợ chồng A Phủ th́ Mỵ không chạy thoát được, cứu được A Phủ nhưng Mỵ không thể cứu nổi ḿnh trong ṿng vây và đêm đen dày đặc của bọn chúa đất dưới tầm tay thực dân Pháp. Mỵ chỉ thực sự được giải thoát khi A Phủ và bộ đội về giải phóng. Sửa đổi chi tiết này, câu chuyện thực hơn, giá trị tố cáo sâu sắc hơn. Từ những sự phân tích trên, ta thấy rơ ràng: hư cấu nghệ thuật không hề mâu thuẫn với hiện thực, trái lại nó làm cho nghệ thuật gần cuộc sống hơn, chân thực hơn, phong phú hơn. Bởi hư cấu không ǵ khác hơn là sự chắt lọc tính chất cuộc sống, sắp xếp chúng lại trong một cơ cấu nhất định dưới ánh sáng của một lí tưởng nhất định. Hư cấu như là một ống kính kỳ diệu soi cho thấy bản chất của đời sống, gạt ra ngoài những ǵ là ngẫu nhiên, đang che lấp cái bản chất, chỉ ra lối đi lên của cuộc sống mà chính nó đang manh nha ở ngoài đời.
g.Thẩm mĩ và nghệ thuật
Hình tượng khác một cách căn bản với khái niệm khoa học ở tính thẩm mĩ và nghệ thuật của nó. Tính thẩm mĩ và nghệ thuật của h́nh tượng đă sản sinh ra một năng lực diệu kỳ: sức lay động t́nh cảm dữ dội, sức thức tĩnh tư tưởng lớn lao, sức lôi cuốn hành động mạnh mẽ ở con người. Đó là sức mạnh không ǵ cưỡng lại được của nghệ thuật. Diderot đặt ra yêu cầu đối với nghệ thuật sáng tạo h́nh tượng: Trước hết anh phải làm cho tôi cảm động, kinh hoàng, đê mê, anh phải làm cho tôi sợ hăi, run rẫy, rơi lệ hay căm hờn. Để đạt được năng lực thẩm mĩ như vậy, bằng trí tưởng tượng, tài năng sáng tạo của ḿnh, nhà văn phải hợp lí hóa nhiều phương diện, thuộc tính khác nhau thậm chí trái ngược nhau vào trong mối chỉnh thể thống nhất để tạo ra h́nh tượng nghệ thuật : cụ thể và khái quát, h́nh thức và nội dung, lí trí và tình cảm, chủ quan và khách quan, tạo h́nh và biểu hiện, ước lệ và hư cấu, … Quá tŕnh xây dựng h́nh tượng là một quá tŕnh khắc phục khó khăn của nhà văn. Quá tŕnh đó để lại dấu ấn tài năng trong h́nh tượng nghệ thuật, tạo ra tính nghệ thuật của h́nh tượng. Tính nghệ thuật vừa là thuộc tính vừa là giá trị của h́nh tượng. Đặc trưng nghệ thuật của h́nh tượng là ở chỗ tính sinh động của chi tiết của hiện thực được phản ánh, chiều sâu nhận thức và tầm cao ư nghĩa của tư tưởng, tính thống nhất giữa các mối liên hệ và sự phù hợp giữa các yếu tố, sự hoàn thiện của hệ thống ngôn từ. H́nh tượng nghệ thuật là kết quả nhào nặn một chất liệu vật chất nào đó của đời sống của nghệ sĩ, nhưng không phải để tạo ra một vật phẩm vô tri như mọi sản phẩm vật chất của sản xuất, mà nó tạo ra một sinh thể mới. Sinh thể này có sức sống động diệu kỳ, nó lung linh, xáo xạc; nó tươi mát ngon lành, nó vận động và biến đổi … Khi Nguyễn Du viết:
- Cỏ lan mặt đất, rêu phong dấu giày
- Đầu tường lửa lựu lập ḷe đâm bông.
