THÔNG BÁO

  THỜI GIAN GẦN ĐÂY MỘT SỐ BẠN LỢI DỤNG  WEBSITE NÀY ĐỂ ĐƯA RA NHỮNG PHÁT NGÔN KHÔNG TỐT. CHO NÊN CHÚNG TÔI TẠM THỜI ĐÓNG WEBSITE LẠI ĐỂ NÂNG CẤP NHẰM HẠN CHẾ MỘT SỐ HÀNH VI KHÔNG TỐT LÀM ẢNH HƯỞNG ĐẾN DIỄN ĐÀN .CÁC BẠN CÓ THẮC MẮC XIN LIÊN HỆ : phanthanhhung90@gmail.com
CHƯƠNG VI: CHỨC NĂNG CỦA VĂN NGHỆ
I. KHÁI NIỆM CHUNG VỀ CHỨC NĂNG VĂN NGHỆ
Là một h́nh thái xă hội thuộc thượng tầng kiến trúc, cũng như bất kỳ một h́nh thái ư thức nào khác văn chương nghệ thuật có tác dụng tích cực trở lại đối với toàn bộ đời sống xă hội. Nhưng văn chương lại là một h́nh thái ư thức xă hội đặc thù v́ vậy nó tác động tới xă hội theo phương thức riêng của ḿnh, mà không một h́nh thái ý thức nào có thể thay thế được. Phần việc đặc thù mà văn chương đảm nhiệm đối với đời sống tinh thần của con người, cái suy đến cùng quyết định giá trị xă hội không thể thay thế được của văn chương, đó là chức năng của nó. Chỉ có thông qua chức năng của ḿnh, văn chương mới phát huy được tác dụng tích cực của ḿnh. Khái niệm chức năng của văn chương là khái niệm dùng để xác định ư nghĩa và giá trị của văn chương đối với đời sống xă hội. Muốn thấu hiểu chức năng của văn chương, hay nói cách khác là, muốn thấy rơ ư nghĩa, giá trị tác dụng của văn chương th́ chỉ có đặt nó trong mối liên hệ mật thiết với toàn bộ cơ cấu đời sống xă hội, với đối tượng phản ánh, với đời sống tinh thần phong phú của con người. Có như thế mới tránh được thái độ hạ thấp văn chương, xem văn chương là tṛ chơi chữ, là công việc nhàn rỗi, là tṛ mua vui giải trí tầm thường.
II. CÁC CHỨC NĂNG CHỦ YẾU.
1. Chức năng nhận thức cuộc sống của văn chương.
Văn chương là một h́nh thái ư thức xă hội, phản ánh tồn tại xă hội. Luận điểm đó của mĩ học Mác - Lênin có một ư nghĩa quan trọng trong việc xác định giá trị của văn chương nghệ thuật. Trước hết là giá trị nhận thức. Văn chương phát sinh và phát triển từ lâu trong đời sống xă hội loài người, nhưng không phải ai cũng thấy được giá trị nhận thức của nó. Maritain nhà triết học người Pháp đă viết: "Nếu nghệ thuật là một phương tiện để nhận thức, th́ rơ ràng rằng nó thấp hơn nhiều so với h́nh học" Kayser, nhà lí luận văn học theo chủ nghĩa cấu trúc viết: "Tác phẩm văn học sống và phát sinh không phải là hồi quang của một cái ǵ khác mà là một cấu trúc ngôn ngữ khép kín". Hoặc quan điểm "nghệ thuật vị nghệ thuật" của mĩ học duy tâm phương Đông, Tây cũng là thứ không thừa nhận giá trị nhận thức của văn chương. Ngược hẳn với những quan điểm duy tâm đó, mĩ học Marx - Lénine cho nghệ thuật là phương tiện Mácnh liệt mà con người dùng để nhận thức thế giới. Các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác luôn thấy rơ và nhấn mạnh ư nghĩa nhận thức cả văn học nghệ thuật. Mác và Ăngghen đă nhiều lần nêu rơ ư nghĩa nhận thức của văn chương. Về bộ tiểu thuyết Tấn tṛ đời của Balzac, bộ bách khoa toàn thư về cuộc sống của xă hội Pháp trong nửa đầu thế kỷ XIX, Ăngghen viết: "Balzac mô tả toàn bộ lịch sử xă hội Pháp, trong đó ngay cả những chi tiết kinh tế (thí dụ như việc phân phối lại quyền tư hữu thực tế về quyền tư hữu cá nhân sau cách mạng) tôi đă học tập được nhiều hơn là tất cả các sách của các nhà sử học, các nhà kinh tế học, các nhà thống kê chuyên nghiệp th́ ấy cộng chung lại."[1] Cũng như C. Mác và F. Aêng ghen, Lênin đánh giá cao khả năng hiểu biết, khám phá, sáng tạo của văn học. Một ví dụ tiêu biểu là người đă đánh giá rất cao L. Tolstoi ở khả năng nhận thức và phản ánh đời sống xă hội qua tác phẩm của ông. Người xem "Tolstoi là tấm gương phản chiếu cách mạng Nga."