THÔNG BÁO

  THỜI GIAN GẦN ĐÂY MỘT SỐ BẠN LỢI DỤNG  WEBSITE NÀY ĐỂ ĐƯA RA NHỮNG PHÁT NGÔN KHÔNG TỐT. CHO NÊN CHÚNG TÔI TẠM THỜI ĐÓNG WEBSITE LẠI ĐỂ NÂNG CẤP NHẰM HẠN CHẾ MỘT SỐ HÀNH VI KHÔNG TỐT LÀM ẢNH HƯỞNG ĐẾN DIỄN ĐÀN .CÁC BẠN CÓ THẮC MẮC XIN LIÊN HỆ : phanthanhhung90@gmail.com
CHƯƠNG VII: VĂN CHƯƠNG, NGHỆ THUẬT NGÔN TỪ
I. NGÔN TỪ, CHẤT LIỆU CỦA VĂN CHƯƠNG
1. Ngôn từ, chất liệu duy nhất để xây dựng h́nh tượng của văn chương
Tất cả các loại h́nh nghệ thuật, kể cả văn chương, đều thống nhất ở một điểm cơ bản là phản ánh cuộc sống bằng h́nh tượng. Nhưng sở dĩ các loại h́nh nghệ thuật đều song song tồn tại, và dường như là để bổ sung cho nhau là v́ đặc trưng h́nh tượng của các loạt h́nh nghệ thuật đó khác nhau trên nhiều điểm cơ bản. Chẳng hạn, h́nh tượng của nghệ thuật hội họa, điêu khắc, kiến trúc là có tính chất tĩnh và chiếm một khoảng không gian nhất định; h́nh tượng của nghệ thuật âm nhạc, điện ảnh… có tính chất động và diễn ra trong một khoảng thời gian nhất định v.v… Vậy, cái ǵ đă khiến cho h́nh tượng các loại h́nh nghệ thuật có đặc điểm riêng biệt đó? Lí do trên hết và trước hết chính là ở đặc trưng của chất liệu xây dựng nên h́nh tượng nghệ thuật của chúng. Chất liệu màu sắc, đường nét của hội họa khác hẳn chất lượng âm thanh của âm nhạc, h́nh khối của điêu khắc. Chất liệu ngôn từ của h́nh tượng văn chương khác xa với màu sắc, âm thanh, đường nét, h́nh khối của các nghệ thuật kia. Từ cơ sở chất liệu xây dựng h́nh tượng này mà người ta đă tiến hành mô tả, dựng lại bức tranh về các h́nh tượng của thế giới nghệ thuật như sau:
Nghệ thuật biểu hiện
Nghệ thuật tạo h́nh
Nghệ thuật tĩnh
Nghệ thuật động
Nghệ thuật ngôn từ
Nghệ thuật tổng hợp
Kiến trúc
Hoa văn
Vũ đạo
Âm nhạc
Trữ t́nh
Ba lê, Ô pêra Điện ảnh Điêu khắc Hội họa Nhiếp ảnh Tự sự, kịch Sân khấu
Điều đáng lưu ư trong bức tranh này là văn chương được xếp ở một vị trí đặc biệt: nó vừa mang tính chất của nghệ thuật tĩnh, không gian, lại vừa mang tính chất nghệ thuật động, thời gian; vừa là nghệ thuật biểu hiện, lại vừa có mặt trong nghệ thuật tạo h́nh; lại nữa, nó như là cầu nối giữa nghệ thuật tổng hợp với các nghệ thuật riêng rẽ. Chính ngôn từ, chất liệu cấu tạo nên các h́nh tượng văn chương đă qui định tính độc đáo và đặc biệt đó của văn chương. V́ vậy, để t́m hiểu về văn chương nghệ thuật, không thể không t́m hiểu đặc trưng bản chất liệu đă tạo nên h́nh tượng văn chương.
2. Phân biệt ngôn ngữ và ngôn từ
Cần thiết phải phân biệt khái niệm ngôn ngữ với ngôn từ để đi tới nắm bắt đặc trưng chất liệu xây dựng h́nh tượng văn chương dễ dàng hơn. Ngôn ngữ là một hiện tượng xă hội, một sản phẩm tập thể được ra đời trong quá tŕnh lao động sản xuất xă hội. Nó cũng là hệ thống kư hiệu tồn tại trong ư thức của những người cùng một dân tộc. Ngôn ngữ ra đời đồng thời với tư duy và chức năng quan trọng của nó là giao tế - giao lưu giữa người này với người kia. Ngôn ngữ là nguồn dự trữ các từ và nguyên tắc kết hợp - ngữ pháp, là một pho tự điển chung cho mọi người, mỗi cá nhân không thể sáng tạo ra ngôn ngữ. C̣n lời nói là h́nh thức tồn tại thực tế của ngôn ngữ, là ngôn ngữ trong hành động, là bản thân quá tŕnh giao tiếp bằng ngôn ngữ giữa người và người cụ thể, nảy sinh trong một hoàn cảnh cụ thể và bao giờ cũng biểu đạt những tư tưởng nhất định, mang màu sắc t́nh cảm và khuynh hướng tư tưởng nhất định. Lời bao gồm lời nói và lời viết, đồng nghĩa với hoạt động ngôn từ. Như vậy, không phải ngôn ngữ là chất liệu xây dựng h́nh tượng văn chương mà là ngôn từ - lời được sử dụng với tất cả phẩm chất và khả năng thẩm mĩ của nó. Ngôn ngữ là tổng thể các yếu tố của phương tiện giao tiếp là cơ sở của ngôn từ. Chỉ có ngôn từ - yếu tố vật chất mang tính h́nh tượng mà cơ sở là câu - cái có khả năng phản ánh các yếu tố của hiện thực trong một tương quan nhất định mới là chất liệu văn chương.