Thì những cảnh vật này sống động hơn rất nhiều so với cảnh vật thực ngoài cuộc đời. Sự vận động và sinh sôi của chúng khó có thể nhận thấy bằng mắt ở ngoài thực tế th́ trong thơ Nguyễn Du chúng ta dường như trực tiếp chứng kiến: cỏ th́ đang lan ra, rêu th́ đang phong lại c̣n hoa lựu th́ đang nở lập ḷe. Không chỉ cảnh vật mà con người trong nghệ thuật cũng sống động. Nó không phải là những khái niệm người mà là những con người cụ thể có tính cách, có cá tính , có số phận riêng, biết suy nghĩ, biết hành động v.v… Tính sinh động này của h́nh tượng nghệ thuật đă khiến cho nhiều nhà nghiên cứu đă xem nghệ thuật là một h́nh thức của đời sống, hay xem h́nh tượng là những bức tranh của cuộc sống hay xem h́nh tượng là hiện thực thứ 2, tự nhiên thứ 2. Nhưng tính sinh động của hình tượng không chỉ ở những cảnh, những người được miêu tả mà mà c̣n ở cả những tâm trạng được biểu hiện. Một tác phẩm nghệ thuật có muôn vàn tâm trạng, một tâm trạng có muôn cách biểu hiện. Nỗi cô đơn rợn ngợp: Nắng xuống trời lên sâu chót vót Sông dài, trời rộng bến cô liêu. (Huy Cận) Sự tang thương: Lởm chởm vài hàng tỏi Lơ thơ mấy khóm gừng Vẻ chi là cảnh mọn Mà cũng đến tang thương (Ôn Như Hầu) Rặng liễu đ́u h́u đứng chịu tang Tóc buồn buông xuống lệ ngàn hàng (Xuân Diệu) Niềm suy nghĩ: Mái gianh ơi hởi mái gianh Ngấm bao sương nắng mà thành quê hương (Trần Đăng Khoa) Sáng tạo h́nh tượng nghệ thuật là để khám phá ra những vấn đề cuộc sống. Tác phẩm nghệ thuật là câu hỏi đặt ra hay câu trả lời. Mỗi h́nh tượng nghệ thuật là một vấn đề tư tưởng. H́nh tượng nghệ thuật là tư tưởng - thẩm mĩ. Tính nghệ thuật của h́nh tượng bộc lộ quan trọng nhất ở chiều sâu tư tưởng và tầm cao ư nghĩa. Khi Trần Đăng Khoa viết: Mái gianh ơi hởi mái gianh Ngấm bao sương nắng mà thành quê hương th́ em đă gợi cho ta biết bao suy nghĩ về tổ quốc quê hương. Có biết bao nhiêu nhà thơ định nghĩa về quê hương:
- Quê hương là câu tre nhỏ
Mẹ về nón là nghiêng che
- Quê hương là đường đi học
- Đất là nơi anh đến trường
- Nước là nơi em tắm
Đất nước là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm.
- Ngàn năm tổ quốc quê hương
Là họ̀n đất trộn với xương máu mình v.v…
Nhưng có lẽ thấm thía nhất vẫn là câu thơ của Trần Đăng Khoa.
Quê ta nghèo, đơn sơ nhưhg quê hương ta đă trải bao buồn vui, ch́m nỗi, người dân trải biết bao khổ nắng mưa để gầy dựng nên quê hương.
Quê hương ta b́nh dị nhưng là tất cả.
Chúng ta phải trân trọng, yêu thương, giữ ǵn nơi đă sinh ra chúng ta… Hình tượng nghệ thuật bao giờ cũng chứa đựng nhiệt tình và niềm tin của tác giả trước hiện thực và bộc lộ ra ở cảm hứng chỉ đạo trong sáng tác, do đó bao giờ h́nh tượng cũng có tính khuynh hướng. Không có nghệ thuật vô can, nghệ thuật nào cũng có tính khuynh hướng. Không có khuynh hướng thì nghệ thuật sẽ không có sức lay động tư tưởng. Khuynh hướng tư tưởng - cảm xúc cũng là một tiêu chuẩn của tính nghệ thuật. Một con người như Chí Phèo nếu ta gặp ở đâu đó nơi đầu đường, xó chợ ngoài cuộc đời th́ cảm giác của chúng ta về chí có lẽ cũng là cảm giác của dân làng Vũ Đại về Chí: kinh sợ con thú dữ của làng. Nhưng dưới ng̣i bút có vẽ khách quan, lạnh lùng đối với Chí của Nam Cao th́ chúng ta suy nghĩ về Chí rất khác: thương đau một số phận nhân từ bị đẩy vào con đường cô cùng, căm ghét những thế lực tàn bạo vô tâm, đă vùi dập Chí, trân trọng bản chất nhân tính tiềm tàng trong con người Chí, đồng t́nh với hành động hung bạo của Chí đối với Bá Kiến. Cảm giác chung khi ta gặp cuốn truyện Chí Phèo lại là một sự nhức nhói không cùng và một tin tưởng vô cùng ở con người . Khi nói h́nh tượng nghệ thuật là một cơ thể sống