[1] Phạm Văn Đồng cũng đă từng phát biểu rất chí lí rằng: "Văn học nghệ thuật là công cụ để hiểu biết. Khám phá, sáng tạo lại thực tại xă hội". Văn chương nghệ thuật có chức năng nhận thức cuộc sống. Nhưng v́ sao văn chương nghệ thuật khác các h́nh thức nhận thức khác? C. Mác nói: "Ư thức con người chẳng qua là tồn tại được ư thức". Ư thức xă hội là phản ánh tồn tại xă hội. Sự phản ánh đó có thể đúng hay méo mó lệch lạc nhưng muốn hay không th́ những ư niệm, khái niệm, quan niệm có được trong đầu óc con người là bắt nguồn từ hiện thực. Văn chương là một h́nh thái ư thức, cho nên bất kỳ một h́nh thái ư thức nào khác nó có khả năng phản ánh tồn tại xă hội. Nhận thức con người chẳng qua là sự phản ánh thực tại vào đầu óc con người mà thôi. V́ vậy văn học có chức năng nhận thức hiện thực. Sáng tạo văn chương nghệ thuật trước hết là một hành động nhận thức (tức là sự hiểu biết) nhận thức về sự vật, về con người, về đời sống xă hội và về cả chính bản thân ḿnh nữa. Muốn sáng tạo trước hết phải nhận thức, phải hiểu biết. Bản thân sự nhận thức không phải là một cái ǵ bẩm sinh hay huyền bí, nó có nguồn gốc từ thực tiễn, từ trong lao động sản xuất, từ trong cuộc đấu tranh chống thiên nhiên, xă hội của con người. Không hiểu biết cuộc sống th́ cũng có nghĩa là không thể nhận thức và do đó không thể có văn chương nghệ thuật. Nhưng nhận thức không phải chỉ đơn thuần là hiểu biết theo nghĩa sát sạt của từ này, mà nó phải tiến lên cấp độ cao hơn là "khám phá" tức là phát hiện ra những mặt nào, yếu tố nào bản chất, là quy luật trong sự phức tạp, muôn màu muôn vẻ của hiện thực. Hiện thực là muôn màu, muôn vẻ, đa tạp, cái ngẫu nhiên và cái tất nhiên tồn tại lẫn lộn, nhiều khi cái bản chất, cái quy luật lại biểu hiện ra dưới h́nh thức cái ngẫu nhiên cái tạm thời, cái không bản chất. Văn chương nhận thức cuộc sống là phải luôn luôn t́m ra được cái quy luật của đời sống. Nếu không làm được điều đó th́ ư nghĩa nhận thức của văn chương chỉ dừng lại ở hiểu biết đơn giản, máy móc và bên ngoài của hiện thực mà thôi. Lại nữa, văn chương không chỉ nhận thức để mà nhận thức, hiểu biết để mà hiểu biết mà là để sáng tạo ra một công cụ nhận thức mới cho con người. Đó là tác phẩm văn chương. Cho nên, ngoài việc hiểu biết sâu sắc, rộng răi về thế giới, văn chương c̣n phải khám phá ra phát hiện ra bản chất quy luật của thế giới. "Sáng tạo" là một yêu cầu cực kỳ quan trọng của chức năng nhận thức của văn chương. Lênin nói: "Ý thức con người không chỉ phản ánh thế giới khách quan mà c̣n sáng tạo ra thế giới khách quan nữa". Sáng tạo là yêu cầu của mọi h́nh thức nhận thức của con người. Nhận thức của con người không phải là sự phản ánh thế giới một cách thụ động, máy móc mà là một sự sáng tạo lại một hiện thực mới cao hơn, hiện thực mà nhà văn đă nhận thức được. Và tác phẩm văn chương thực sự là một công cụ nhận thức khi nhà văn có sự sáng tạo đó. Tác phẩm văn chương sẽ hoàn thành sứ mạng là công cụ nhận thức khi người đọc tiếp xúc với nó không phải là tiếp xúc với cái thế giới mà ḿnh đă nhận thấy ở ngoài đời mà tiếp xúc với thế giới mới hợp lí hơn, đáng sống hơn, nên có hơn. Nói văn chương nghệ thuật là một h́nh thái ư thức cũng có nghĩa là nói tới chức năng nhận thức đặc thù - văn chương nghệ thuật trong toàn bộ hệ thống ư thức của con người. Và cũng có nghĩa là khẳng định tính chất khoa học của văn chương. "Văn học là