3. Khả năng nghệ thuật của ngôn từ
Tính độc đáo của các loại h́nh nghệ thuật là do tính chất của chất liệu đă cấu tạo nên h́nh tượng nghệ thuật của chúng. Tức là các loại nghệ sĩ đă t́m thấy cho ḿnh khả năng nghệ thuật ở trong từng loại chất liệu nhất định, cũng có nghĩa là các loại h́nh nghệ thuật tồn tại dựa trên cơ sở khả năng nghệ thuật của chất liệu. Vậy khả năng nghệ thuật của chất liệu cấu tạo h́nh tượng văn chương là như thế nào? Nếu nghệ thuật, tính h́nh tượng là thuộc tính của chúng th́ nghệ sĩ ngôn từ đă có một lợi thế là tính h́nh tượng văn chương đă có cơ sở ngay từ trong chất liệu. Ngôn từ mang tính h́nh tượng tự trong bản chất của nó. Bởi v́, ngôn ngữ là hiện thực trực tiếp của tư duy và ư thức không thể tồn tại ngoài ngôn ngữ được. Các từ câu của lời nói là h́nh ảnh của hiện thực. Ngôn ngữ thực hiện chức năng giao tế trên 3 phương diện: định danh (lời nói gọi tên các sự vật - chức năng định danh), biểu ư (lời nói trao đổi ư kiến với nhau) biểu cảm (lời nói biểu hiện và truyền đạt t́nh cảm). Như vậy lời nói gợi lên các sự vật, đưa con người thâm nhập vào thế giới của ấn tượng, cảm xúc. Khi tín hiệu ngôn ngữ tác động đến thị giác hay thính giác của con người, th́ lập tức bằng thói quen và kinh nghiệm, các sự vật được gợi đến hiện lên trong đầu óc chúng ta. Sự vật, hiện tượng nào chúng ta tiếp xúc nhiều th́ hiện lên càng rơ. Chính v́ vậy mà ngôn ngữ tuy là vỏ vật chất nhưng có khả năng biểu đạt được một cách h́nh tượng cuộc sống xă hội cùng những cảm xúc, suy tư, thái độ của con người trước cuộc sống. Âm thanh trong âm nhạc, màu sắc trong hội họa, gỗ đá trong điêu khắc, trước hết chúng chỉ là vật vô tri, vô giác của tự nhiên, có sẳn trong tự nhiên. Trong lúc đó, ngôn ngữ là của cải của xă hội, nó không vô tri mà bất cứ đơn vị nào cũng là yếu tố của tư tưởng. V́ vậy mà rất thường khi trong tác phẩm văn chương ta bắt gặp những câu như là những lời nói b́nh thường với những từ chỉ có nghĩa đen - gợi lên sự vật b́nh thường nhưng nó vẫn mang tính h́nh tượng. Chỉ bởi các từ đó đă gợi ra các sự vật. Có người thắc mắc rằng, ví dụ, câu sau đây trong một cuốn tiểu thuyết nọ th́ nghệ thuật ở đâu: Bà bá tước ra đi lúc 5 giờ sáng?
Trước hết phải thấy rằng tiểu thuyết có những lời văn b́nh thường như lời nói ngoài đời là b́nh thường. C̣n tính nghệ thuật của chúng ở đây là chỗ gọi ra đúng tên, sự việc cần gọi (nghĩa đen) và như vậy là gợi lên h́nh ảnh hiện thực - đạt được tính h́nh tượng. Hơn nữa, không thể hiểu hết lời văn đó, khi tách nó ra khỏi văn cảnh. Tính h́nh tượng của ngôn từ tồn tại trong bản thân nó mà người ta dễ nhận ra ở loại từ tượng h́nh, tượng thanh, mô tả cảm giác và tâm trạng. Chẳng hạn: - Chị ấy năm nay c̣n gánh thóc. Dọc bờ sông trảng nắng chang chang - Kẽo cà, kẽo kẹt, Kẽo cà, kẽo kẹt Tay em đưa đều, Ba gian nhà nhỏ Đầy tiếng vơûng kêu. Tính h́nh tượng của ngôn từ c̣n thể hiện ở các phương thức chuyển nghĩa: tỷ dụ, ẩn dụ, hoán dụ… - Nghe như cưa xe, tiếng ve rít dài - Ngh́n tay than chảy rạch máu trời xanh - V́ sao trái đất nặng ân t́nh Nhắc Máci tên người Hồ Chí Minh Lời nói là h́nh thức tồn tại cụ thể của ngôn ngữ, là hành động cá nhân mang tư tưởng, t́nh cảm, ư chí nguyện vọng cá nhân. lời nói không bao giờ vô chủ cả, má bao giờ cũng là phát ngôn của một chủ thể. Như thế qua lời nói mà ta nhận ra người nói, ở đây, ngôn từ bộc lộ khả năng nghệ thuật của ḿnh ở giác độ cá thể hóa. Khả năng nghệ thuật của ngôn từ là cơ sở của ngôn từ nghệ thuật.
II. ĐẶC TRƯNG CỦA NGHỆ THUẬT NGÔN TỪ
1. Tính phi vật thể của h́nh tượng nghệ thuật ngôn từ.
a. H́nh tượng ngôn từ thiếu tính trực quan
Tính độc đáo của chất liệu xây dựng nên h́nh tượng văn chương là ngôn từ đă khiến cho h́nh tượng văn chương mang tính phi vật thể. Người ta vẫn thường đối lập văn chương với nghệ thuật. Đây không phải là ngẫu nhiên. Có thể phân chia thế giới nghệ thuật của con người ra làm hai loại: một loại chỉ có một ngành là văn chương, c̣n loại kia là gồm tất cả các ngành nghệ thuật khác. Căn cứ vào chất liệu xây dựng h́nh tượng th́ cách phân chia này hoàn toàn hợp lí. Các ngành nghệ thuật (ngoài văn chương) h́nh tượng của nó được xây dựng bằng chất liệu vật chất cụ thể của tự nhiên: gỗ, đá, kim loại, sơn màu, thân thể con người v.v… Từ những vật liệu có tính chất vật thể đó, h́nh tượng các loại h́nh nghệ thuật được xây dựng nên đều mang tính hữu h́nh trực tiếp, tính xác thực, tính trực quan. Các h́nh tượng hữu h́nh vật thể này có khả năng tác động trực tiếp vào giác quan, gây nên những ấn tượng, cảm xúc thị giác mạnh mẽ. Được xây dựng từ chất liệu ngôn từ, h́nh tượng văn chương không tác động trực tiếp vào các giác quan của chúng ta, dù là thị giác hay thính giác. Người thưởng thức tác phẩm văn chương được gọi là độc giả c̣n người thưởng thức tác phẩm nghệ thuật thường được gọi là khán giả, mặc dầu cả 2 loại người này đều dùng mắt cả. Chỉ bởi, đối với văn chương không ai trực tiếp nh́n, ngắm h́nh tượng của nó bằng mắt cả. Các h́nh tượng văn chương hiện lên trong óc người thưởng thức bằng trí tưởng tượng. Người đọc phá vỡ ư nghĩa các từ, câu để liên tưởng với các biểu tượng về đối tượng được miêu tả, nhờ vào trí tưởng tượng mà người đọc dường như tái tạo đối tượng miêu tả màvăn bản chỉ ra. Như thế chúng ta không sờ thấy, nghe thấy, nh́n thấy trực tiếp tượng văn chương. Các h́nh tượng văn chương thiếu tính trực quan, chúng phi vật thể. Nghệ thuật là qui luật của t́nh cảm, mà t́nh cảm chỉ xuất hiện khi con người tiếp xúc trực tiếp với sự vật, hiện tượng cụ thể. Đứng về phương diện này, văn chương phải nhường chỗ cho các nghệ thuật khác. Tính phi vật thể của h́nh tượng văn chương đă không thể tạo ra được tri giác cảm tính trực tiếp. Đây là một khiếm khuyết, nhiều khi không phải là nhỏ của văn chương. Để khắc phục t́nh trạng đó, nghệ sĩ ngôn từ luôn luôn phấn đấu cho các h́nh tượng vật thể của ḿnh trở nên hữu h́nh. V́ vậy, mà tính tạo h́nh là một thuộc tính của h́nh tượng văn chương. Người xưa thường nói thi trung hữu họa, ngày nay Gorki đă gọi văn chương là nghệ thuật tạo h́nh bằng phương tiện ngôn ngữ. Chính những biểu tượng hữu h́nh mà ngôn từ gợi nên đă khiến cho độc giả có cảm giác là có thể cảm thụ nghệ thuật văn chương bằng thị giác.
b. H́nh tượng nghệ thuật ngôn từ tác động tới mọi giác quan của độc giả
Nếu như các ngành nghệ thuật khác, h́nh tượng của nó chỉ có thể cảm thụ bằng 2 giác quan là thị giác và thính giác, th́ h́nh tượng phi vật thể của văn chương lại có năng tác động tới người đọc không chỉ ở cơ quan thị giác mà cả thính giác, vị giác và khứu giác. Độc giả dường như phải vận dụng mọi cơ quan cảm giác để tiếp nhận h́nh tượng văn chương. Những câu thơ sau đây ta phải dùng thị giác để tiếp nhận màu sắc, h́nh khối của hiện thực:
- Cỏ non xanh tận chân trời
Cành lê trắng điểm một vài bông hoa
- Long lanh đáy nước in trời T
hành xây khói biếc, non phơi bóng vàng.