th́ không thể chỉ hiểu nó ở góc độ tính sinh động mà quan trọng hơn là khẳng định tính trọn vẹn, tính cơ thể, tính hệ thống của nó. Một cơ thể sống là phải có sự tương hợp , hài ḥa của tất cả các yếu tố đă cấu tạo nên nó. H́nh tượng nghệ thuật là một hệ thống của nhiều yếu tố được bàn tay kỳ diệu của nghệ sĩ tổ chức nên. H́nh tượng nghệ thuật không có yếu tố thừa và thiếu, mọi yếu tố đều có chức năng riêng nhưng lại phù hợp với nhau, có mối liên hệ đa dạng mà thống nhất, phức tạp mà hoàn chỉnh. Tài năng tổ chức h́nh tượng, tác phẩm của nhà văn làm cho h́nh tượng có tính nghệ thuật và kết cấu. Xây dựng h́nh tượng, kết cấu tác phẩm là một công việc cực kỳ khó khăn, xây lên rồi phá xuống, sửa đi sửa lại. Để có được một h́nh tượng thơ Tràng giang hoàn chỉnh, Huy Cận đă trải qua 17 bản thảo. Tư tưởng bao quát của bài thơ đă được biểu hiện trong cấu tứ ban đầu, nhưng rồi cảm hứng thi ca, vẫn lên xuống, đi về, không ổn định, lập ư, c̣n thiếu cụ thể. H́nh ảnh chọn lọc chưa thật phù hợp, ngôn ngữ chưa sinh động. Nội dung chưa h́nh thàh trọn vẹn vì thiếu h́nh thức cân xứng để biểu hiện. Nhưng khi Tràng giang đă hoàn chỉnh th́ mọi yếu tố trong bài thơ thật đích đáng và không thể khác được. Biểu hiện quan trọng nhất của tính nghệ thuật xét về h́nh thức là sự hoàn thiện của hệ thống ngôn từ của h́nh tượng. Thật khó có thể nói thế nào là sự hoàn thiệb của hệ thống ngôn từ bởi v́ không có một chuẩn mực ngôn từ nhất định nào cho h́nh tượng cả. Cũng không thể qui về sự giản dị hay phức tạp của cú pháp, sự chừng mực hay phong phú của từ loại, việc có hay không có những biện pháp tu từ, phương thức chuyển nghĩa v.v… Hệ thống ngôn từ đạt được ư nghĩa nghệ thuật chừng nào nó phục vụ đắc lực, tốt đẹp cho nhiệm vụ tư tưởng - thẩm mĩ của tác giả. Do đó, ngôn ngữ chỉ có giá trị nghệ thuật khi nó là chất liệu xây dựng h́nh tượng, phát huy năng lực tối đa khả năng nghệ thuật vốn có của ḿnh trong h́nh tượng. Người ta vẫn thường nói tới khả năng nghệ thuật của ngôn từ, đến đặc trưng của ngôn ngữ văn chương như tính h́nh tượng, tính biểu cảm, tính hàm xúc … song không phải sử dụng nhiều lớp từ có những đặc trưng trên th́ tự nhiên tác phẩm đạt được tính nghệ thuật. Tất cả là ở chỗ sử dụng đúng và đắt, khai thác đúng ma lực của nó. Chữ tót trong từ điển đâu có ư nghĩa thẩm mĩ ǵ. Nhưng dưới bàn tay Nguyễn Du th́ nó có ư nghĩa nghệ thuật, khi Nguyễn Du dùng để đặc tả một thế ngồi của Mác Giám Sinh : Ghế trên ngồi tót sỗ sàng
Người ta Nguyễn Du đă giêt Mác Giám SInh bằng một chữ tót Từ trắng trong từ điển là tính từ chỉ một thứ màu, màu trắng. Nhưng khi nó xuất hiện trong bài thơ Viếng hồn trinh nữ của Nguyễn Bính th́ mang nét nghĩa khác: Một chiếc xe tang màu trắng đục Hai con ngựa trắng quấn song song Mang đi một chiếc quan tài trắng Với những ṿng hoa trắng lạnh người Theo vết chân nàng khăn áo trắng Khóc hồn trinh trắng Máci không nguôi. Nghĩa đen th́ vẫn là trắng đấy nhưng nghĩa nghệ thuật là sự tring trắng và việ lặp đi lặp lại nhiều lần từ trắng để mô tả đám tangcủa người con gái làm tăng thêm nỗi đau xót. Cái chết của con người đă là đau xót, nhưng cái chết của người con gái tring trắng nữa th́ đau xót biết chừng nào. Cũng với cách lặp từ trắng trong bài thơ Cát trắng của Nguyễn Duy có khác: Bên ni cửa Tùng mênh mông cát trắng Bên tê cửa Tùng cát trắng mêng mông Cát trắng bên ni sao trắng lạnh, trắng lùng Trắng đất, trắng tay, trắng một vùng đất trắng. Trắng ở đây không có liên quan ǵ với nét nghĩa trinh trắng ở bài thơ trên cả. Trắng ở đây phục vụcho một tư tưởng - thẩm mĩ khác: sự trắng trơn- sạch bách của đất quê hương dưới gót giày giặc.