một khoa học" , tính khoa học của nó là ở chỗ nó đưa lại những nhận thức, những hiểu biết đúng đắn và sinh động về tự nhiên xă hội (cuộc sống, con người) trên những mặt thuộc bản chất quy luật, sự vận động, phát triển. Với ư nghĩa đó mà Phạm Văn Đồng đă viết: "Văn học, nghệ thuật là công cụ để hiểu biết, để khám phá, để sáng tạo lại thực tại xă hội. Nó là khoa học (…). Nghệ thuật là một sự hiểu biết, văn học là một sự hiểu biết, khoa học là một sự hiểu biết, hiểu biết cao sâu lắm". Nói "văn học là một khoa học" chính là để nhấn mạnh ư nghĩa tầm quan trọng, tính chính xác của khả năng nhận thức, biểu hiện, khám phá thế giới của nó. Nhưng sẽ rất sai lầm nếu đem đánh đồng nhận thức khoa học và nhận thức nghệ thuật. Nhận thức của văn chương nghệ thuật không phải như nhận thức của khoa học. Sự khác nhau đó được phân biệt trên 2 b́nh diện sau : Một mặt, tri thức và văn chương nghệ thuật đem lại cho con người về bản chất và quy luật của thế giới không phải bằng những khái niệm, công thức, định lí… mà là bằng phương thức thể hiện riêng, phương tiện đặc thù. Đó là những h́nh tượng nghệ thuật. Nghệ thuật nhận thức các hiện tượng tự nhiên và xă hội không phải là tái hiện trực tiếp. Mặt khác, sự nhận thức ấy không bao giờ là trực tiếp mà thông qua con đường thẩm mĩ, bằng con đường t́nh cảm thẩm mĩ. Tóm lại: Văn chương có khả năng nhận thức vô cùng to lớn trên nhiều b́nh diện của hiện thực đời sống về tự nhiên cũng như về xă hội. Nhưng đó là sự nhận thức về phương diện triết học, chính trị, xă hội, tâm lí và thẩm mĩ… "Nó là cuốn sách giáo khoa về đời sống". Chức năng đó diễn ra trong quá tŕnh nhà văn nhận thức hiện thực bằng tác phẩm nghệ thuật, tác phẩm nghệ thuật, đến lượt ḿnh, trở thành một công cụ thẩm mĩ giúp người đọc nhận thức cuộc sống và hiện thực qua những khám phá và sáng tạo của nhà văn.
2. Chức năng giáo dục của văn chương.
Trong Luận cương về Phơ - bách Marx viết : "Triết học không những chỉ nhằm giải thích đúng đắn thế giới khách quan mà quan trọng hơn là cải tạo thế giới". Lénine nói: "Nghĩa là thế giới không thỏa Mácn con người và con người quyết định biến đổi thế giới bằng hành động của ḿnh". Những tư tưởng vĩ đại đó không chỉ có ư nghĩa trên địa hạt triết học đơn thuần, hay ở một lĩnh vực nhận thức nào mà có ư nghĩa cho mọi lĩnh vực nhận thức chân chính của con người. Văn chương một nghệ thuật là một h́nh thái ý thức đặc thù, nhưng tựu trung vẫn là một h́nh thái ư thức xă hội, nó nằm trong quy luật nhận thức chung trên của con người. V́ vậy, văn chương không chỉ có chức năng nhận thức thế giới mà c̣n có chức năng cải tạo thế giới. Tác dụng cải tạo của văn chương, v́ vậy là một thuộc tính tất yếu, là một đặc điểm mang tính quy luật, tính bản chất. Giáo dục của văn chương là làm thay đổi hoặc nâng cao tư tưởng, quan điểm, nhận thức của con người theo chiều hướng tiến bộ hoặc cách mạng, giúp cho con người từ chỗ tán thành đến hành động theo lí tưởng nhân vật hoặc lí tưởng tác giả. Hoặc bằng những h́nh tượng nghệ thuật sinh động và hấp dẫn, tác giả giúp con người phân biệt được tốt xấu, đúng sai, từ đó liên hệ đến ḿnh và xác định cho ḿnh một thái độ một lập trường nhất định theo những điều đă hấp thụ qua tác phẩm. Tóm lại văn chương thực hiện chức năng giáo dục đối với bạn đọc ở những phương diện sau:
- Học tập, nâng cao tŕnh độ văn hóa.
- Rèn luyện, trau dồi giác quan thẩm mĩ
- Tu dưỡng đạo đức, phẩm chất.
- Cải tạo thế giới quan và quan điểm chính trị - xă hội.