- Dưới trăng quyên đă gọi hè
Đầu tường lửa lựu lập ḷe dăm bông.
Những câu thơ sau đây ta phải dùng thính giác để tiếp nhận âm thanh cuộc sống.
- Sóng sầm sịch lưng chừng ngoài biển bắc
Giọt mưa t́nh rỉ rắc chốn hàng hiên
- Đùng đùng gió dục mây vần
Một xe trong cơi hồng trần như bay
H́nh tượng ngôn từ c̣n đem đến cho con người cả hương vị cuộc sống.
- Em ạ! Cu_ba ngọt lịm đường
Mía xanh đồng băi, biếc đồi nương
Cam ngon, xoài ngọt vàng nông trại
Ong lạc đường hoa rộn bốn phương
- Thoảng mùi hoa thiên lí ngơ nhà ai
Một tiếng chim khuya gọi mùa vải đỏ.
H́nh tượng văn chương c̣n đem đến cho con người những cảm giác khác:
- Cảm giác về sự đau đớn:
Cháu buốt ở trong tim này
Nơi tang đeo suốt đêm ngày Bác ơi.
- Cảm giác về buồn chán:
Đêm mưa làm nhớ không gian
Ḷng run thêm lạnh nổi hàn bao la
Tai nương nước giọt mái nhà
Nghe trời nằng nặng, nghe ta buồn buồn.
Đó là những cảm giác ngoài cảm giác v́ nó không do các giác quan đem lại mà do sự thể nghiệm của độc giả đưa lại khi các h́nh tượng văn chương tác động tới sự tưởng tượng trí tuệ của chúng ta. Tính hơn hẳn của nghệ thuật ngôn từ không chỉ ở chỗ nó tác động tới nhiều cơ quan cảm giác của người đọc mà c̣n ở chỗ tác động tới trí tưởng tượng trí tuệ. Thực sự th́ nghệ thuật ngôn từ không lấy mục đích tối thượng là khắc họa bản thân các thuộc tính của sự vật để có thể cảm nhận bằng giác quan của người đọc, mà nó lấy việc khắc học những phản ứng của ư thức con người trước hiện thực làm quan trọng. Do đó, điều quan trọng trong h́nh tượng nghệ thuật ngôn từ là tâm trạng và muốn thưởng thức nó bạn đọc không phải nh́n ngắm mà là thể nghiệm. Đây là tâm trạng đau đớn v́ mất mát quá lớn của Nguyễn Khuyến: Bác Dương thôi, đă thôi rồi Nước mây man mác, ngậm ngùi ḷng ta
c.Tính chủ quan, cá biệt của h́nh tượng văn chương
H́nh tượng nghệ thuật văn chương là phi vật thể nó lại lấy việc khắc họa tâm trạng, thể hiện các môn quan hệ, các phản ứng của ư thức con người- là những cái vô h́nh - làm chủ yếu, chứ không lấy sự liệt kê các chi tiết có thể thụ cảm bằng thị giác làm cứu cánh. Đo đó, trong các liên tưởng ở người đọc do h́nh tượng ngôn từ gợi nên có tính chủ quan cá biệt, thậm chí tùy tiện. Nhưng đây lại là đặc trưng bản chất của văn chương. Không nói những yếu tố vô h́nh mà ngay những yếu tố hữu h́nh - ví dụ như ngoại h́nh nhân vật, phong cảnh thiên nhiên của h́nh tượng văn chương, biểu tượng của chúng xuất hiện rất khác nhau ở người đọc, khác với biểu tượng xuất hiện của người xem tranh, xem kịch hay xem chiếu bóng. Trong các người đọc khác nhau sẽ xuất hiện những biểu tượng khác nhau về cùng một nhân vật văn chương. Tố Hữu xem Kiều là con người đáng thương:
- Bâng khuâng nhớ Cụ, thương thân nàng Kiều
- Tố Như ai, lệ chảy quanh thân Kiều C̣n Tản Đà xem Kiều là người con gái đáng trách:
Đoạn trường cho đáng kiếp tà dâm
Bán ḿnh trong bấy nhiêu năm
Dễ đem chữ hiếu mà lầm được ai.
Không nắm được đặc điểm bản chất này của văn chương, nên có người đă muốn cụ thể hóa các hiện tượng nghệ thuật văn chương bằng bàn tay các họa sĩ. Có thầy giáo làm giáo cụ trực quan để phục vụ giảng văn bài Tùng của Nguyễn Trăi bằng cách thuê họa sĩ vẽ một bức tranh về cây tùng. Cái sai lầm trước hết là biểu tượng về cây tùng xuất hiện ở người thầy nọ và ở ông họa sĩ kia là khác nhau. Hơn nữa, Nguyễn Trăi ca ngợi cây tùng chủ yếu là cốt cách, phẩm chất bằng nét vẽ. Mặt khác, thực sự tùng này không phải là h́nh ảnh chụp lại một cây tùng nào thật ngoài đời. cây Tùng ở đây là con người. Nó mang tính tượng trưng và ước lệ cao. Chính đo đặc điểm này của h́nh tượng văn chương mà người ta xem bạn đọc là một khâu trong quá tŕnh sáng tạo. Việc sáng tác một h́nh tượng nghệ thuật kết thúc không phải ở trong các trang tác phẩm mà ở chỗ khi nó đă nằm trọn trong tâm trí bạn đọc.