III. HÌNH TƯỢNG ĐIỂN HÌNH 
Văn chương phản ánh cuộc sống bằng h́nh tượng. Nói h́nh tượng là nói đến đặc trưng của văn chương nhưng chưa nói tới chất lượng của h́nh tượng đó. Tác phẩm nào cũng có tính h́nh tượng, v́ đó là kết quả tất yếu của sự phản ánh có tính đặc thù của văn học. Nhưng không phải tác phẩm nào h́nh tượng văn chương cũng đạt được một chất lượng ngang nhau. Điển h́nh nghệ thuật là một khái niệm dùng để chỉ chất lượng của h́nh tượng. Đặc điểm cơ bản của h́nh tượng văn chương là sự thống nhất giữa tính cá biệt, cụ thể và khái quát. Và vì điển hình là khái niệm xác định chất lượng h́nh tượng, cho nên một h́nh tượng văn chương có tính khái quát cao và tính cụ thể đến mức độc đáo th́ h́nh tượng trong đó trở thành điển h́nh. Chẳng hạn, trong hàng loạt nhân vật của Tắt đèn th́ h́nh tượng chị Dậu là điển h́nh. Điển h́nh văn học là h́nh tượng được khái quát một cách sinh động nhất, sâu sắc nhất, tính qui luật của con người, sự vật vả hiện tượng đời sống xă hội.
*. Đặc điểm cơ bản của hình tượng điển hình
a. Tính cách điển hình
Tính cách là những đặc điểm tâm lí tương đối ổn định nói lên cốt cách và phẩm chất của nhân vật. V́ tính cách là cốt cách, phẩm chất của nhân vật cho nên tính cách còn dùng để chỉ nhân vật. Tính cách điển h́nh là tính cách có sự thống nhất sâu sắc giữa tính chung và tính riêng (tức là giữa cái khái quát và cái cụ thể). Về mặt tính riêng (yêu cầu của tính riêng điển h́nh).
- Sự phong phú đa dạng của tính cách. C. Mác nói: Bản chất con người là tổng ḥa của mọi mối quan hệ xă hội. Tính cách mà con người điển h́nh phải phong phú, đa dạng như chính những quan hệ đa dạng của nó trong cuộc sống. Kiều được Nguyễn Du mô tả trong rất nhiều mối quan hệ với gia đ́nh và ngoài xă hội, với rất nhiều kiểu người khác nhau.