Bất cứ tác phẩm văn chương nào cũng có thể có tác dụng này hay tác dụng khác đối với người đọc có tác dụng tiêu cực, có tác dụng tích cực, có tác dụng nhất thời, có tác dụng vĩnh cửu. Văn chương thực hiện chức năng giáo dục bằng cách, trước hết, là ở tư tưởng của nhà văn thể hiện ngay trong việc nhận thức và phản ánh hiện thực. Tác phẩm văn chương là sản phẩm ư thức nhà văn, là kết quả hoạt động có mục đích của nhà văn. Qua tác phẩm người sáng tác bao giờ cũng gửi gắm kư thác, truyền đạt một cái ǵ đó cho người đọc. Đó là lập trường quan điểm, tư tưởng, ư nghĩ và những lời giải đáp cùng những ước vọng của người sáng tác trước cuộc sống. Những điều gửi gắm đó nếu rung động được ḷng người th́ giúp họ nhận thức được đúng đắn cuộc sống và khiến họ đi đến những suy nghĩ và hành động đúng. Thứ đến là nội dung tư tưởng, ở khuynh hướng tuyên truyền, động viên và giáo dục của tác phẩm từ các nhân vật điển h́nh đại diện cho tư tưởng tác giả thông qua tâm tư, suy nghĩ, triết lí sống của nhân vật được tŕnh bày dưới dạng này hay dạng khác. H́nh tượng Từ Hải trong Truyện Kiều ngoài ư nghĩa là mơ ước tự do và công lí của Nguyễn Du, nó còn có tác dụng khơi dậy ở người đọc ư chí độc lập tự do, ý thức không cam tâm làm nô lệ, ư thức tháo củi sổ lồng đạp bằng mọi bất công ở con người. H́nh tượng Kiều lại giáo dục con người ta ḷng hiếu nghĩa với cha mẹ, ḷng chung thủy vợ chồng, ư thức luôn luôn khơi dậy trong cuộc sống. Nó còn thể hiện ở tính thẩm mĩ của tác phẩm. Tức là ở lí tưởng thẩm mĩ và h́nh thức nghệ thuật mà tác giả vận dụng để truyền đạt có hiệu quả nhất những tư tưởng và kiến giải của ḿnh đến người đọc. Văn chương có nhiệm vụ xây dựng những h́nh tượng nghệ thuật mang lí tưởng thẩm mĩ, đó là cuộc sống đáng sống và con người đáng có. H́nh tượng Từ Hải là một h́nh tượng mang lí tưởng thẩm mĩ của tác giả: Lí tưởng về con người anh hùng đầy ḷng nhân đạo, b́nh đẳng, bác ái và ư chí quật cường không cam tâm làm nô lệ. Từ Hải còn là niềm vui mừng, nỗi ước muốn của quần chúng lao động. Nếu như Mác Giám Sinh, Tú Bà, Sở Khanh … là những h́nh tượng làm cho người đọc căm ghét th́ Từ Hải lại là nhân vật làm cho người ta thương yêu, trân trọng, đấy chính là mặt trái và mặt phải của tác dụng thẫm mĩ của h́nh tượng văn học. Văn chương là một nghệ thuật, tác dụng cải tạo của nó còn ở h́nh thức nghệ thuật. Nghệ thuật trong sáng giản dị tạo cho người ta cảm giác nhẹ nhơ, nghệ thuật sinh động phong phú, hấp dẫn làm con người ta trở nên yêu cuộc sống hơn. Chức năng giáo dục của văn chương c̣n ở tính chiến đấu của nó. Văn chương là vũ khí đấu tranh giai cấp. Tính chất "vũ khí" của văn chương biểu hiện tập trung ở chỗ này. Cải tạo là phê phán cái cũ, cái xấu, cái lạc hậu, đề xuất cái mới cái tốt cái tiến bộ cách mạng. Nếu văn chương chỉ vạch ra cái tiêu cực không thôi th́ mới là được nhiệm vụ "phá" mà chưa làm được nhiệm vụ "xây". Như thế có nghĩa là chưa thực hiện trọn vẹn chức năng cải tạo. Mặt khác, không có một vụ "xây" nào mà không gắn với phê phán, phá bỏ cái cũ, cái xấu, cái lạc hậu, cái cản trở sự phát triển đi lên. Lénine đă từng gọi Người mẹ của Gorki là "quyển sách kịp thời" bởi v́ chính Người mẹ đă có sức mạnh cải tạo, sức mạnh của một vũ khí tinh thần và tư tưởng cho công nhân Nga lúc bấy giờ. Người nói (theo lời thuật lại của Gorki): "Quyển sách này là cần thiết, nhiều công nhân đă tham gia phong trào cách mạng một cách vô ý thức, tự phát, và bây giờ họ đọc Người mẹ, điều đó sẽ mang lại ích lợi lớn cho bản thân họ.