2. Không gian và thời gian trong h́nh tượng văn chương
a. Nghệ thuật thời gian và nghệ thuật không gian
Chất liệu ngôn từ của h́nh tượng văn chương cũng đă làm cho tính chất không gian và thời gian của h́nh tượng văn chương có đặc trưng riêng. Người ta phân chia thế giới nghệ thuật ra làm 2 loại chủ yếu - nghệ thuật thời gian và nghệ thuật không gian - là căn cứ h́nh tượng các loại h́nh nghệ thuật này đă chiếm lĩnh hiện thực trong các chiều không gian và thời gian như thế nào. Loại nghệ thuật mà h́nh tượng của nó chiếm một khoảng không gian và bất động là loại nghệ thuật không gian, đây là loại nghệ thuật chiếm lĩnh đối tượng mà các phần của nó cái này nằm bên cạnh cái kia. Loại nghệ thuật mà h́nh tượng của nó diễn ra theo thứ tự trước sau và chiếm và chiếm một khoảng thời gian nhất định là nghệ thuật thời gian. Đây là loại nghệ thuật chiếm lĩnh đối tượng mà bộ phận của nó lần lượt xuất hiện trong thời gian.
b. Tính chất thời gian của nghệ thuật ngôn từ
Đứng về phương diện thời gian, người ta xếp văn chương vào loại nghệ thuật thời gian. Chính đặc trưng chất liệu ngôn từ đă qui định tính chất thời gian của h́nh tượng văn chương. Lời nói là âm thanh được phát ra từng tiếng lần lượt theo thời gian. H́nh tượng văn chương có khả năng to lớn trong việc chiếm lĩnh đối tượng mà các bộ phận của nó xuất hiện theo thời gian. Văn chương chủ yếu tái hiện các quá tŕnh đời sống, các sự vật và hiện tượng nối tiếp nhau trong thời gian. Có một loạt các nghệ thuật thời gian, nhưng nghệ thuật thời gian - văn chương là có tính đặc thù. Tính đặc thù đó là ở chỗ, trong văn chương, thời gian được thể hiện uyển chuyển, biến hóa khôn lường nhà văn có thể ép mỏng lại hoặc kéo căng thời gian ra tùy theo yêu cầu nghệ thuật nhất định. thời gian trong văn chương không nhất thiết được thể hiện đúng như thật, trực tiếp như thời gian trên sâu khấu là trùng khít với thời gian được miêu tả. Trong văn chương thời gian nhiều khi chỉ là khoảng khắc nhưng được nhà văn đặc tả tỉ mỉ và có thể có cả lời b́nh phẩm kéo dài hàng trang sách. Như vậy ở đây thời gian cần để miêu tả nhiều gấp mấy lần thời gian được miêu tả. Hăy so sánh 9 phút cuối cùng của anh hùng Nguyễn Văn Trỗi trong phim và truyện Sống như Anh với bài thơ Nguyễn Văn Trỗi, 9 phút đă được miêu tả chỉ trong mấy chục giây trong phim và truyện, nhưng trong thơ Tố Hữu lại được miêu tả mấy chục phút. Thường khi, văn chương dồn nén thời gian từ một khoảng thời gian tự nhiên dài ngoài thực tế lại một vài ḍng ngắn gọn.
Ngày qua, ngày lại qua ngày
Lá xanh nhuộm đă thành cây lá vàng
Các tác phẩm văn chương có thể mô tả đối tượng chiếm một khoảng khắc thời gian, cũng có thể mô tả đối tượng diễn ra hàng thế kỷ. Bài thơ vịnh pháo sau đây, thời gian thực tế chỉ là tích tắc:
Pháo mới kêu to một tiếng đùng
Hỡi ơi xác pháo đă tan không
Tiếc thay thân pháo không c̣n nữa
Nhưng đă tan ra vạn sắc hồng.
Nhưng bộ sử thi Chiến tranh và ḥa b́nh của L.Tolstoi là cả một gian đoạn lịch sử dài một thế kỉ. Về mặt nhịp độ, thời gian trong văn chương có thể trôi nhanh hay chậm; đều đặn êm đềm hay biến động căng thẳng. Thời gian trong bài thơ Nhật kư của Hoàng Nhuận Cầm sau đây trôi rất nhanh: Sáng: B́nh minh ấy là b́nh minh kỉ niệm Chiều: Hoàng hôn như lạ lại như quen Tối: Tắc kè kêu ném lưỡi vào đêm Có ngủ được đâu Nằm nghe lá thở Nằm nghe súng nổ Thôi, sáng rồi vẫn tiếng gà xóm mẹ Cuốn vơng vào theo hướng súng mà đi Mối quan hệ thời gian giữa quá khứ, hiện tại và tương lai trong văn chương có thể rất gần nhau nhưng cũng có thể rất xa nhau. liên hệ thời gian ở VIếng bạn của Hoàng Lộc rất gần nhau:
Hôm qua, hôm nay và mai mốt
Hôm qua c̣n theo anh
Đi ra đường quốc lộ
Sáng nay đă chặt cành
Đắp cho người dưới mộ .....................................
Mai mốt bên cửa rừng
Anh có nghe súng nổ là chúng tôi đang cố Tiêu diệt kẻ thù chung
Ở bài Quê hương của Giang Nam mối liên hệ thời gian khá xa - từ thuở c̣n thơ đến cách mạng bùng lên, kháng chiến trường kỳ và ḥa b́nh trở lại. Thời gian trong văn chương có thể diễn ra cùng chiều với thời gian tự nhiên ngoài đời; cũng có thể có sự ngược lại từ tương lai rồi trở về quá khứ hoặc xen kẽ giữa quá khứ, hiện tại. Nhưng điều quan trọng là thời gian trong h́nh tượng văn chương không chỉ đơn thuần là vấn đề tương quan như thế nào giữa thời gian được miêu tả với thời gian khách quan, giữa ḍng ngôn từ trần thuật với thời gian khách quan. mà là tương quan trước -sau giữa các lớp, đoạn, cảnh, sự kiện, chi tiết. Khả năng nghệ thuật thời gian nghệ thuật của văn chương rất lớn nó chẳng những hơn hẳn sân khấu mà c̣n hơn hẳn điện ảnh, truyền h́nh.
c. Tính không gian của nghệ thuật ngôn từ
Người ta đă xếp văn chương vào hàng nghệ thuật thời gian, nhưng đứng ở góc độ nào đó mà xét th́ văn chương c̣n là nghệ thuật không gian - loại nghệ thuật không gian đặc biệt. Không gian nghệ thuật của văn chương là có tính đặc thù. Tính đặc thù này cũng là do đặc thù chất liệu xây dựng h́nh tượng - ngôn từ, quy định. các lời nói trong tác phẩm văn chương không phải được diễn ra cùng một lúc mà theo trật tự trước sau và ngay trong lời nói các từ cũng từ này tiếp sau từ kia. Có lợi thế về mặt thời gian, nhưng quảng tính thời gian của lời nói đă là trở ngại cho văn chương khi miêu tả không gian. Lessing đă viết: Những ǵ mà con mắt ta nắm bắt được ngay tức khắc th́ nhà thơ phải tŕnh bày cho chúng ta chậm răi, theo từng bộ phận, và thường kết quả là, khi cảm thụ bộ phận sau th́ quên mất bộ phận trước ở đây sự đối chiếu vật thể trong không gian đă vấp phải tính liên tục của lời nói trong thời gian. Đây là một hạn chế so với các nghệ thuật không gian vật thể. tuy vậy, văn chương đă dùng sở trường để khắc phục sở đoản. Văn chương xem việc miêu tả sự vật tĩnh tại là thứ yếu. V́ nó không có khả năng hấp dẫn độc giả. Văn chương thiên về miêu tả quá tŕnh đời sống, sự vận động, tái hiện các hành động. Ngay miêu tả một sự vật cũng vậy, nhà văn không dừng lại ở chỗ liệt kê, thống kê tỉ mỉ một cách tĩnh tại mà là vẽ chiều sâu lịch sự của sự vật. C̣n các bức tranh phong cảnh hoặc hoàn cảnh xung quanh nhân vật th́ không phải là phong cảnh tĩnh tại, chết mà là vận động hoặc động. Nguyễn Du trong bức tranh sau đây đă nh́n thấy sự vận động của tạo vật mà con mắt thường không thể thấy được.