- Tính xác định của tính cách tức là tính cá biệt, tính có một không hai, tính duy nhất của điển h́nh. Cuộc sống của con người là đa tạp nhưng hoàn toàn cụ thể, xác định. Do đó nghệ thuật cũng phản ánh cho được tính xác định đó. Tính xác định của điển h́nh được biểu hiện tập trung ở cá tính. Cá tính của nhân vật là những đặc trưng tương đối ổn định, nổi bật nhất, dễ thấy nhất, lắp đi lắp lại nhiều lần nhất như một cái khuôn, khuôn mọi biểu hiện của tính cách vào một số h́nh thái nhất định. Aêngghen viết: Tính cách nhân vật không những biểu hiện ở chỗ nó làm ǵ mà c̣n ở chỗ nó làm như thế nào.[1] Chính làm như thế nào của tính cách là cá tính của nó. Ví dụ: cùng là ghen cả nhưng cái ghen của hoạn thư hoàn toàn khác cái ghen của phụ nữ b́nh thường. Đó là cái ghen biểu thị tính giảo quyệt của mụ. Lưu ư tính riêng của điển h́nh không phải là một nét, một khía cạnh, hoặc từng nét từng khía cạnh mà là sự tổng hợp những nét, những khía cạnh cụ thể, những cái xác định. v́ những nét riêng lẻ không thể tiêu biểu cho bản chất thẩm mĩ của h́nh tượng; h́nh tượng nghệ thuật phải là sự tổng hợp hữu cơ của những đặc tính riêng muôn h́nh muôn vẻ cái cụ thể sở dĩ nó cụ thể v́ là nó kết hợp của vô số những xác định, là sự thống nhất của cái nhiều vẻ. Muốn thể hiện nhân vật trong tính cá thể, xác định th́ phải cá thể hóa - biện pháp cơ bản, tất yếu của việc xây dựng h́nh tượng nghệ thuật, nhằm làm cho h́nh tượng nghệ thuật trở nên cụ thể, cá biệt, cảm tính và đầy sức sống. Về mặt tính chung
Tính chung của tính cách là những đặc trưng có ư nghĩa khái quát, phổ biến của tính cách. Đó là những đặc trưng quyết định phương hướng hành động hay bản chất xă hội của hành động nhân vật. Chị Dậu trong Tắt đèn là một phụ nữ rất mực yêu chồng, thương con, phẩm chất này (tính chung) đă quyết định những hành động hy sinh của chị. Yêu cầu của tính chung là tính khái quát rộng răi. Mỗi tính cách điển h́nh phải tiêu biểu cho một tằng lớp người, một giai cấp nhất định, và là sự biểu hiện cho quy luật, cho mặt bản chất của đời sống xă hội. Tính giai cấp là mặt chủ yếu, là đặc điễm quan trọng nhất của tính chung. Trong xă hội có giai cấp, con người là thành viên của một giai cấp. Cuộc đấu tranh giai cấp có tác dụng và ư nghĩa quyết định đến toàn bộ đời sống từng cá nhân. Mỗi con người xă hội từng đặc điểm riêng, nó còn mang những đặc điểm chung của giai cấp nhất định. Chị Dậu điển h́nh cho giai cấp nông dân lao động. Paven vlaxốp, Paven cortsaghin điển h́nh cho giai cấp công nhân. Đặc điểm của tính cách giai cấp của điển h́nh được thể hiện cụ thể hơn các đặc điểm của tầng lớp, bộ phận cấu tạo nên giai cấp. V́ trong quá tŕnh đấu tranh giai cấp, mỗi giai cấp được h́nh thành và cấu tạo nên từ những tầng lớp người khác nhau. Chí Phèo điển h́nh cho bộ phận nông dân - cố nông bị lưu manh hóa. Tính giai cấp của con người trong xă hội là không đơn thuần mà phức tạp. V́: bản chất của con người là tổng ḥa những mối quan hệ xă hội. Mỗi con người mang bản sắc giai cấp xuất thân đă đành, nó còn mang bản chất của các giai cấp khác. Do đó, trong văn chương, mỗi nhân vật thường có t́nh trạng mang theo bản sắc nhiều giai cấp. AQ ngoài bản tính nông dân ra, y còn mang bản tính giai cấp khác. Ví như tư tưởng tiểu tư sản. Ngoài tính giai cấp ra, tính chung của tính cách c̣n được biểu hiện ở đặc điểm giới tính, nghề nghiệp, dân tộc thời đại … v́ mỗi con người, tuy là những cá nhân nhưng là thuộc một giới nhất định của xă hội, có cùng nghề nghiệp nhất định và nảy sinh phát triển trong điều kiện của một dân tộc và ở một thời đại cụ thể. Chính đặc trưng giới tính nghề nghiệp, dân tộc, thời đại góp phần làm xác định tính chung của điển h́nh. Về giới tính: chị dậu điển h́nh cho phụ nữ nông dân Việt Nam trong thời đại