[1] Và quả thật, những h́nh tượng điển h́nh về những công nhân - những chiến sĩ cách mạng Nga, qua sự miêu tả của nhà sáng lập ra nền văn chương hiện thực xă hội chủ nghĩa, đă tỏ ra là những tấm gương mà nhờ đó nhiều thế hệ chiến sĩ đấu tranh nhằm giải phóng nhân loại khỏi ách áp bức đă học tập được. Văn chương là h́nh ảnh chủ quan của thế giới khách quan, là sản phẩm của ư thức người nghệ sĩ, là sản phẩm của tài năng tư tưởng tình cảm của người nghệ sĩ. V́ vậy, chức năng cải tạo của văn chương đạt được tới đâu là do người đẻ ra nó. Sáng tạo nghệ thuật ngoài sự hiểu biết, tài năng ra c̣n là vấn đề lí tưởng sống. Lí tưởng sống của nhà văn gắn liền với chức năng cải tạo của văn học. Một tâm hồn bệnh hoạn, yếu đuối, một lí tưởng sống hưởng lạc th́ chỉ tạo ra được những h́nh tượng nghệ thuật nhằm trụy lạc hóa con người không hơn không kém. Lí tưởng nhà văn luôn luôn gắn liền với mọi giai cấp nhất định. Nhà văn là người phát ngôn cho giai cấp và những lực lượng xă hội nhất định. Nói đến chức năng cải tạo của văn chương là nói đến việc nhà văn dùng tác phẩm của ḿnh để truyền đạt lí tưởng sống của ḿnh mà cũng là lí tưởng của giai cấp ḿnh, của một lực lượng xă hội, một thời đại nhất định mà ḿnh đang sống. càng gắn lí tưởng ḿnh với lí tưởng tiến bộ của thời đại bao nhiêu th́ nhà văn càng phát huy được chức năng cải tạo của nghệ thuật ḿnh bấy nhiêu. Bởi v́ lí tưởng thời đại cũng tức là lí tưởng của quần chúng nhân dân người chủ nhân lịch sử. Lịch sử văn chương đă chứng tỏ rằng có những tác phẩm nghệ thuật có sức sống trường cửu, có sức cải tạo lớn lao là do lí tưởng nhà văn gắn bó với lí tưởng thời đại đó, lí tưởng nhân loại cần lao lúc đó. Đặc trưng chức năng giáo dục của văn chương là ở chỗ : văn chương giáo dục con người thông qua con đường t́nh cảm. Từ xúc động, lay động về t́nh cảm mà người đọc liên hệ đến bản thân, tự giác nhận ra đúng, sai. Nghệ thuật giáo dục con người bằng biện pháp tự giác. Giáo dục nghệ thuật không phải bằng biện pháp cưỡng bách, hành chính g̣ ép mà hoàn toàn tự giác, thoải mái. Nghệ thuật giáo dục bằng h́nh thức hấp dẫn vui tươi, cuốn hút. Ở đây, tưởng như giáo dục vui chơi, giải trí là một. Tác dụng giáo dục của nghệ thuật thật là lâu bền ; từ từ nhưng vô cùng sâu sắc.
3. Chức năng thẩm mĩ của văn chương.
Trong quá tŕnh con người đồng hóa tự nhiên về mặt thẩm mĩ th́ nghệ thuật là h́nh thái cao nhất, tập trung nhất, đầy đủ nhất của quan hệ thẩm mĩ của con người đối với hiện thực. Nói như thế có nghĩa là, con người, trong hoạt động thực tiễn của ḿnh, bao giờ cũng sáng tạo thế giới theo quy luật của cái đẹp. Trong "Bản thảo kinh tế - triết học 1844" C. Mác viết : "Súc vật chỉ nhào nặn vật chất theo thước đo và nhu cầu của giống loài của nó, c̣n con người th́ có thể sản xuất theo bất cứ giống loài nào, và ở đâu cũng có thể áp dụng thước đo thích hợp cho đối tượng, do đó con người cũng nhào nặn vật chất theo quy luật của cái đẹp.