Xập xé én liệng tầng không
Cỏ lan mặt đất, rêu phong dấu giày.
Và bài thơ Hạt gạo làng ta của Trần Đăng Khoa, chẳng hạn, có họa sĩ nào vẽ được:
Hạt gạo làng ta
Có vị phù sa
Của sông Kinh thầy
Có hương sen thơm
Trong hồ nước đầy
Có lời mẹ hát Ngọt bùi hôm nay...
Hạt gạo làng ta
Có băo tháng bảy
Có mưa tháng ba
Giọt mồ hôi sa
Những trưa tháng sáu
Nước như ai nấu
Chết cả các cờ
Sớm nào chống hạn
Vục mẻ miệng gàu
Trưa nào bắt sâu
Lúa cao xáp mặt
Chiều nào gánh phân Quang trành quét đất
Cua ngoi lên bờ
Mẹ em xuống cấy
Hạt gạo làng ta
Những năm bom Mĩ
Trút trên mái nhà
Những năm cây súng
Theo nguời đi xa
Những năm băng đạn
Vàng như lúa đồng
Bát cơm mùa gặt T
hơm hào giao thông...
Hạt gạo làng ta
Có công các bạn
Hạt gạo làng ta
Gởi ra tiền tuyến
Gởi về phương xa...
Em vui em hát
Hạt vàng làng ta.
Không gian trong văn chương có thể rất hẹp cũng có thể rất rộng: một sự vật, một con người, một căn pḥng v.v... và có thể là một công trường, một chiến trường. Nói chung, không gian trong văn chương không bị một hạn chế nào. có họa sĩ nào vẽ được không gian của Tây du kí, Tam quốc chí, Chiến tranh và Ḥa b́nh. Không gian trong văn chương được di chuyển rất dễ dàng. Đang ở không gian này người đọc có thể được đưa sang một không gian khác một cách dễ dàng và bất kỳ ở đâu. Sự thay đổi không gian trong văn chương cũng không bị hạn chế. Khả năng bao quát của không gian trong văn chương là vô cùng. Không một bức tranh nào so sánh nỗi khả năng này của văn chương. Có một không gian nghệ thuật của văn chương mà các nghệ thuật khác khó ḷng với tới. Đó là không gian tâm tưởng (thế giới nội tâm - suy tư và mơ ước của con người). Chẳng hạn suy tư của Gamzatov trong bài thơ 8 câu sau đây: T
ôi hoàn toàn không ngạc nhiên
Từ xưa tới nay vẫn thế
Thuốc độc, ḷng tham và tiền
Có thể giết người ta rất dễ
Nhưng tôi không hiểu một điều
V́ sao, tôi không biết:
Rằng nhiều khi sự thật và t́nh yêu
Cũng có thể làm cho người ta chết.
Không gian và thời gian của văn chương là không gian và thời gian nghệ thuật - nó vừa là sự phản ánh không gian và thời gian hiện thực nhưng vừa mang ư nghĩa khái quát. Nhưng đồng thời không gian và thời gian trong văn chương nhiều khi mang ư nghĩa tượng trưng. Ví dụ trong thơ, văn cách mạng hay dùng đường cách mạng, chẳng hạn.
3. Khả năng phản ánh ngôn ngữ và tư duy của h́nh tượng văn chương
a. Khả năng phản ánh ngôn ngữ
Lời nói trong văn chương nghệ thuật không chỉ như một phương tiện vật liệu để xây dựng h́nh tượng mà nó c̣n là đối tượng miêu tả của văn chương. Đó chính là tính song b́nh diện độc đáo của h́nh tượng ngôn từ. Một mặt, nhờ có ngôn từ nghệ thuật (với tư cách là vật liệu xây dựng h́nh tượng) mà các phương diện khác nhau của hiện thực ngoài lời nói (con người và tồn tại nói chung) được tái hiện. Mặt khác, ngôn từ nghệ thuật c̣n tái hiện cụ thể mọi mặt của hoạt động lời nói của con người (lời nói ở đây với tư cách là đối tượng miêu tả). Văn bản tác phẩm văn chương bao giờ cũng là một tổng thể của những lời phát ngôn của những con người nhất định: phát ngôn của người kể chuyện, nhân vật tự sự, nhân vật trữ t́nh. Trong tác phẩm văn chương không có lời nói vô chủ - bất kỳ lời nói nào cũng phát ra từ cửa miệng của một người nào đó nhất định. Do đó, con người ở trong văn chương xuất hiện với tư cách là con người mang lời nói, con người biết nói năng. Xem lời nói là đối tượng miêu tả, văn chương khắc phục hạn chế tính lược đồ, tính không trọn vẹn của h́nh tượng ngôn từ, tức là những khiếm khuyết do tính phi vật thể của h́nh tượng sinh ra, tạo ra những ưu thế cho ḿnh so với nhiều nghệ thuật vật thể. Các nghệ thuật khác như hội họa, điêu khắc là nghệ thuật tĩnh không những với nghĩa h́nh tượng của nó không cử động mà c̣n với nghĩa đây là những h́nh tượng im lặng - không có lời nói. Âm nhạc, nghệ thuật của âm thanh, nó tác động Mácnh liệt vào t́nh cảm của con người nhưng nó vẫn là phạm vi không lời của hiện thực và nó cũng không nói bằng lời nói cho thính giả được. Lời nói với tư cách là đối tượng miêu tả nó chẳng những tác động vào trí tưởng tượng của độc giả mà c̣n tác động vào thính giác của độc giả nữa. Văn bản văn chương là hệ thống của những giọng điệu khác nhau của con người. Lời nói là điều kiện tiên quyết để nhà văn khắc họa tính cách nhân vật, dựng lại bức tranh ngôn ngữ dân tộc, đồng thời là bằng chứng về văn hóa và văn minh của dân tộc.
b. Khả năng phản ánh tư duy
Lời nói và tư duy gắn chặt với nhau. không thể tư duy mà không có lời nói và lời nói chính là tư duy. V́ vậy, nếu nói văn chương miêu tả ngôn từ th́ đồng thời phải nói văn chương miêu tả tư tưởng. Văn chương vừa vẽ lên những bức chân dung về tư tưởng của con người. Văn chương là ngành nghệ thuật duy nhất tái tạo các quá tŕnh tư duy của con người. Mỗi con người trong văn chương là mỗi nhà tư tưởng; họ không những là con người biết suy nghĩ, cảm xúc, có ư thức về ḿnh mà c̣n có ư thức về người - họ có ư kiến nhất định trước vận mệnh và cuộc đời. đây là một ưu thế đặc thù của văn chương. Nghệ thuật nào cũng gắn liền với tư tưởng. Nhưng các loại h́nh nghệ thuật khác biểu hiện tư tưởng của con người một cách gián tiếp. Qua một bức tranh, bản nhạc chúng ta không t́m được những tư tưởng cụ thể mà chỉ là đoán định - ngay cả những bức tranh tượng về con người. Các nghệ thuật đó không dựng lên được con người đang tư duy. Trong văn chương, quá tŕnh tư duy của con người được thể hiện một cách trực tiếp. Người đọc tiếp xúc trực tiếp qua các lời thoại của nhân vật hoặc lời nói thầm ... của các nhân vật - những ư tưởng chưa thốt nên lời. Là nghệ thuật phương tiện tư duy, văn chương về thực chất là lời đề nghị, là cuộc tranh luận, là cuộc đối thoại, nói theo Biélinski, là câu hỏi đặt ra hay câu trả lời. Do vậy, tính tư tưởng của văn chương chúng ta dễ thấy v́ nó vừa sâu sắc; vừa nổi bật, vừa phong phú lại trực tiếp.