chưa có ánh sáng cách mạng rọi tới. Chị Út Tịch điển h́nh cho phụ nữ Việt Nam trong thời đại có Đảng v.v… Lưu ư: Nói đến đặc trưng tính chung của điển h́nh chính là xác định bản chất của điển h́nh. Mà nội dung trọng yếu của nó là bản chất giai cấp. Tính chung của điển h́nh vì vậy có một nội dung giai cấp rơ ràng chứ không phải tính chung của điển h́nh là tính người chung chung siêu giai cấp. Còn hiện tượng một số nét, đặc điểm thuộc bản chất cố hữu giai cấp này, nhưng t́m thấy biểu hiện ở một số cá nhân thuộc giai tầng khác (ví dụ: lénine đă khẳng định về nhân vật Ôblômốp của Gontrasốp là không phải tính người chung chung. Mà là (như đă nói) bản chất giai cấp con người là không thuần khiết mà pha tạp. Muốn cho cá tính có tính khái quát rộng răi th́ người nghệ sĩ không thể chụp ảnh cuộc sống mà phải dùng đến phép "khái quát hóa" - Biện pháp xây dựng h́nh tượng trong đó nhà văn làm cho h́nh ảnh biểu tượng cụ thể, cá biệt mang ư nghĩa chung phổ biến và có khả năng phản ánh được thực chất của mọi hiện tượng mọi quá tŕnh nào đó của hiện thực như nhà văn quan niệm. Tchenychevrki: "Nhà văn phải tẩy rữa tính hạn chế của sự vật bằng cách tập trung nhấn mạnh, nghĩa là phải tiến hành khái quát hóa".
- Khái quát hóa là biện pháp cơ bản, tất yếu để làm cho nhân vật trở nên điển h́nh. Flaubert: "Bao giờ cũng phải xây dựng nhân vật của ḿnh đến mức điển h́nh tối đa. Điểm nổi bật ở các bậc thiên tài lỗi lạc là ở chỗ biết khái quát và sáng tạo, từ toàn bộ những đặc tính của nhiều nhân vật, các bậc thiên tài ấy đă xây dựng thành một nhân vật điển h́nh". Ý nghĩa, giá trị của tính chung là tạo nên giá trị nhận thức rộng răi, tác dụng mạnh mẽ sâu sắc. V́, mỗi một nhân vật có tính chung rộng răi, sâu sắc th́ nó như là tấm gương soi, mọi người đều soi thấy bóng dáng ḿnh, nh́n nhận được sự ưu nhược của ḿnh qua tấm gương để người ta sửa chữa. Chẳng hạn giai thoại về AQ trong AQ chính truyện mà Lỗ Tấn đă nêu trong Gào thét. Tương quan giữa tính riêng và tính chung của tính cách: Tính cách điển h́nh là sự thống nhất giữa 2 đặc tính chung và tính cá biệt. Tương quan giữa tính chung và tính riêng trong điển h́nh là tính tương quan giữa cái chung và cái riêng. Biélinski: "Điển h́nh ở trong nghệ thuật cũng chẳng khác ǵ loại và dạng ở trong tự nhiên, chẳng khác ǵ một anh hùng ở trong lịch sử. Điển h́nh là sự thống nhất của sự liên kết hữu cơ giữa 2 cực - cái chung và cái đặc biệt". Thể hiện cho bằng được mối liên kết hữu cơ này là yêu cầu có tính chất bắt buộc cho việc xây dựng h́nh tượng. Biélinski: "Cần phải làm cho nhân vật vừa làm những biểu hiện của cả một thế giới gồm nhiều người, lại vừa là một người, một chính thể, một cá biệt. Chỉ với điều kiện đó, chỉ có thông qua sự điều ḥa giữa các mặt đối lập ấy với nhau, th́ nhân vật đó mới có thể là một người điển h́nh". Engels rất hài ḷng về ưu điểm điển h́nh hóa trong tiểu thuyết "những người cũ và những người mới của Minna Kautski: "Tôi biết bà đă thể hiện nổi bật những cá tính của nhân vật, đó là biệt tài bà thường tỏ ra về phương diện này; mỗi cá tính là một điển h́nh, nhưng đồng thời là một cá nhân riêng biệt, tức là "con người này" - như ông già Hégel đă nói - và hẳn phải như thế."[1] Mối quan hệ xuyên thắm hữu cơ của tính chung và tính riêng trong điển h́nh là yêu cầu tất yếu. V́, nghệ thuật yêu cầu nhận thức cuộc sống trong tính sinh động cảm tính của nó. Bản thân cuộc sống - đối tượng của nhận thức nghệ thuật là cái hiện tượng và cái bản chất không tách rời nhau. Nhận thức nghệ thuật không thuần túy lôgich mà c̣n là tư duy h́nh tượng: không chia nhỏ đối tượng, không đi từ cá biệt đến trừu tượng mà là một quá tŕnh bao quát đối tượng trong sự thống nhất giữa nội dung bản chất và h́nh thức ngay từ đầu.
b. Hoàn cảnh điển hình.