[1] Không chỉ nghệ thuật mà bất kỳ hoạt động thực tiễn vật chất nào của con người cũng đều có ư nghĩa thẩm mĩ. Tuy vậy, phải nhận rằng cái đẹp trong nghệ thuật là tập trung nhất, là mănh liệt nhất, là biểu hiện cao nhất của quan hệ thẩm mĩ của con người đối với hiện thực. Trong đời sống tinh thần của con người th́ nghệ thuật đảm đương trọng trách biểu hiện và truyền thụ cái đẹp. Những h́nh thái ư thức khác của xă hội như triết học, khoa học, … đều có chức năng nhận thức và giáo dục của nó. Nhưng chỉ có trong nghệ thuật, chức năng thẩm mĩ mới được đặt ra một cách bắt buộc. Chức năng thẩm mĩ của văn chương bộc lộ ở chỗ: làm thỏa Mácn nhu cầu thẩm mĩ, phát triển năng lực, thị hiếu thẩm mĩ của con người. Cũng tức là, nghệ thuật làm thỏa Mácn nhu cầu về lí tưởng, ước mơ, sự hoàn thiện hoàn mĩ của con người trước thế giới. Nghệ thuật thực hiện chức năng thẩm mĩ bằng nhiều cách: Trước hết là làm thỏa măn nhu cầu thẩm mĩ của người đọc bằng việc miêu tả và phản ánh cái đẹp trong tự nhiên và xă hội. Cái đẹp là cái khả năng đưa đến cho người ta một khoái cảm, một thích thú, một niềm xúc động khi con người nh́n thấy hoặc thưởng thức. Những cái được gọi là đẹp phải là cái chân thực, sinh động, hài ḥa, thống nhất được cái mặt tiêu biểu và đa dạng của sự vật, có khả năng tác động trực tiếp vào giác quan con người (thị giác và thính giác). Việc phản ánh này thường có chọn lọc và gắn liền với quá tŕnh điển h́nh hóa, tài năng sáng tạo của nghệ sĩ. Nhờ vậy, cái đẹp của đời sống khi đă được đưa vào nghệ thuật th́ nó đẹp gấp bội. Bởi v́ ngoài đời sống, nó đă đẹp, khi đi vào nghệ thuật nó lại qua bàn tay trau chuốt gọt dũa của nhà văn. Thử đơn cử một ví dụ, bài ca dao sau: Trong đầm ǵ đẹp bằng sen Lá xanh, bông trắng, lại chen nhị vàng Nhị vàng, bông trắng, lá xanh Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn. Nói đến sen là nói đến đẹp. Sen là đẹp, nhưng chỉ nh́n nó ở ngoài đời th́ chưa thấy hết cái đẹp của nó. Phải nh́n nó trong nghệ thuật ta mới thấy hết, càng nh́n càng thấy đẹp, đẹp từ màu sắc, hương vị, h́nh thức, phẩm chất. Giải thích cái đẹp trong nghệ thuật có phần duy tâm, nhưng Hégel đă khẳng định: "Ngay bây giờ chúng ta có thể khẳng định rằng cái đẹp trong nghệ thuật cao hơn cái đẹp của tự nhiên". Nghệ thuật không chỉ miêu tả, phản ánh cái đẹp trong tự nhiên, xă hội mà c̣n sáng tạo ra cái đẹp mới vốn không có trong hiện thực - tác phẩm nghệ thuật. Tác phẩm nghệ thuật là kết tinh tài năng sáng tạo trên cơ sở chất liệu hiện thực chứ không phải là bản thân hiện thực. Nó không chỉ là tư tưởng, t́nh cảm tài năng của nhà văn mà nó c̣n là cái đẹp mới. Bên cạnh cái đẹp của tự nhiên: vừng trăng, bầu trời, ánh sáng, cánh c̣, gịng sông… là cái đẹp do bàn tay nghệ sĩ tạo ra: áng thơ, bản nhạc, điệu múa… đây là một tự nhiên đẹp thứ 2. Nghệ thuật phát huy tác dụng chức năng thẩm mĩ đối với con người bằng cách rèn luyện năng lực thẩm mĩ cho con người trên rất nhiều b́nh diện. Nghệ thuật làm cho cảm xúc thẩm mĩ của con người ngày một tinh tế. Do tiếp xúc với nghệ thuật mà các giác quan của con người tinh tế, nhạy bén, đi đến khả năng cảm thụ nhiều hơn, lớn hơn. Ví dụ giữa tai người không rành nhạc và rành nhạc, có tiếp xúc rèn luyện nhiều. Người rành nhạc có lỗ tai có khả năng thẩm âm tốt hơn người không rành nhạc. Nghệ thuật đào tạo năng khiếu thẩm mĩ, tức là tạo ra năng lực sáng tạo, đánh giá cái đẹp của con người. Năng lực thẩm mĩ là một sự trao truyền, học tập lẫn nhau qua nhiều thế hệ. Không ai có thể sáng tạo hay thưởng thức được nghệ thuật nếu không biết đến nghệ thuật là ǵ. Chỉ có tôi luyện trong nghệ thuật th́ năng lực nghệ thuật mới phát triển. Có vấn đề tài năng trong lĩnh vực này, nhưng tài năng đó là cả một sự hun đúc của nhiều thế hệ. Nghệ thuật hun đúc cho con người khả năng cảm thụ tinh