4. Tính vạn năng và tính phổ thông của văn chương
a. Tính vạn năng
Mỗi từ mỗi câu của lời nói là yếu tố tư tưởng, mà tư tưởng là h́nh ảnh của thế giới khách quan, lấy ngôn từ làm chất liệu xây dựng h́nh tượng, văn chương có tính vạn năng trong việc phản ánh đời sống. Tính vạn năng đó, thể hiện:
- Chiều rộng của phạm vi hiện thựcphản ánh: Không có giới hạn về phạm vi hiện thực trong văn chương. Bất cứ phạm vi hiện thực nào văn chương cũng có khả năng với tới.
- Chiều sâu của sự phản ánh: Tính vạn năng c̣n được biểu hiện ở chỗ khả năng phản ánh chiều sâu của hiện thực. Bức tranh h́nh tượng văn chương thực sự là bức tranh của không gian 3 chiều: cao, sâu, rộng.
- Phương diện vô h́nh, tâm tưởng: Tính vạn năng c̣n ở chỗ bất kỳ phương diện nào của hiện thực văn chương cũng có thể đạt tới. Đặc biệt là phương diện vô h́nh - tâm tưởng. Những ḍng suy tư của con người, một khó khăn của nghệ thuật tạo h́nh, th́ ở văn chương là một lợi thế. Tính vạn năn của văn chương c̣n ở chỗ nhà văn tự do xử lí mối quan hệ thời gian thực tế trong miêu tả, có khả năng miêu tả bất cứ nội dung nào dưới h́nh thức nào.
b. Tính phổ thông
Chất liệu xây dựng h́nh tượng văn chương ngôn từ - phương tiện giao tiếp của xă hội đă làm cho văn chương có tính phổ thông.
- Về mặt sáng tác: Để trở thành nghệ sĩ chuyên nghiệp th́ thật là khó, nhưng có thể nói hầu như người nào cũng có thể làm được vài câu thơ. hơn nữa, phương tiện vật chất phục vụ cho sáng tác văn chương đơn giản nhất so với bất cứ nghệ thuật nào: giấy - viết và thậm chí có khi cũng không cần hai thứ đó nữa. (ví dụ văn chương dân gian hay loại ứng tác)
- Về mặt truyền bá: Văn chương truyền bá rất dễ dàng nhưng lại thâm nhập sâu vào bạn đọc. Phương tiện duy nhất cần thiết cho sự truyền bá là ngôn từ - mà ngôn từ th́ ai cũng có. điều kiện và phương tiện cần thiết cho sự truyền bá cũng thật là đơn giản là những quyển sách hoặc thậm chí không có sách, và bất kỳ ở đâu, lúc nào. Nó khác hẳn sân khấu, điện ảnh, âm nhạc ... là nhũng nghệ thuật mà điều kiện và phương tiện truyền bá có những đ̣i hỏi nhất định và nhiều khi rất phức tạp. - Về mặt tiếp nhận: Yêu cầu quan trọng nhất để tiếp nhận văn chương là ngôn từ, mà ngôn từ th́ ai cũng có. v́ vậy, ai cũng có thể tiếp nhận được văn chương. Kể cả các em bé mới ra đời. mặt nữa, bạn đọc có thể lựa chọn những cung bậc và nhịp độ tùy thích và thời gian tùy thích.
III. VĂN CHƯƠNG VỚI CÁC LOẠI H̀NH NHỆ THUẬT KHÁC
1. Vị trí văn chương trong các loại nghệ thuật
a. Sự phân loại các nghệ thuật

Thế giới nghệ thuật vô cùng phong phú. Việc yêu cầu nắm bắt cho được bản chất và quy luật của nghệ thuật khiến người ta phải t́m cách phân chia nó thành từng loại nhất định. xuất phát từ những cơ sở nhất định, người ta đă chia ra các loại nghệ thuật cơ bản sau đây:
- Nghệ thuật không gian và nghệ thuật thời gian (điêu khắc, sân khấu v.v... ), xét theo khách thể của việc phản ánh.
- Nghệ thuật tạo h́nh và biểu hiện (như hội họa, điêu khắc, kiến trúc, vũ đạo, v.v... ), xét theo chủ thể nhận thức - trực tiếp hay gián tiếp của việc biểu hiện tư tưởng và t́nh cảm.
- Nghệ thuật động và nghệ thuật tĩnh (kiến trúc, điêu khắc, nhảy múa, âm nhạc v.v... ), xét theo góc độ h́nh tượng của chúng đứng im hay vận động và đối tượng của chúng.
- Nghệ thuật thị giác và nghệ thuật thính giác (hội họa, điêu khắc - âm nhạc v.v... ), xét theo góc độ những đặc điểm của sự cảm thụ cảm tính, thẩm mĩ. - Nghệ thuật đơn nhất và nghệ thuật tổng hợp (điêu khắc, hội họa - sân khấu điện ảnh) dựa vào chất liệu xây dựng h́nh tượng đơn hay đa chất, và vân vân. Có hàng loạt cách phân chia loại h́nh nghệ thuật. nhưng nhu đă nói, người ta thật khó xếp văn chương vào loại nghệ thuật nào và thường khi người ta xếp văn chương thành một ô riêng, người ta đặt văn chương bên cạnh nghệ thuật (văn chương và nghệ thuật). phải chăng cách đối lập đó vừa thấy được sự khác biệt vừa thấy được sự hơn hẳn của văn chương đối với các nghệ thuật khác! Đánh giá cao vai tṛ của văn chương, Biélinski coi văn chương là loại nghệ thuật hàng đầu. Thơ ca là loại nghệ thuật tối cao ... v́ vậy, thơ ca bao hàm trong bản thân nó tất cả mọi yếu tố của các nghệ thuật khác, dường như nó bất ngờ sử dụng được một cách hữu cơ mọi phương tiện khác nhau của các nghệ thuật khác. Thơ ca chính là toàn bộ chỉnh thể của nghệ thuật... Tính h́nh tượng gián tiếp và tính tư duy trực tiếp của h́nh tượng văn chương do chất liệu ngôn ngữ đưa lại đă làm cho văn chương có những chỗ mạnh nhưng đồng thời so với các nghệ thuật khác, văn chương cũng bộc lộ những chỗ yếu của ḿnh: ư kiến của Biélinski đă đánh giá rất cao chỗ mạnh của văn chương nhưng có phần cực đoan, phiến diện: không thấy được chỗ yếu của văn chương(chẳng hạn tính phi vật thể của h́nh tượng) và khiến cho người ta nghĩ rằng văn chương có thể thay thế được tất cả.
b. Văn chương là nghệ thuật tối cao
Nh́n một các tổng quát, văn chương hơn hẳn các nghệ thuật khác trên những mặt sau đây:
- Khả năng bao quát cả chiều rộng lẫn chiều sâu của hiện thực. Văn chương có khả năng rộng lớn để phản ánh toàn diện cuộc sống (không chừa một phạm vi nào). Đồng thời nó thể hiện một cách đầy đủ và chính xác về hiện thực; đặc biệt là tính xác định cụ thể cao trong việc thể hiện tâm trạng, cảm xúc, t́nh cảm tư tưởng. - Từ khả năng bao quát hiện thực rộng lớn ấy, văn chương có khả năng to lớn trong việc tác động tới bạn đọc. - Khả năng xuất bản và lưu hành cũng vô cùng rộng lớn. Người ta có tể xuất bản một số lượng cực kỳ lớn.