Hoàn cảnh là môi trường hoạt động của nhân vật, là phạm vi hiện thực khách quan tác động đến quá tŕnh hoạt động của nhân vật. Con người tồn tại và phát triển trong những điều kiện tự nhiên và xă hội nhất định. Môi trường này chính là hoàn cảnh của con người. Môi trường hoạt động chủ yếu của con người là môi trường xă hội. Cho nên, nội dung cơ bản của hoàn cảnh : quan hệ xă hội. Trong xă hội có giai cấp, quan hệ xă hội là quan hệ giai cấp. Hoàn cảnh điển h́nh là hoàn cảnh của các nhân vật được miêu tả trong tác phẩm, vừa có tính chất tiêu biểu và độc đáo, thể hiện được những tương quan bản chất của đời sống trong những mối liên hệ phát triển biện chứng của chúng với nhau. Không có người nào là không tồn tại trong một hoàn cảnh. Hoàn cảnh, v́ vậy, là việc làm tất yếu để từ đó nhà văn tạo nên tính cách trong quá tŕnh phản ánh. Nhưng phản ánh nghệ thuật không phải là sự sao chép những cảnh ngộ tầm thường mà sự phân tích, phát hiện, thể hiện nội dung chủ yếu, mâu thuẫn cơ bản của những tương quan xă hội. Yêu cầu của hoàn cảnh điển h́nh: Trước hết, hoàn cảnh điển h́nh là hoàn cảnh thể hiện được những mâu thuẫn cơ bản của xă hội, những tương quan bản chất của đời sống xă hội, những vấn đề cơ bản bức thiết của thời đại. Engels nhấn mạnh đặc trưng này qua việc nhận xét vở kịch "Franz von sickingen" của Lassalle: "Các nhân vật th́ thực sự đại biểu cho những giai cấp và những trào lưu nhất định, do đó tiêu biểu cho những tư tưởng nhất định của thời đại họ, và động cơ hành động của họ không phải là những ham thích vụn vặt cá nhân, mà là cái trào lưu lịch sử lôi cuốn họ."[1] Hoàn cảnh điển h́nh không phải là môi trường, bối cảnh đơn thuần, mà là "trào lưu lịch sử" - hoàn cảnh thể hiện được tương quan bản chất của xă hội. Trong thực tế, không phải bất kỳ một tác phẩm văn học nào cũng thể hiện được đặc trưng quan trọng này của hoàn cảnh điển h́nh. Engel phê phán Cô gái thành thị của Harkness là không điển h́nh về hoàn cảnh : "Các tính cách của cô khá điển h́nh trong những giới hạn trong đó những tính cách ấy hành động, nhưng về các hoàn cảnh bao quanh họ bắt họ hành động th́ người ta có thể nói là không được điển h́nh đầy đủ."[1] Những sáng tác Tự lực văn đoàn trong văn chương Việt Nam 30 - 45 không xây dựng được một hoàn cảnh điển h́nh nào. Trong lúc đó Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Nam Cao lại xây dựng được những hoàn cảnh điển h́nh: thể hiện được mâu thuẫn của thời đại một cách sâu sắc - mâu thuẫn giữa nông dân lao động với địa chủ phong kiến, thực dân. Hoàn cảnh điển h́nh thể hiện bản chất, quy luật cuộc sống do đó nó không chấp nhận lối miêu tả bên lề cuộc sống (kiểu Tự lực văn đoàn) lối tô hồng hiện thực (kiểu văn học lăng mạn). Hoàn cảnh điển h́nh là hoàn cảnh đang vận động và phát triển theo quy luật phát triển của xă hội. V́ : bản thân cuộc sống đối tượng của văn chương là vận động phát triển không ngừng. Yêu cầu của nghệ thuật là biểu hiện cuộc sống trong tính sinh động của nó cho nên hoàn cảnh không thể là một bức ảnh chụp, một khung cảnh tĩnh, một