tế, đánh giá chính xác cái đẹp trong cuộc sống. Đồng thời, h́nh thành cho con người một nhận thức sâu sắc về cái đẹp. Thưởng thức nghệ thuật đồng thời là sự tiếp nhận giáo dục về nghệ thuật. C. Mác viết: "Nếu anh muốn hưởng thụ nghệ thuật, th́ anh phải là con người có kiến thức về nghệ thuật". Kiến thức về nghệ thuật không thể và chỉ đơn thuần lết quả sự tiếp thu theo con đường giáo dục bởi khoa mĩ học theo trường lớp sách vở mà c̣n bag cả con đường trực tiếp thưởng thức các tác phẩm nghệ thuật. Con đường này tuy tự phát nhưng vô cùng sâu sắc. Nghệ thuật cung cấp cho con người quan điểm thẩm mĩ, thái độ thẩm mĩ một cách sinh động và sâu sắc. V́ con người tiếp thu nó không phải dưới dạng kết luận, phán đoán trừu tượng như trong khoa nghiên cứu nghệ thuật.không một bài giảng về nghệ thuật nào có thể thay thế được điều mà con người trực tiếp nhận qua tác phẩm nghệ thuật. Nghệ thuật xây dựng cho con người lí tưởng thẩm mĩ. Con người, sản phẩm đẹp nhất của tạo vật là đối tượng của nghệ thuật. Nghệ thuật đă chọn cho ḿnh một đối tượng đặc biệt: tinh hoa của trời đất, "người ta là hoa đất" (Tục ngữ), "Con người làcái đẹp nhất trong thế giới mà chúng ta cảm giác được" (Tchernychevski), "Con người là lí tưởng của cái đẹp" (Kant). Nhưng nghệ thuật vẫn xây dựng những con người lí tưởng. Đó là lí tưởng thẩm mĩ. V́ mục đích nghệ thuật là không phải chụp lại , hay tái hiện tất cả những ǵ về phẩm chất mà con người hiện có. Con người trong nghệ thuật là con người sẽ có, cần có. Đó là con người lí tưởng. Do bản thân con người không bao giờ tự thỏa Mácn với ḿnh mà luôn luôn có nhu cầu vươn lên cái cao xa hơn - vươn lên con người lí tưởng.
 III. QUAN HỆ GIỮA CÁC CHỨC NĂNG CỦA VĂN NGHỆ 
Văn chương là một nghệ thuật, là một h́nh thái ư thức đặc thù, nó mang tính thẩm mĩ. Tính thẩm mĩ này gắn liền với bản chất của văn chương.nếu tách rời hoặc không thấy đặc thù thẩm mĩ th́ hoặc là không hiểu được bản chất văn chương, hoặc hạ thấp nó, hoặc biến nó thành một cái ǵ khác ngoài văn nó. Khi nói đến chức năng nhận thức của văn chương, dù có đề cập đến khả năng nhận thức to lớn của nó thế nào mặc ḷng mà không thấy đây là sự nhận thức có tính đặc thù thẩm mĩ, nhận thức từ góc độ thẩm mĩ th́ tức là đánh đồng nghệ thuật với mọi hoạt động nhận thức khác,và cũng tức là hạ thấp giá trị nhận thức của nghệ thuật dẫn đến hạ thấp hoặc thủ tiêu nghệ thuật. Chức năng thẩm mĩ của văn chương chỉ có thể phát huyđược tác dụng Mácnh liệt khi văn chương đạt được giá trị tự nhận thức cao. Ngược lại, văn chương chỉ có thể đạt được tính thẩm mĩ cao đẹp khi nó đạt được giá trị nhận thức sâu. Diderot nói: cái đẹp chẳng qua là chân lí. như thế, nghệ thuật không phải là cái ǵ phi lí, hoặc siêu nhiên mà nó quan hệ đến vấn đề chân lí. tác phẩm nghệ thuật càng tiếp cận với cuộc sống càng phản ánh được chân lí khách quan một cách sâu sắc th́ càng có tính nghệ thuật cao, xưa nay, những tác phẩm nghệ thuật lớn, bất hủ không có tác phẩm nào lại chỉ đạt một trong hai mặt này. Xét về mặt h́nh thức nhận thức th́ nghệ thuật có h́nh thức nhận thứcđặc thù so với h́nh thái ư thức khác, đó là h́nh thức nhận thức thẩm mĩ, nhận thức theo góc độ cái đẹp.nhưng xét về mặt bản chất nhận thức th́ nghệ thuật thống nhất với các hoạt động nhận thức khác của con người. nếu như chức năng thẩm mĩ là đặc trưng của văn chương th́ chức năng nhận thức là bản chất của văn chương. Mọi h́nh thức