- Văn chương tác động và ảnh hưởng mạnh mẽ đến các nghệ thuật khác. Các h́nh tượng văn chương thường có cuộc sống thứ 2 với nghệ thuật biểu diễn: sân khấu, đọc trên đài phát thanh, trên truyền h́nh, nhà hát, rạp chiếu bóng, điêu khắc hội họa, âm nhạc, vũ đạo v.v...
- Có nhiều ngành nghệ thuật đă mượn chất liệu ngôn từ của văn chương, ví dụ: hội họa, sân khấu, điện ảnh v.v... cái yếu của văn chương là thiếu tính cụ thể vật thể - trực tiếp. Người ta không nghe, nh́n và sờ nắn các h́nh tượng văn chương được. Cái yếu khác là văn chương lại phải dịch. Ngoài ra văn chương ra, không có nghệ thuật nào phải dịch cả. Vậy th́, tóm lại, văn chương xếp thứ mấy trong hàng các nghệ thuật? Vấn đề là cần phải xem xét một cách lịch sử trong sự phát triển của nghệ thuật.
- Thời xa xưa, nghệ thuật đang chung đụng với nhau- nghệ thuật nguyên hợp th́ vũ đạo và phỏng h́nh là hàng đầu.
- Thời cổ đại th́ tạo h́nh (chủ yếu kiến trúc và điêu khắc) giữ vị trí chủ đạo.
- Thời phục hưng và chủ nghĩa cổ điển th́ hội họa là nghệ thuật hàng đầu.
- Thế kỷ XIX - XX vai tṛ hàng đầu là văn chương.
- Ngày nay trong điều kiện khoa học kỹ thuật phát triển, nhiều ngành nghệ thuật hiện đại giàu tính đại chúng ra đời: điện ảnh, truyền thanh, văn chương, vẫn giữ vị trí quan trọng nhất nh́ của nó.
2. Quan hệ giữa văn chương và các nghệ thuật
Người ta thường đối lập văn chương với các loại h́nh nghệ thuật khác. Điều này chỉ ra rằng văn chương khác xa với các loại h́nh nghệ thuật, tuy vậy, văn chương vẫn có những quan hệ nhất định, thậm chí quan hệ gắn bó khăng khít. Đặc biệt có những ngành nghệ thuật không thể tồn tại được nếu thiếu sự hỗ trợ của văn chương.
a. Văn chương với hội họa
Nghệ thuật tạo h́nh gồm có hội họa, đồ họa, điêu khắc, nhiếp ảnh nghệ thuật. Đặc điểm của chúng: phản ảnh hiện thực thông qua sự tái hiện h́nh tượng các h́nh thức thấy được của hiện thực, đều thể hiện diện mạo các sự vật và hiện tượng của thế giới khách quan, diện mạo con người, thể hiện toàn bộ tính muôn vẻ của các sự kiện và quá tŕnh cuộc sống được cảm nhận bằng thị giác. Nghệ thuật tạo h́nh c̣n được gọi là nghệ thuật thị giác (trong tạo h́nh, hội họa là ngành tiêu biểu). Việc thể hiện trực tiếp toàn bộ tính muôn h́nh muôn vẻ của các hiện tượng được cảm thụ cảm tính: các sự vật, đường nét, màu sắc, h́nh khối, dáng vẻ của thế giới bên ngoài đă làm cho nghệ thuật tạo h́nh nói chung và hội họa nói riêng có ưu thế về phía tác động trực tiếp, xác thực, cụ thể đến người tiếp nhận. Về phương diện này, văn chương có những hạn chế nhất định. nhưng, nhà văn cố phấn đấu làm cho h́nh tượng của ḿnh đạt được tính tạo h́nh. Người ta đă xem các h́nh tượng văn chương là những bức tranh. Bằng ngôn từ, văn chương có thể khắc họa rơ nét những hiện tượng riêng lẻ của thế giới. (Song sự khắc họa này diễn ra thông qua sự liên tưởng, thông qua kinh nghiệm sống của người tiếp nhận). Ở đây cần lưu ư rằng: văn chương không chỉ đơn thuần là vẽ bằng ngôn từ về các sự vật hiện tượng mà người vẽ c̣n thể hiện trực tiếp cả thái độ của ḿnh về đối tượng, hơn nữa, văn chương không xem yếu tố tạo h́nh, yếu tố khắc họa là yếu tố tự quyết, tiên quyết. Văn chương có ưu thế trong việc thể hiện sự vận động, sự phát triển và sự thay đổi đang diễn ra của thế giới, ngay cả những hiện tượng tưởng như đứng im, không vận động của thế giới. Chẳng hạn, miêu tả sắc đẹp của người phụ nữ. nếu như hội họa cố gắng miêu tả tỉ mỉ về sắc đẹp chân dung một phụ nữ th́, văn chương lại không đi theo con đường của hội họa mà kể lại ấn tượng do vẻ đẹp đó dấy lên ở những người xung quanh. Vẻ đẹp ở đây được thể hiện dường như ở trong trạng thái vận động, trong hành động. Nguyễn Du miêu tả vẻ đẹp, tài sắc của chị em Kiều theo kiểu đó:
- Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang
- Một hai nghiêng nước, nghiêng thành
Hội họa t́m cách khắc phục mặt tĩnh tại của ḿnh bằng cách thể hiện những t́nh huống điển h́nh, khoảng khắc tiêu biểu từ toàn bộ quá tŕnh phát triển của sự vật và hiện tượng. H́nh tượng nghệ thuật tạo h́nh cũng mang tính thời gian, tính vận động, v́ bản thân nó là sự thể hiện một thời điểm nhất định của sự vận động và phát triển của sự vật. nó dừng lại ở một khoảnh khắc nhất định để giúp người tiếp nhận nh́n thấy được kỹ lưỡng hơn cái được miêu tả. Sự ảnh hưởng lẫn nhau giữa văn chương và hội họa khá đa dạng. Trước hết là ở chỗ chúng học tập lẫn nhau các biện pháp, thủ pháp nghệ thuật. Chẳng hạn, văn chương sử dụng biện pháp hài sắc, độ sáng tối, luật cận - viễn. Tác giả dân gian đă dùng các màu sắc các màu sắc để vẽ nên màu sắc của sen: Lá xanh, bông trắng lại chen nhị vàng Cũng có thể chỉ dùng một thứ màu:
Tổ quố c tôi chưa đẹp thế bao giờ
Xanh núi, xanh sông, xanh đồng xanh biển
Xanh trời, xanh của giấc mơ.