hoàn cảnh ngưng đọng hay đứng im. Muốn vậy, nghệ sĩ phải có quan điểm biện chứng, phát triển để nắm bắt hết quy luật vận động của đời sống. Hoàn cảnh trong văn chương hiện thực phê phán thường là không phát triển (Như Chí Phèo trong Chí Phèo). Hoàn cảnh trong văn học lăng mạn tuy có phát triển nhưng bị lí tưởng hóatheo thiện ư chủ quan của nghệ sĩ (Như Giăng Văngiăng trong Những người khốn khổ…) Hoàn cảnh trong văn chương hiện thực xă hội chủ nghĩa là một quá tŕnh phát triển (Như Nilốpna, Paven Vlaxốp trong Người mẹ…)
c. Quan hệ giữa tính cách và hoàn cảnh
Quan hệ tương hỗ, thúc đẩy lẫn nhau: tính cách được nảy sinh trong một hoàn cảnh nhất định, hoàn cảnh thúc đẩy tính cách phát triển. Là con đẻ của hoàn cảnh, tích cách có tác dụng thúc đẩy hoàn cảnh. Tuy nhiên quan hệ này trong thực tiễn sáng tác không phảimọi phương pháp nghệ thuật đều thể hiện được một chất lượng ngang nhau. Chỉ có đến chủ nghĩa hiện thực mới thể hiện được mối quan hệ này với chất lượng mới. Engels đă vạch ra đặc trưng, yêu cầu này cho chủ nghĩa hiện thực : "Theo tôi, ngoài chi tiết chân thực, chủ nghĩa hiện thực c̣n đ̣i hỏi sự tái hiện những tính cách điển h́nh trong hoàn cảnh điển h́nh". Hoàn cảnh thúc đẩy tính cách. Hoàn cảnh xác định tính cách: "Tính cách của con người do các hoàn cảnh tạo nên". Sự phong phú của tâm hồn, tư tưởng của con người tùy thuộc ở sự phong phú của những quan hệ thực tế của con người. Tính cách của chị Dậu hoàn toàn do những quan hệ thực tế của chị với môi trường xung quanh mà có. Hoàn cảnh vận động và phát triển bắt buộc tính cách vận động và phát triển theo. Cuộc sống không đứng im, đứng im là tương đối, vận động là tuyệt đối. V́ bị đèn nén đến cực độ (hoàn cảnh thúc ép) chị Dậu vùng lên đánh lại người nhà Lí trưởng. Và khi "vùng lên" tính cách chị Dậu đă thay đổi. Tính cách tác động trở lại hoàn cảnh: Con người là con đẻ của hoàn cảnh, nhưng nó không phải là sản phẩm thụ động của hoàn cảnh. Trong quá tŕnh phát triển, con người ngày càng làm chủ tự nhiên và xă hội, và trở thành chủ thể lịch sử. Con người tạo nên lịch sử. Như thế chính con người tạo nên hoàn cảnh. Văn chương phản ánh đời sống con người không phải chủ yếu là phản ánh cái hoàn cảnh như một lực lượng siêu nhiên đẻ ra những con người, mà phải thể hiện hoàn cảnh do con người tạo nên đó. Engels : " hoàn cảnh sáng tạo ra con người trong chừng mực con người sáng tạo ra hoàn cảnh". Truyện Vợ chồng A Phủ: từ cuộc sống tối tăm dưới ách bọn chúa đất, những người nông dân sống như trâu ngựa, được ánh sáng cách mạng soi đường đă vùng lên giải phóng quê hương, làm chủ cuộc sống. Tóm lại : Tính cách điển h́nh và hoàn cảnh điển h́nh là 2 đặc điểm cơ bản nhất của h́nh tượng điển h́nh, chúng làm cho h́nh tượng điển h́nh luôn luôn có tính chân thực cao, chúng là thước đo tài năng sáng tạo nghệ thuật của nhà văn. Chính trên ý nghĩa ấy mà Biélinski viết: "Tính cách điển h́nh là huy chương của nhà văn, là một trong những dấu hiệu nổi bật nhất của sức sáng tạo nghệ thuật và là dấu hiệu của tính mới mẻ trong sáng tác".