nhận thức chân chính của con người đều vươn đến mục đích cải tạo ḿnh. nhưng mọi h́nh thức nhận thức đó lại thực hiện chức năng cải tạo theo đặc trưng riêng. Nghệ thuật nói chung và văn chương nói riêng thực hiện chức năng cải tạo,giáo dục của ḿnh theo góc độ thẩm mĩ, bằng thỏa Mácn nhu cầu thẩm mĩ. Dưới h́nh thức thẩm mĩ, bằng phương tiện thẩm mĩ, văn học tiến hành giáo dục và cải tạo con người. Cải tạo giáo dục con người có rất nhiều h́nh thức, đó có thể bằng luân lí, đạo đức học, bằng chính trị và bằng hành chính v.v… Nhưng biện pháp nhẹ nhàng mà sâu sắc, tinh tế mà mạnh mẽ là biện pháp nghệ thuật. Nghệ thuật trực tiếp tác độngvào t́nh cảm con người để giáo dục, cải tạo con người. Thơ Ban chấp hành trung ương Đảng lao động Việt Nam gởi đại hội văn nghệ toàn quốc lần thứ III viết: "Là tiếng nói t́nh cảm, là h́nh thức nhuần nhị và sắc bén của tư tưởng có tác dụng sâu rộng và lâu bền trong đời sống tinh thần của nhân dân,văn nghệ giữ một vai tṛ quan trọng trong việc xây dựng đạo đức, t́nh cảm và tác phong xă hội chủ nghĩa". Một tác phẩm văn chương muốn đạt tới chức năng cải tạo và giáo dục ḿnh th́ trước hết phải đạt được tính nghệ thuật cao. Với những h́nh tượng nghệ thuật sinh động, có sức truyền cảm, nghệ thuật tác động vào t́nh cảm con người ; khi những h́nh tượng nghệ thuật có sức lay động t́nh cảm con người th́ t́nh cảm đó là xuất phát điểm, là sức bật cho lí trí và hành động của con người. Nghệ thuật không phải là vị nghệ thuật, nghệ thuật vị nhân sinh. Tự nó, nghệ thuật đă mang tính cải tạo giáo dục của ḿnh. tuy nhiên muốn có giá trị thẩm mĩ cao, nghệ thuật phải đạt tới sức cải tạo mạnh mẽ, ngược lại để cải tạp và giáo dục nghệ thuật lại phải đạt được tính thẩm mĩ cao. Nếu như chức năng thẩm mĩ là đặc trưng của nghệ thuật th́ chức năng giáo dục là nhiệm vụ của nghệ thuật. Văn chương là một h́nh thái ư thức, một h́nh thức nhận thức của con người như bất kỳ một h́nh thức nhận thức nào khác. Văn chương nhận thức không phải là để nhận thức mà nhận thức là để cải tạo, biến đổi thế giới. Cho nên, chức năng nhận thức và chức năng cải tạo giáodụccủa văn chương là không thể tách rời nhau.muốn cải tạo th́ trước hết phải nhận thức, nhận thức là để cải tạo, nhận thức càng sâu th́ cải tạo càng mạnh. Chức năng nhận thức và giáo dục gắn chặt với nhau và gắn chặt với chức năng thẩm mĩ.trong nghệ thuật, nhận thức là nhận thức dưới góc độ cái đẹp. Giáo dục là giáo dục thông qua nhận thức thẩm mĩvà bằng phương tiện thẩm mĩ. Yù nghĩa thẩm mĩ của tác phẩm nghệ thuật là ở chỗ hiệu quả giáo dục cải tạo mà nó đạt được. Tóm lại, văn chương nghệ thuật có 3 chức năng chủ yếu: nhận thức, giáo dục và thẩm mĩ. Ba chức năng quan hệ khắng khít và xuyên thấu vào nhau vàcùng tác động tới con người. Trong cả 3 chức năng đó, không được xem nhẹ một chức năng nào và cũng không thể tách bạch ra từng chức năng một trong thực tế. Nói một cách chính xác và khoa học ra th́ văn học nghệ thuật có một chức năng chủ yếu - nhận thức - giáo - thẩm mĩ. Bởi v́ giáo dục, thẩm mĩ, nhận thứclà 3 phương diện khác nhau của một vấn đề, của một sự vật. Chức năng này đồng thời biểu hiện chức năng kia và tồn tại trong chức năng kia và ngược lại. Ngoài 3 chức năng chủ yếu trên đây, văn chương c̣n có nhiều chức năng quan trọng khác như: chức năng giao tiếp, chức năng thanh lọc, chức năng giải trí v.v … văn chương phát huy tác dụng đa chức năng đối với đời sống.