Cũng có thể phối hợp màu sắc (hài sắc):
Một vùng cỏ mọc xanh ŕ
Nước ngâm trong vắt, thấy ǵ nữa đâu.
Phối hợp xa gần (luật viễn cận):
Vẻ non xa, tấm trăng gần ở chung
Hội họa chịu ảnh hưởng của khả năng nêu vấn đề, tính vạn năng của văn chương. Trước đây chức năng minh họa của hội họa được đề cao, nhưng do tác động của văn chương và nhiều ngành nghệ thuật khác mà trong mấy thế kỷ nay bản chất hội họa có thay đổi, tính minh họa bị đưa xuống hàng thứ yếu, điều cốt yếu của hội họa ngày nay là khả năng khái quát nghệ thuật, tính diễn cảm và năng động. Ngoài ra, chúng ta thường thấy là hội họa t́m các chủ đề và đề tài cho ḿnh từ các h́nh tượng văn chương.
b. Văn chương với âm nhạc:
Âm nhạc là nghệ thuật của âm thanh. Đây cũng là một h́nh thức phản ảnh nghệ thuật đặc biệt về hiện thực khách quan. h́nh tượng của nó được tạo dựng từ chất liệu âm thanh. Nó cũng phi vật thể như h́nh tượng văn chương. Nhưng do chất liệu h́nh tượng văn chương là các yếu tố của tư tưởng nên h́nh tượng văn chương vẫn mang tính cụ thể - xác định. C̣n h́nh tượng âm nhạc bị hạn chế ở phương diện này. Người ta đă thử làm thí nghiệm cho nhiều cho nhiều người cùng nghe một khúc nhạc cổ điển rồi yêu cầu mỗi người nghe, giảng giải nội dung tư tưởng của khúc nhạc đó. Người th́ cho đấy là cuộc đời của một cô gái bị hại, người cho đây là truyện một loài hoa bị băo táp quật ngă, người khác cho rằng đó là nói về con bướm nhỏ bị thiêu cháy trong đống than. Như vậy, so với âm nhạc, văn chương, nội dung của nó, không mơ hồ như âm nhạc. Mĩ học tư sản đă xuyên tạc đặc tính này của âm nhạc để đi đến chỗ xem âm nhạc (và kiến trúc) là nghệ thuật không phản ảnh hiện thực, nghĩa là họ phủ nhận nội dung tư tưởng của âm nhạc. Thực ra âm nhạc vừa có thể thể hiện các mặt vật thể của cuộc sống chẳng hạn âm nhạc có chương tŕnh, thanh nhạc. Dựa vào chất liệu âm thanh, âm nhạc có ưu thế thể hiện nhịp độ, nhịp điệu, tính chất của sự vận động và phát triển cuộc sống. Âm nhạc là loại nghệ thuật tác động trực tiếp tới t́nh cảm của con người, thống nhất các t́nh cảm, thông qua cảm xúc mà thể hiện tư tưởng. Văn chương và âm nhạc có sự tác động qua lại lẫn nhau có nguồn gốc sâu xa ngay trong bản thân bản chất của hai loại h́nh nghệ thuật này. văn chuơng, mà đặc biệt làthơ ca, chất nhạc là bản chất của nó. Thơ có thể không có vần nhưng không thể không có tính nhạc. c̣n âm nhạc lại thường sử dụng tính chất phát âm của ngôn từ và ngữ ngôn. Từ xa xưa và cho tới ngày nay, âm nhạc thường sử dụng các tác phẩm văn chương. Tại sao lại như vậy? trước hết, do âm nhạc luôn luôn vươn tới đạt cho được tính xác định, tính sâu sắc trong nội dung tư tưởng của ḿnh. Do đó, nó kế thừa hiện thực đă được lựa chọn, khái quát và nhào nặn của văn chương để tạo ra sự thuận lợi, dễ dàng cho điển h́nh âm nhạc. cũng do hạn chế ở chỗ không thể tự ḿnh thể hiện đầy đủ tính cụ thể, tính vật thể của thế giới, nên âm nhạc phải sử dụng tác phẩm văn chương - cái mà người ta đă biết trước rồi. Âm nhạc dựa vào văn chương c̣n v́ lí do, thơ ca là chất liệu cho thanh nhạc. Những bản nhạc bài hát được phổ từ thơ, nhạc sĩ đă lợi dụng 2 điều quan trọng của thơ ca: tính nhạc và ngôn từ. Âm nhạc ảnh hưởng đến văn chương ở những mặt nào? nếu như tính nhạc của thơ ca đă ảnh hưởng tới âm nhạc, th́ ngược lại, việc phối khí của âm nhạc cũng ảnh hưởng tới văn chương. Nó cung cấp cho văn chương những môtíp đề tài: tiếng đàn Thạch sanh, tiếng đàn Kiều, tiếng hát Trương Chi. Âm nhạc c̣n cung cấp, gợi ư cho văn chương các tứ thơ, ư thơ.
c. Văn chương với điện ảnh
Điện ảnh là ngành nghệ thuật tổng hợp. Ở nó có sự kết hợp của nghệ thuật biểu diễn: biểu diễn, tạo h́nh, biểu hiện. Nghệ thuật điện ảnh có khả năng bao quát rộng răi về thế giới có khả năng tác động mạnh mẽ đến người nhận, tính chất quần chúng rộng răi, tính hiện thực dường như tiếp cận với sự thực. Cơ sở tồn tại của điện ảnh là văn chương. Mọi bộ phim đều được dựng nên dựa trên một kịch bản điện ảnh nhất định - mà thực chất đó là những truyện phim hay các tác phẩm văn chương. So với điện ảnh, văn chương có khả năng bao quát hiện thực cả bề rộng, lẫn bề sâu; khả năng này của văn chương là vô địch. Mọi tác phẩm văn chương khi được chuyển thể sang ngôn ngữ điện ảnh đều không c̣n giữ được cả bề rộng lẫn bề sâu về sức khái quát cuộc sống. Nguyên do là ở chỗ đặc trưng của điện ảnh. Trước hết là do thời gian điện ảnh, thường một bộ phim xem không quá 3 tiếng đồng hồ. C̣n thời gian văn chương th́ vô cùng. Nhưng lí do quan trọng là điện ảnh yêu cầu một sự thống nhất cao của hành động làm nổi bật các tuyến nhân vật và diễn biến cốt truyện. Điện ảnh phải thể hiện thế giới nội tâm của nhân vật thông qua hành động xung đột, thông qua hành vi cụ thể, thông qua các tính cách nhân vật và quan hệ giữa chúng. Điện ảnh không thể tác động tới người tiếp nhận bằng các phương tiện biểu hiện trực tiếp các tư tưởng và t́nh cảm thông qua lời kễ trực tiếp của tác giả như văn chương. Sự tác động trở lại văn chương của điện ảnh trước hết là đặt ra cho văn chương nhiệm vụ viết các kịch bản phim. Mặt nữa, phim là nơi gợi ư cho văn chương và nhiều khi là nguyên nhân thành công cho văn chương. Tùy bút rất hay ấy chính là lời b́nh cho của bộ phim Cây tre Việt Nam, và chắc chắn là gợi ư cho bài thơ Tre Việt Nam của Nguyễn Duy.